1
20:24 ICT Thứ bảy, 25/03/2017
1Chính anh em  là  Muối cho đời,  là Ánh sáng cho trần gian. (Mt 5, 13-14)

MENU

Giáo lý cho người trẻ

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 57

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 56


Hôm nayHôm nay : 6058

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 178444

Tổng cộngTổng cộng : 9687349

Nhạc Giáng sinh

Thông tin Online

Hãy kết bạn với


Trang nhất » Tin tức » SUY NIỆM LỜI CHÚA

Suy niệm các Chúa nhật Mùa Chay năm A

Thứ ba - 28/02/2017 09:36-Đã xem: 97
Hãy đến với nhau trong sự công chính của Đức Giêsu. Sự công chính được biểu lộ trong sự tuân phục ý muốn của Chúa Cha mà thực thi một tình yêu nhằm cứu vớt và giải thoát con người khỏi những hư ảo của tiền tài, danh vọng. Một Tình Yêu từ con tim trong sạch không bóng hình của những cám dỗ hưởng thụ trần tục. Thực thi sứ điệp này giúp các bạn trẻ đang muốn tiến tới đời sống hôn nhân hay đang sống đời gia đình hiểu rằng Gia Đình là nôi của Tình Yêu Thiên Chúa và chỉ tồn tại trong Tình Yêu ấy.
Suy niệm các Chúa nhật Mùa Chay năm A

Suy niệm các Chúa nhật Mùa Chay năm A

CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY A

CON MẮT ĐỨC TIN CỦA ANH MÙ
+++
A. DẪN NHẬP.
 
          Khoa học ngày nay đã thu được những bước tiến đáng kể nhằm phục vụ đời sống con người. Riêng ngành y học đã tìm ra được những phương pháp tân kỳ để khống chế bệnh tất, nhưng bệnh tật cũng chưa giảm được bao nhiêu. Bệnh mù lòa vẫn còn thống trị trên thế giới, hiện nay trên thế giới còn khỏang 13 triệu người mù. Người mù là bệnh nhân rất đáng thương vì họ luôn phải sống trong đêm tối. Không có đức tin, người ta dễ thất vọng trong cảnh sống này. Văn hào Montferland đã tự tử vì không chịu được cảnh sống như vậy.
 
          Đức Giêsu tỏ ra thông cảm với những người ở trong tình trạng xấu số như vậy. Một hôm, đi ngang qua, Ngài thấy một anh mù ngồi ăn xin bên vệ đường. Mặc dầu chưa cần phải xin, Ngài đã nhổ nước miếng xuống đất, nhào thành bùn bôi vào mắt anh, rồi bảo anh hãy đi rửa ở hồ Siloê, anh đã làm và anh được sáng mắt. Chính việc Đức Giêsu chữa bệnh vào ngày Sabbat đã làm cho nhóm biệt phái tức giận, mở cuộc điều tra rộng rãi và cặn kẽ nhằm phủ nhận phép lạ này. Nhưng kết quả là nhóm biệt phái phủ nhận phép lạ, không tin Đức Giêsu, lại còn đi sâu vào sự mù tối; còn anh mù được khỏi bệnh đã cương quyết khẳng định phép lạ này và còn tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Cứu thế :”Lạy Thầy, con tin”.
 
          Mỗi người trong chúng ta đều có hai con mắt để nhìn, để thấy những sự vật chung quanh. Ai không có khả năng trông thấy thì gọi là mù. Tuy nhiên, chúng ta có hai cặp mắt : cặp mắt thể xác và cặp mắt tinh thần hay đức tin. Cặp mắt thân xác chỉ cung cấp cho chúng ta  được cái nhìn của lòai người, chỉ thấy những gì tỏ lộ ra bên ngòai như trường hợp ông Samuel xức dầu cho Eliab một người cao lớn khỏe mạnh theo cặp mắt xác thịt của ông. Còn cặp mắt đức tin cung cấp cho chúng ta cái nhìn của Thiên Chúa như trường hợp ông Samuel biết xức dầu cho Đavít; và anh mù nhờ cặp mắt đức tin mà nhận ra và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa. Cặp mắt đức tin này quan trọng hơn vì nó giúp chúng ta xem điều gì đẹp lòng Chúa (Ep 5,9).
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
 
          + Bài đọc 1 : 1Sm 16,1b.6-7.10-13.
 
          Lúc đầu dân Do thái chỉ có các phán quan cai trị, dân chúng muốn tìm cho mình một ông vua để cai trị. Vị vua đầu tiên được chọn là Saul, nhưng vị vua này chỉ giải quyết vụ việc theo quan điểm chính trị và ý riêng hơn là ý Chúa, nên Chúa bỏ ông và thay thế bằng một vị vua khác đẹp lòng Ngài hơn.
 
          Chúa truyền cho ông Samuel đến nhàø ông Giêsê để xức dầu phong một người khác làm vua. Giêsê có 8 người con trai, lúc đầu ông xức dầu cho Eliab, một người cao lớn khỏe mạnh, nhưng Chúa không đồng ý và bảo :”Không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng nhìn thế, bởi vì người phàm chỉ trông thấy điều lộ trước mắt, còn Giavê trông thấy điều ẩn kín trong lòng (1Sm 16,7). Sau cùng, Samuel chọn Đavít để xức dầu, một đứa con nhỏ nhất mà ban đầu Giêsê coi thường, không giới thiệu.
 
          + Bài đọc 2 : Ep 5,8-14.
 
          Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu Eâphêsô hãy từ bỏ nếp sống cũ là sống trong giả dối và tội lỗi để được làm con của ánh sáng; đồng thời hãy sống theo giáo huấn của Đức Kitô là ánh sáng đích thực :
          -“Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em là ánh sáng (c. 8).
          -“Mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật (c. 9).
          -“Anh em hãy nhìn xem điều gì đẹp lòng Chúa (c. 10).
          Lời thánh Phaolô trong bài đọc này :”Hãy thức dậy, đừng mê ngủ nữa”, chính là lời nói với các Kitô hữu hôm nay.
 
          + Bài Tin mừng : Ga 9,1-41.
 
          Trình thuật việc Đức Giêsu chữa mắt cho người mù từ bẩm sinh khá dài. Có rất nhiều chi tiết và mỗi chi tiết có một ý nghĩa riêng. Các thánh Giáo phụ đã cắt nghĩa nhiều về vấn đề này,  nhất là việc “lấy bùn hòa nước bọt xức mắt người mù”. Nhưng tựu trung, tất cả mọi hành vi đó là dấu chỉ để mọi người tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Nhờ tin như thế mà người ta có sự sống.
 
          Như vậy, cùng một lúc Đức Giêsu làm hai phép lạ : chữa cặp mắt thể xác cho anh mù có cái nhìn của lòai người, và chữa cặp mắt đức tin cho anh này có cái nhìn Thiên Chúa. Trong hai phép lạ chữa mắt thì việc chữa mắt đức tin quan trọng hơn vì nhờ cặp mắt này mà người mù đã nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa và đã tuyên xưng :”Lạy Thầy, con tin”, rồi anh sấp mình trước mặt Ngài (Ga 9,37).
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                Xin cho con sáng mắt sáng lòng.
I. ĐỨC GIÊSU CHỮA LÀNH NGƯỜI MÙ.
 
          Bài Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chữa một người mù tự thuở mới sinh. Mới nghe qua, chúng ta thấy không có vẻ gì khác  với các phép lạ khác mà Đức Giêsu đã làm. Tuy nhiên, đối với thánh Gioan, việc Đức Giêsu làm phép lạ không chỉ đơn thuần là một phép lạ, nhưng đó là một dấu chỉ, để từ đó khơi dậy niềm tin và củng cố niềm tin cho các tông đồ và cả chúng ta ngày hôm nay. Điều này đã được chính vị thánh sử quả quyết trong lời kết sách Tin mừng của mình :”Các điều đã viết đây, là để anh em tin rằng : Đức Giêsu chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa; và bởi tin thì anh em được có sự sống nhờ danh Ngài” (Ga 20,31).
 
          Thánh Gioan với một ngòi bút rất linh động đã mô tả cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người mù từ thuở mới sinh. Câu chuyện gặp gỡ và chữa người mù này có thể được chia làm ba phần :
          1. Sự kiện chữa người mù.
 
          Đi ngang qua, Đức Giêsu nhìn thấy một ngừời mù từ mới sinh ngồi ăn xin bên vệ đường. Các môn đệ cũng thấy thế và nêu lên ngay thắc mắc của các ông cũng như của mọi người Do thái thời bấy giờ vì theo họ, bệnh tật đều do tội mà ra :”Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta” ? Đức Giêsu không trực tiếp trả lời câu hỏi mà chỉ nói :”Chuyện đó xẩy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”.
 
          Thánh Gioan mô tả việc chữa bệnh này  bằng vài dòng vắn tắt, nhưng đầy ý nghĩa tượng trưng :”Nói xong, Đức Giêsu nhỏ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta :”Anh hãy đi đến suối Siloê mà rửa (Siloê có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được”(Ga 9,6-7).
 
          2. Mở cuộc điều tra rộng rãi.
 
          Nhóm biệt phái không tin nên mở cuộc điều tra rộng rãi và cặn kẽ, từ đương sự đến nhữøng người láng giềng và cả cha mẹ đương sự nữa. Nhưng phép lạ quá hiển nhiên không thể chối cãi được vì chính đương sự khẳng định điều đó. Kết quả là : Đức Giêsu là Đấng quyền năng mở mắt kẻ đui mù. Nhưng làm sao họ chấp nhận được ? Vì chấp nhận tức là chối bỏ tất cả tòa nhà đạo giáo  của họ. Nên họ quyết định gạt bỏ  một sự thật hiển nhiên và gây khó dễ cho đương sự. Tuy thế, anh không sợ cường quyền, cương quyết phân bua :”Xưa nay chưa từng nghe nói có ai mở mắt một người mù từ khi mới sinh. Nếu người đó không bởi Thiên Chúa thì không làm được gì”.
 
          3. Đức tin của anh mù.
 
          Vì lập trường cương quyết của anh mù tin vào Đức Giêsu, nên anh bị trục xuất khỏi hội đường. Nhưng Đức Giêsu đâu có bỏ anh ? Ngài xuất hiện với một sáng kiến mới :”Biết họ đã trục xuất anh, Ngài đến gặp anh”. Và cuộc đối thọai với anh mù đã được lành dẫn anh đến việc tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu là “Con Người” :”Lạy Thầy, con tin”, anh tuyên xưng và “sấp mình xuống trước mặt Ngài”.
 
          Qua sự việc này, A. Marchadour giải thích :”Đức Giêsu đã đưa anh qua một giai đọan quyết định, từ một “Giêsu tiên tri” đến một “Giêsu là Con Người”, Đấng Cứu Thế đưa anh vào cộng đồng của thời kỳ cuối cùng… Người mù sấp mình xuống trước “Con Người”, nhận ra thiên tính của Ngài, bởi vì theo thánh Gioan, sự thờ lạy chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa… và danh xưng Chúa (Seigneur) nói lên căn tính thần linh của Đức Giêsu. Nhận ra Đức Giêsu như là Đấng mạc khải cuối cùng của Thiên Chúa, việc thờ lạy Ngài là đỉnh cao của cuộc hành trình của anh mù (Fiches dominicales A, tr 92).
 
          Việc chữa lành người mù này chia ra thành hai hạng người với hai lập trường trái ngược nhau : tin và không tin nhận Đức Giêsu là Chúa.
 
          J. Potin kết luận : “Trong lúc người mù được thấy, người Do thái lại lao mình vào sự mù tối. Những dấu lạ Đức Giêsu làm cho họ thêm cứng lòng. Họ tưởng mình biết vì cho rằng  mình biết Maisen và Lề Luật cấm chữa bệnh vào ngày Sabbat. Thật ra họ từ chối ánh sáng thật. Với Đức Giêsu, thảm trạng này làm thành một trường hợp phải đặt thành “vấn đề” trong tiến trình ý định của Thiên Chúa, bởi lẽ những người không tin, người ngọai tìm thấy ánh sáng cho đức tin vào “Con Người”, trong lúc đó, những kẻ “thấy”, những người Do thái lại trở nên mù tối, bị lóa mắt vì những sự thật giả dối của họ. Đức Giêsu nói :”Vì thế họ ở trong tội lỗi của họ” (Fiches  dominicales A, tr 93).
 
II. CHÚA CHỮA CHÚNG TA KHỎI MÙ TINH THẦN.
 
          1. Nói về bệnh mù.
 
          Tuy khoa học nói chung và ngành y học nói riêng đã đạt được những bước tiến khá cao trong việc chữa các bệnh tật, nhưng chưa đẩy được bệnh mù. Hiện nay trên thế giới có khỏang 13 triệu người mù. Họ bị mù hoặc là do bẩm sinh, hoặc do một tai nạn, hoặc do bệnh tật gây nên.
         
          Bệnh mù cũng có cấp độ :
          - Quáng gà ; bệnh con mắt không phải mù mà không trông thấy rõ khi chập tối, giống như gà vậy.
          - Thong manh : bệnh làm cho mắt không thấy đường tuy con mắt vẫn mở như người thường.
          - Mù tịt : con mắt không trông thấy gì, không những không thấy những vật chung quanh mà lúc nào cũng như ở trong đêm tối.
 
          Khi nói về bệnh mù thì ai cũng hiểu là mù thể xác nghĩa là không trông thấy sự vật chung quanh mình. Nhưng đứng về phương diện thiêng liêng, ta thấy còn bệnh mù nữa là mù tinh thần hay mù đức tin.
 
          Để thấy rõ, chỉ một đôi mắt sáng chưa đủ, bởi vì không chỉ có mỗi một thứ bệnh mù là đôi mắt, mà còn nhiều thứ bệnh mù khác do nhiều nguyên nhân khác nhau :
          Tính ích kỷ làm ta mù không thấy nhu cầu của tha nhân.
          Tính vô cảm làm ta mù  không thấy những việc ta làm đau lòng tha nhân.
           Tính tự phụ làm ta mù không thấy tha nhân cũng có nhân phẩm như mình.
           Tính kiêu căng làm ta mù không thấy khuyết điểm của mình.    
           Những thành kiến làm ta mù không thấy sự thật.
           Sự hối hả làm ta mù không thấy vẻ đẹp của vũ trụ chung quanh.
           Khuynh hướng duy vật làm ta mù  không thấy những giá trị thiêng liêng.
           Sự hời hợt làm ta mù không thấy giá trị thật của con người mà khiến ta hay lên án.
                             (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ A, tr 122)
 
          2. Mù thể xác và mù tinh thần.
 
          a) Bệnh mù thể xác.
 
          Mù thể xác có nhiều cấp độ nhưng nói chung là không thấy rõ hoặc không thấy sự vật ở chung quanh. Anh mù trong Tin mừng hôm nay ngồi ăn xin bên vệ đường có lẽ là người mù tịt không biết Đức Giêsu đi qua, nhưng Ngài động lòng thương cứu chữa anh, đồng thời cũng qua phép lạ  này Đức Giêsu muốn giới thiệu cho các môn đệ : Ngài là ánh sáng trần gian. Ngài nhổ nước miếng trên đất, trộn thành bùn và xức vào mắt anh mù, rồi bảo anh ta :”Hãy đến hồ Siloê mà rửa”. Vậy anh ta đến rửa ở hồ và khi về thì nhìn thấy được.
 
          Anh ta sung sướng vô cùng vì được nhìn thấy sự vật chung quanh. Trước đây người ta kể cho anh nghe đủ mọi thứ chuyện chung quanh nhưng anh ta không có một khái niệm nào về sự vật. Đối với anh lúc nào cũng là đêm tối dầy đặc. Bây giờ anh được trực tiếp ngắm xem cảnh vật, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng kỳ lạ… không cần phải cắt nghĩa cho anh nữa.
 
                                      Truyện : Trời đất đẹp thế này.
          Một bé trai bị mù từ mới sinh. Nhờ một cuộc giải phẫu, em bắt đầu thấy được. Một hôm má em đem em ra khỏi nhà , lần đầu tiên em thấy bầu trời mặt đất. Em kêu lên với mẹ em :”Má ơi, sao trước đây má không kể cho con  là trời đất đẹp đến thế này” ! Người mẹ òa lên khóc, đáp :”Con ạ, mẹ đã cố gắng kể cho con nghe, nhưng con không thể hiểu mẹ”(Arthur Tonne).
 
          Số phận anh mù trong Tin mừng hôm nay đã được thay đổi hòan tòan. Anh xác nhận là anh đã khỏi mù, anh đã được trông thấy. Mọi người láng giềng xác nhận rằng chính anh ta là người mù ngồi  ăn xin ở vệ đường xưa nay, bây giờ được sáng mắt. Đây là một sự thực hiển nhiên không thể chối cãi được.
 
          b) Bệnh mù tinh thần.
 
          Câu chuyện anh mù được chữa khỏi không phải là một câu chuyện đơn giản và hiển nhiên, khiến mọi người phải chấp nhận. Có những người cố tình nhắm mắt lại không chấp nhận sự thật hiển nhiên đó. Họ khẳng định rằng đây không phải là anh mù trước kia, mà là một người nào giống anh ta.
 
          Còn tệ hơn nữa, các biệt phái cố tình bẻ quặp sự thật bằng cách trớ trêu lý luận rằng: ông Giêsu đã chữa mắt cho người mù trong ngày hưu lễ vì luật trong hưu lễ là cấm làm việc. Ai vi phạm là kẻ có tội. Mà kẻ tội lỗi  thì không thể là người bởi Thiên Chúa và không thể làm được phép lạ. Đó là lý luận cứng nhắc đã làm mù mắt người Do thái. Nhưng thực tế vẫn xẩy ra, nghĩa là đã có phép lạ.
 
          Người biệt phái tìm cách chối bỏ sự thật : họ cho người được sáng mắt này không phải là người ăn xin bấy lâu nay; họ cho đòi cha mẹ anh ta đến hạch hỏi, đe dọa đủ thứ, còn anh mù được khỏi bệnh phải trình tòa hai ba lần để xét hỏi. Mục đích của họ là ép anh mù và cha mẹ anh ta  phải chối bỏ cái thực tế được sáng mắt. Tất cả những tình tiết trên có thể đưa đến kết luận rằng người sáng mắt lại là anh mù, còn kẻ mù quáng lại chính bọn biệt phái vẫn tự cho mình thông minh sáng suốt mọi sự.
 
Phần kết của đọan Tin mừng, thánh Gioan đã ghi lại câu nói của Đức Giêsu :”Chính vì để luận xét mà Ta đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy sẽ trở nên mù”(Ga 9,39). Từ sự mù – sáng đôi mắt thể xác, Đức Giêsu đi đến kết luận về sự mù – sáng đôi mắt tinh thần. Quả vậy, người mù được thấy, được sáng con mắt đức tin. Anh đã nhận ra Giêsu : từ một vị ân nhân của mình, đến một tiên tri và tiến một bước dài tin nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Trong khi ấy, người Do thái mà cụ thể là những biệt phái lại đi vào sự mù tối. Họ không nhận ra Giêsu Nazareth là ai, họ chỉ biết đó là một người không tuân thủ lề luật, dám làm việc ngày hưu lễ cho dù đó là việc tốt. Họ đã từ chối ánh sáng thật và cuối cùng đã lên án cho Ngài.
 
          3. Xin cho được “sáng mắt sáng lòng”.
 
          Trong một bài hát nào đó tôi có đọc thấy bốn từ ngữ “sáng mắt sáng lòng” và tôi liên tưởng đến anh mù trong bài Tin mừng hôm nay được Đức Giêsu đã làm cho anh được “sáng mắt sáng lòng”. Anh mù từ mới sinh này được Đức Giêsu chữa cho sáng mắt, với con mắt này anh đã nhìn thấy những vật chung quanh một cách dễ dàng, giải thóat anh khỏi sự tối tăm từ bao lâu nay : anh đã được “sáng mắt”.
 
          Nhưng còn hơn thế nữa, Đức Giêsu còn mạc khải cho anh biết không những Ngài chỉ là một vị ân nhân, một tiên tri và Ngài còn là Con Thiên Chúa. Đức Giêsu đã cho anh cái nhìn bằng cặp mắt đức tin để nhờ cái nhìn đó mà anh đã qùi xuống trước mặt Đức Giêsu (cử chỉ tôn thờ :”Ngươi chỉ được tôn thờ Thiên Chúa mà thôi”) và tuyên xưng :”Lạy Chúa, con tin”(Ga 5,37) : anh đã được “sáng lòng”.
 
          Anh mù hôm nay đã được Đức Giêsu cho được “sáng mắt sáng lòng”. Trong cuộc sống Kitô hữu, chúng ta cũng phải xin Chúa cho được sáng mắt và sáng lòng. Nhìn bằng cặp mắt thể xác là một điều quí, nhưng biết nhìn bằng cặp mắt đức tin còn quan trọng hơn.
 
          Những người chỉ biết tôn thờ vật chất, tiền của, danh vọng, xác thịt… là những người chỉ biết nhìn bằng cặp mắt thể xác để được sáng mắt. Họ có thể giống như con heo khi thấy được thức ăn thì ăn rồi quay ra ngủ, thức dậy rồi lại ăn. Không biết gì khác ngòai việc ăn uống ngủ nghỉ, không biết tới tương lai, khi nào người ta giết thì chết.
 
          Con người được “sáng lòng” là người biết vươn lên cao cho xứng với “linh ư vạn vật”, vươn tới hạnh phúc tuyệt đối là Thượng Đế, biết mình từ đâu tới, sống phải làm gì và hậu thế sẽ ra sao ? Họ cũng phải ăn uống, ngủ nghỉ, nhưng ăn uống có chừng mực, tránh những thức ăn có nguy hại cho tâm hồn để chuẩn bị cho tương lai. Những người này đã dùng cặp mắt đức tin để nhìn sự vật trong cuộc sống hằng ngày.
 
          Trong cuộc sống của Kitô hữu, không những chúng ta phải nhìn bằng con mắt thể xác như mọi người nhưng còn phải dùng con mắt đức tin để thấy những thực tại siêu nhiên và có thể nhìn thấy Chúa. Về vấn đề này, thánh Thêôphilô, Giám mục thành Antiokia, gửi cho Antiôcô có viết :”Nếu bạn nói : “Hãy tỏ cho tôi biết Thiên Chúa của bạn”, thì tôi có thể trả lời : Hãy tỏ cho tôi biết con người của bạn, rồi tôi sẽ tỏ cho bạn biết Thiên Chúa của tôi”. Vì thế, bạn hãy cho biết mắt tâm hồn bạn có nhìn thấy và tai lòng bạn có nghe được không.
 
          Cũng như những người nhìn xem bằng con mắt thể xác  thì nhìn thấy những việc diễn ra trong cuộc sống trần gian này : họ nhìn thấy sự khác biệt giữa ánh sáng và bóng tối, giữa trắng và đen, đẹp và xấu, thanh nhã và thô thiển, cân xứng với bất cân xứng, ngắn với dài. Tai cũng vậy, nó phân biệt được tiếng bổng tiếng trầm, tiếng du dương. Về tai và mắt tâm hồn cũng vậy, chúng có thể nghe và nhìn thấy Thiên Chúa.
 
          Quả thật, Thiên Chúa được nhìn thấy do những kẻ có thể nhìn thấy Ngài nếu họ biết mở con mắt tâm hồn ra. Ai cũng có mắt, nhưng một số người bị mù lòa và không nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Nếu những người mù không nhìn thấy, thì chẳng phải tại ánh mặt trời không chiếu sáng, nhưng người mù phải nhận rằng chính tại mình, tại mắt mình. Đối với bạn cũng thế, mắt tâm hồn của bạn bị mù lòa là do tội lỗi và các hành động xấu xa của bạn (Các bài đọc Kinh sách, tập 2,  tr 106-107) .
 
          Chúng ta có thể kết luận : Con người có cặp mắt thể xác và tinh thần. Cả hai cặp mắt đều quan trọng để nhìn xem. Nhưng nếu có trường hợp đối chọi nhau giữõa hai cặp mắt ấy thì với danh nghĩa là Kitô hữu, chúng ta phải dành ưu tiên cho con mắt tinh thần, nghĩa là tuy bị mù về con mắt thể xác, nhưng lại ngời sáng về con mắt đức tin : Không sáng mắt nhưng sáng lòng !
 
                                       Truyện : Xin được sáng lòng.
          Chuyện kể rằng : có một người mù lúc nào cũng kết thúc lời cầu nguyện của mình bằng câu :”Nếu điều đó có ích cho phần rỗi con”.
 
          Một hôm, người ta dẫn ông đến trước mộ thánh Tôma thành Cantorbéry để xin Người chữa cho ông sáng mắt. Ông được nhận lời. Mắt ông liền mở ra. Cảnh vật tưng bừng reo vui trước mắt ông. Khi nỗi vui mừng đầu tiên trôi qua, ông mới chợt nhớ  là mình đã quên thêm vào lời cầu nguyện câu kết thúc :”Nếu điều đó có ích cho phần rỗi con”.
 
          Ông liền trở lại viếng mộ thánh, và xin được mù trở lại nếu điều đó đem lại lợi ích cho linh hồn ông. Thế là ông lại mù như trước.



CHÚA NHẬT  5  MÙA CHAY A

NIỀM HY VỌNG SỐNG LẠI
+++
A. DẪN NHẬP.
 
          Cổ nhân đã đặt câu hỏi :”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử” : con người từ xưa đến nay ai mà không chết ? Đây là một sự thật hiển nhiên, không ai có thể chối cãi được. Nhưng chết rồi sẽ ra  sao ? Có nhiều ý kiến cho câu hỏi này ? Hòai nam Tử nói :”Sinh ký tử qui” : sống là gửi, chết mới là về. Câu hỏi tiếp : về đâu và để làm gì ? Đó là câu hỏi đòi chúng ta phải suy nghĩ và tìm ra câu giải đáp cho bản thân mình.
 
          Trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Gioan thuật lại việc Đức Giêsu làm cho Lazarô đã chết được sống lại trước mặt nhiều người chứng kiến. Cô Martha và những người chứng kiến đã xác nhận : Lazarô đã chết được 4 ngày và đã nặng mùi rồi. Đức Giêsu đòi cô Marta phải chứng mình cho mọi người thấy là Lazarô đã chết thật và đòi cô phải tin vào Ngài. Sau khi truyền mở cửa mộ, Ngài hô lớn tiếng :”Lazarô, hãy ra đây” ! Lazarô đã chỗi dậy và ra khỏi mồ trước mặt mọi ngườiø. Sau đó Ngài truyền cởi dây băng và khăn liệm cho anh. Qua phép lạ này, Đức Giêsu hé mở cho chúng ta thấy viễn tượng sống lại trong ngày chung thẩm.
 
          Chúng ta đã đi qua được một nửa Mùa chay trong sự hy sinh hãm mình, trong việc sửa đổi con người cũ của mình. Chúa nhật này mở ra cho chúng ta một chân trời hy vọng của Kytô giáo. Chúa Giêsu đã đem đến cho chúng ta niềm hy vọng ấy, đồng thời mời gọi chúng ta hãy hoàn toàn phó thác cuộc sống chúng ta cho Ngài : :”Ai tin vào Ta sẽ không phải chết đời đời”.  Với niềm tin tưởng đó người Kitô hữu chúng ta phải cố gắng sống một đời sống xứng đáng ở trần gian này,  và mạnh dạn đón nhận cùng vượt qua mọi gian nan thử thách trong cuộc sống hằng ngày. Như thế, cuộc sống của chúng ta có một ý nghĩa cao đẹp và lạc quan.
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
 
          Bài đọc 1 : Ez 37, 12-14.
 
                   Dân Israel đang bị lưu đầy ở Babylon. Đối với họ, tương lại hoàn toàn mù mịt. Nhiều người đã tỏ ra thất vọng, sống cho qua ngày, coi mình như đã chết.  Thiên Chúa cho tiên tri Ezéchiel đến yên ủi và báo cho họ biết rằng Ngài sẽ đoái thương họ, Ngài sẽ giải cứu họ và đem họ về quê hương.  Lời loan báo này của tiên tri Ezéchiel đi sau thị kiến đặc biệt về “các bộ xương khô”. Đó là hình ảnh tượng trưng cho Israel.  Các bộ xương sẽ được cơ thịt bao phủ, được thổi hơi làm cho sống lại, trở thành một sinh linh mới.  Lời hứa Phục sinh này mang hai ý nghĩa :
                    a) Phục sinh tinh thần : họ sẽ được hồi hương.
                   b) Phục sinh thể xác.
          Lịch sử dân Israel cho thấy lời hứa phục sinh tinh thần đã được thực hiện vào năm 539.  Còn phục sinh thể xác sẽ diễn ra sau này nơi Chúa Kitô và mọi Kitô hữu.
 
          + Bài đọc 2 : Rm 8,8-11.
 
          Theo thánh Phaolô, con người có hai sự sống : sự sống theo thể xác và sự sống theo Thần Khí. Sự sống theo Thần Khí quan trọng hơn. Mặc dầu thân xác Kitô hữu đã bị dâng cho tử thần vì tội lỗi, nhưng nhờ Phép Rửa, Kitô hữu lại nhận được Thần Khí sự sống và Phục sinh của Đức Kitô :”Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới”(Rm 8,11).
 
          Bài Tin Mừng : Ga 11,1-45.
 
Bài trình thuật việc ông Lazarô sống lại khá dài, có nhiều chi tiết, mỗi chi tiết đều có ý nghĩa, nhưng điểm nổi bật nhất là việc Đức Giêsu  làm cho kẻ chết sống lại, loan báo sự phục sinh thể xác sau này. Việc cứu sống Lazarô là sự phục sinh thể xác  cho chính Lazarô, nhưng việc cứu sống ấy còn báo trước cho chúng ta sự phục sinh thể xác của Chúa Giêsu và của mọi người nữa.
 
          Phép lạ phục sinh Lazarô như là một dấu chỉ : một đàng để làm vinh danh Chúa Cha nơi Người ; đàng khác, để cho các môn đệ tin rằng Người được Chúa Cha sai đến.  Lời tuyên xưng của cô Martha đã nói lên điều ấy :”Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11, 27) và trong số những người Do thái đến thăm cô Maria và được chứng kiến việc Chúa Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người (Ga 11,15).  
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                Chúng ta sẽ được sống lại
I. ĐỨC GIÊSU CHO LAZARÔ SỐNG LẠI.
 
          Câu chuyện Đức Giêsu cho Lazarô sống lại là một trình thuật căn bản của Tin mừng Gioan. Đức Giêsu được mô tả như Ngôi Lời nhập thể, đến trong thế gian để con người được đưa từ bóng tối ra ánh sáng, từ sự chết vào cõi sống, từ đất đến trời. Đức Giêsu Nazareth là một con người huyền diệu và là một Thiên Chúa tòan năng.
 
          1. Đức Giêsu đến Bêtania.
 
          Bêtania ở cách Giêrusalem khỏang 3 cây số. Ở đó có một gia đình gồm ba chị em mà Đức Giêsu quen biết, đó là Martha chị cả, Maria và Lazarô là em út. Mỗi người có một tính tình khác nhau : Martha năng động, lo việc bếp núc và chạy vạy mọi việc trong nhà. Maria thì trầm lặng, ít họat động, thích chiêm mộ. Còn Lazarô, bạn thân của Chúa, đã được mời dự tiệc tại nhà ông Simon tật phong.
 
          Một hôm Lazarô bỗng đau nặng, hai chi em sai người đi báo tin cho Đức Giêsu một cách tế nhị :”Người Thầy yêu đau liệt”. Lúc đó Ngài còn đang đi truyền giáo tại Pêrê bên kia sông Giorđan chưa về. Ngài còn ở lại đó hai ngày nữa vì Ngài đã bảo người đưa tin rằng :”Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó con người sẽ được hiển vinh”. Nhưng dù sao lễ Vượt Qua sắp tới, Ngài cũng cần phải đi Giêrusalem để dự lễ.
 
          Các môn đệ có vẻ ngần ngại vì thái độ thù nghịch của biệt phái mỗi ngày một tăng :”Mới hôm nào bọn Do thái tìm ném đá Thầy mà nay Thầy lại trở về đó sao”? Tuy các ông vẫn còn lưỡng lự, Đức Giêsu mới cho biết rõ :”Lazarô đã chết”. Rồi Ngài cương quyết :”Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông”.
 
          2. Đàm thọai với Martha và Maria.
 
          Khi tới Bêtania thì được tin Lazarô chết chôn được 4 ngày rồi. Nếu tính thời gian ấy thì tròn bốn ngày : đi báo tin Lazarô chết mất một ngày, Đức Giêsu ở lại hai ngày và trở về mất một ngày.
Và theo phong tục Do thái thì chết là chôn ngay : chết sáng thì chiều chôn và chết đêm thì ban mai phải chôn, không được để lâu.
 
          Khi Đức Giêsu tới nơi thì có nhiều người Do thái đang đến chia buồn với gia đình này. Vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Martha đã vội vàng chạy ra đón và thưa ngay :”Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con đã không chết”. Qua lời nói đó, chúng ta có thể đọc rõ tâm trí của Martha. Cô muốn nói rằng :”Lúc được báo tin, sao Thầy không chịu đến ngay ? Bây giờ mới đến thì đã muộn mất rồi”. Ngay sau khi thốt ra những lời ấy, tiếp theo là những lời nói trong đức tin, một đức tin thách thức mọi sự kiện, mọi kinh nghiệm. Cô nói bằng một niềm hy vọng trong tuyệt vọng :”Tuy nhiên, con biết rằng Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy bất luận điều gì Thầy cầu xin”.
 
          Để yên ủi cô, Ngài phán :”Em con sẽ sống lại”. Martha nói lên niềm tin của mọi người Do thái thời đó :”Con biết ngày tận thế em con sẽ sống lại” Đức Giêsu cho cô Martha biết Ngài sẽ cho Lazarô sống lại nhưng đòi ở nơi cô lòng tin mạnh mẽ.
 
          3. Lazarô được sống lại.
 
          Đức Giêsu hỏi :”Đã an táng Lazarô ở đâu” ? Các cô dẫn Ngài đến mộ. Đứng trước cửa mộ, Đức Giêsu truyền mở cửa mộ ra, nhưng người ta trả lời :”Thưa Thầy, nặng mùi rồi vì đã 4 ngày”. Chúa đòi Martha xác nhận  cho mọi người biết là em mình đã chết thực sự và đã bắt đầu thối. Trước khi làm phép lạ Chúa đòi cô phải có lòng tin mạnh mẽ vào Ngài.
 
          Sau khi hòn đá che cửa mộ được cất ra, Đức Giêsu lớn tiếng gọi :”Lazarô, hãy ra đây”. Người chết liền đi ra trước mặt mọi người, chân tay còn quấn băng và mặt còn phủ khăn liệm. Ngài ra lệnh cởi băng cho ông.
 
          Kết quả : một số đông người chứng kiến đã tin theo Đức Giêsu, nhưng còn một số đi báo tin cho nhóm biệt phái, những người luôn là đối thủ của Ngài.
 
          Có lẽ đây là một phép lạ lớn nhất mà Gioan thuật lại trong Tin mừng của ông. Làm cho kẻ chết sống lại là làm chủ cả sự chết lẫn sự sống. Nếu so sánh việc làm cho con gái ông Giairô và cậu con trai bà góa thành Naim vừa chết chưa thối thì phép lạ này hòanh tráng hơn nhiều và củng cố niềm tin cho những người chứng kiến.
 
          Trong câu chuyện này, cả Martha lẫn Maria đều được mời gọi tiến triển thêm. Martha đã có đức tin ở một mức độ nào đó, đức tin Do thái :”Con biết rằng em con sẽ sống lại vào ngày tận thế”. Đức Giêsu mời cô tiến thêm một bước :”Ta là sự sống lại và là sự sống. Con có tin điều đó không”? Phải tiến từ đức tin vào sự sống lại ngày tận thế đến đức tin vào lời Đức Giêsu Đấng ban sự sống ngay hôm nay cho những ai tin vào Ngài. Đó chính là mục đích của phép lạ này :”Lạy Cha, Con tạ ơn Cha đã nhận lời Con… Con nói ra đây chính là để cho đám đông chung quanh Con đây tin rằng Cha đã sai Con” (Fiches dominicales A, tr 102).
 
 
II. NIỀM TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI.
 
          1. Tin vào Lời Chúa.
 
          Một quá trình dài tường thuật, chuẩn bị phép lạ cho Lazarô được sống lại, cho chúng ta thấy rằng mục tiêu chính yếu của đoạn trích Phúc âm Gioan 11,1-45 không phải là sự sống lại thể xác của Lazarô, nhưng chính là một “tiến trình niềm tin”cho những người vây quanh ĐứcGiêsu  và cho chúng ta hôm nay.
 
          Đức Giêsu ngước mắt lên trời cảm tạ Chúa Cha không có mục đích cầu xin để làm cho Lazarô được sống lại nhưng có mục đích củng cố niềm tin cho các môn đệ, cho chị em Martha và Maria cũng như cho những người đến chia buồn với chị em.
 
          Tất cả bài học, lời dạy của Đức Giêsu hôm nay đều tập trung trong hai câu 25 và 26. Đức Giêsu đã mang lại cho chúng ta một mạc khải nền tảng :”Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25-26). Chính niềm tin vào Đức Kitô là một bảo đảm tuyệt đối để được sự sống muôn đời.
 
          Phép lạ cho Lazarô sống lại chỉ là chuẩn bị cho một phép lạ vô cùng lẫy lừng, một phép  lạ trọng đại nhất trong đạo, chính là Đức Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại vinh quang mà chúng ta sẽ cử hành trong Tuần thánh sắp đến. Đức Kitô chết và sống lại là để dẫn đưa con người từ cõi chết trở về cõi sống, tự nơi tạm bợ đến chốn vĩnh hằng. Đó là niềm tin của người tín hữu, cũng là đức tin của Kitô giáo. Niềm tin đó bảo đảm cho sự trường tồn của Giáo hội. Thánh Phaolô nói :”Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em  thật hão huyền và anh em vẫn còn sống  trong tội lỗi của mình” (1Cr 15,17).
 
          Trong kinh Tin kính, chúng ta tuyên xưng :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại...” Chính là trên cơ sở phải tin Đức Kitô đã phục sinh..  Sứ điệp Phục sinh không đem đến cho chúng ta những thực tế dễ dàng, hấp dẫn, dựa trên cở sở những kinh nghiệm khả giác và kỳ lạ, nhưng cho chúng ta một nhận thức về một mạc khải, một lời hứa : mạc khải Đức Giêsu đã chiến thắng sự chết và lời hứa mà Ngài có quyền hội nhập chúng ta vào sự chiến thắng đó.
 
          2. Người đời nghĩ thế nào ?
 
          aMọi người đều phải chết.
 
          Người ta công nhận rằng mọi người trên thế gian này đều phải chết, đây là một công lệ khắt khe buộc con người phải theo, dù muốn dù không. Vì thế cổ nhân đã nói :
 
                             Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
                             Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
                                       (Văn thiên Trường)
                             Ngày xưa, người thế ai không chết,
                             Chết, để lòng son rạng sử xanh.
 
          Mọi người cũng đều công nhận là đời sống rất mong manh : Sinh hữu hạn, tử bất kỳ. Nhưng triết lý về cuộc sống của mỗi người lại khác nhau, mỗi người có một cái nhìn, một nhân sinh quan về đời sống. Có người có cái nhìn lạc quan, có người lại có cái nhìn bi quan.  Có người tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống, có người coi cuộc sống là phi lý, là vô nghĩa như trường hợp của những người theo triết thuyết hiện sinh vô thần.  Có lẽ họ thích sống theo triết lý người La mã xưa :”Hãy ăn nhậu cho say, vì ngày mai bạn có thể chết”.
 
          Tâm lý con người : tham sinh húy tử.
 
          Đúng như vậy, con người ai cũng thích sống và ai cũng sợ chết. Đó là mối bận tâm muôn thuở của nhân loại.  Đã là qui luật là qui luật : mọi người đều phải chết. Nhưng khi con người biết sống thì không sợ cái chết nữa, hay ít là coi nhẹ cái chết :
 
                             Nhân cố hữu nhất tử,
                             Tử hoặc trọng ư Thái sơn,
                             Hoặc khinh như hồng mao.
                             (Người đời ai cũng vẫn phải chết
                             Nhưng có cái chết nặng như núi Thái sơn
                             Có cái chết nhẹ như lông hồng).
 
          b) Chết rồi sẽ ra sao ?
 
          Đối với những người không có đức tin thì câu hỏi chết rồi sẽ ra sao thì không thành vấn đề. Theo họ, chết là hết. Chết là kết thúc cuộc sống ở trần thế này và sẽ trở về hư không.
          Nhà văn Nhất Linh, một ngày bâng khuâng, ông tự hỏi mình :
          - Chết rồi sẽ ra sao nhỉ ?
          Nghĩ ngợi một chốc, rồi ông lại tự trả lời lấy :
          - Hồi Hai Bà Trưng, tôi chưa ra chào đời. Thế khi ấy tôi ở đâu ?  Chết, tức là trở về tôi hồi ấy vậy.
          Nói cách khác, định mệnh bắt tôi phải đầu hàng thần Chết vô điều kiện. Tôi đã bởi hư vô mà có, thì chết rồi, tôi lại rơi vào cõi hư vô.
          Thảo nào mà một nhà thi sĩ lương dân đã phải khóc lên não nuột khi tưởng nhớ đến giây phút tủi nhục này :
                             Nhưng mà tôi sẽ chết than ôi !
                             Tôi run như lá, tái như đông,
                             Trán chảy mồ hôi, mắt lệ phồng,
                             Năm đẩy tháng dồn tôi đã đến
                             Trước bờ lạnh lẽo cõi hư không.
                                       (Xuân Diệu)
 
          Đối với một số người, không những chết là hết nhưng chết còn là một nỗi tuyệt vọng khủng khiếp.  Karl Marx, ông tổ thuyết mac-xít vô thần, trong một bức thư viết cho người bạn của ông là Lassanler đã nói về cái chết của đứa con mình như sau :
“Cái chết của đứa con trai tôi đã làm cho tôi đảo điên. Lúc nào tôi cũng cảm thấy như cái chết ấy mới xẩy ra ngày hôm qua thôi. Còn vợ tôi thì hoàn toàn ngã gục vì biến cố này”.
          Ai trong chúng ta cũng cảm thông được với nỗi đau đớn tột cùng này của ông tổ thuyết Mac-xít vô thần. Cái chết là một mất mát mà không gì có thể lấp đầy được. Sự mất mát ấy lại càng khủng khiếp hơn khi con người không còn một niềm hy vọng nào vào cuộc sống mai hậu. Chối bỏ cuộc sống mai hậu cũng có nghĩa là tự đọa đầy mình vào một nỗi tuyệt vọng khủng khiếp nhất (D. Wahrheit, Phép lạ trong cuộc đời, tr 257).
 
          Nếu không còn niềm tin nào vào cuộc sống mai hậu thì người ta dễ đi đến những kết luận bi quan, muốn tận hưởng trước khi chết để đi vào hư vô :
                             Người ơi, tận hưởng đi mùi thế tục,
                             Trước ngày tan nát cõi tha ma.
                                            (Omar)
 
          3. Chúng ta nghĩ thế nào ?
 
          Chúng ta hãy tin nhận Lời Chúa. Thiên Chúa là Đấng chân thật vàøtrung thành với lời hứa. Tin vào Chúa sẽ không bị đi lầm đường :”Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”. (Ga 11,25-26). Tuy đã tin vào Chúa, nhưng đức tin không miễn trừ cho chúng ta  những thử thách khổ đau trong tang chế, trong sự từ bỏ mình hằng ngày và sự sợ hãi đối với sự chết, nhưng niềm tin của chúng ta chấp nhận để hiểu biết và sống trong những hoàn cảnh hiện tại theo ánh sáng của sự sống cao thượng hơn mà Đức Giêsu đã dạy và chính Ngài là nguyên nhân của sự sống cao thượng đó.
 
          a)  Mọi người đều phải chết.
 
          Kinh nghiệm cho chúng ta thấy trên trần gian này không có ai sống trường sinh bất tử. Tuy khoa học va øcách riêng ngành y học đã đạt được đỉnh cao nhưng người ta chưa tìm ra được một phương cách nào để con người được sống mãi.
 
                                      Truyện : thuốc trường sinh.
          Thời chiến quốc, có người dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng vị thuốc vào, viên quan canh cửa hỏi rằng :
          - Vị thuốc này có uống được không ?
          Người ấy đáp :
          - Uống được.
          Tức thì viên quan giật lấy mà uống. Chuyện đến tai vua. Ông liền bắt viên quan đem giết. Viên quan kêu rằng :
          - Thần đã hỏi người đem dâng thuốc.  Người ấy nói rằng :”Uống được”, nên thần mới dám uống.  Thế là thần vô tội mà lỗi ở người dâng thuốc. Vả chăng, người đem dâng thuốc nói là thuốc bất tử. Thế mà thần mới uống vào đã sắp phải chết, vậy là thuốc tử chứ sao gọi là thuốc bất tử được ?  Nhà vua giết thần, thực là bắt tội một người vô tội. Hơn nữa, còn chứng tỏ rằng thiên hạ dối được nhà vua mà nhà vua vẫn tin.
          Vua nghe nói có lý, bèn tha cho viên quan ấy, không giết ông nữa.
 
          bChết chưa phải là hết.
          Nhà triết học Heiddeger đã nói :”Nếu chết là hết, thì người đời luôn luôn sống trong lo sợ. Bởi vì biết rằng mình sẽ chết, vậy sẽ trở về cõi hư vô, thì tức là đã mang hư vô trong mình rồi. Sống làm gì nữa để ngày mai rơi vào cõi hư vô”.
 
          Thánh Phaolô đã xác quyết với chúng ta :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).
 
          c) Chết đi để sống lại.
 
          Một điều chắc chắn là sự chết dẫn ta đến sự sống lại. Lẽ dĩ nhiên chết không phải là điều tốt, nhưng nó là đoạn đường ta phải vượt qua để đi từ cuộc sống đời tạm này qua cuộc sống vĩnh cửu.  Sự chết không phải là sự chết đơn thuần, không phải là con đường cụt, không lối thoát. Thiên Chúa không yêu thương chúng ta vô ích, không dựng nên ta để rồi biến ta ra hư vô. Chúa yêu thương ta vô hạn, đã ban chính Con Một của Ngài cho ta không phải  để cho ta thấy ta biến vào hư vô sau cái chết, nhưng để ta được sống lại và được kết hợp với Ngài.
                             (Lm Đỗ thanh Hà, báo Lên đường)
 
          Chúng ta tin là có sự sống lại trong ngày sau hết như Chúa đã báo trước. Chúng ta cũng tuyên xưng đức tin trong kinh Tin kính :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy”.   Tuy thế vẫn có những người không tin.
 
                             Truyện : Không có sống lại.
          Ở một nghĩa địa bên Đức, có một ngôi mộ lớn và đẹp, xây bằng đá hoa cương và bê tông cốt sắt. Đó là mộ của một bà giầu có và vô thần, trong chúc thư bà muốn xây như vậy để chối bỏ sự sống lại. Bà còn muốn trên ngôi mộ phải đề dòng chữ này : ngôi mộ này sẽ không bao giờ mở ra được.
          Thời gian trôi qua, tình cờ một hạt giống rơi xuống, mọc cây, rễ của nó ăn vào mộ và xuyên thủng quan tài của bà.  (Theo Veritas ngày 27.07.1993).






CHÚA NHẬT LỄ LÁ, A

THÔNG CẢM VỚI CHÚA
+++
A. DẪN NHẬP.
 
          Hôm nay chúng ta bước vào Tuần thánh, kỷ niệm cuộc tử nạn và Phục sinh của Chúa Giêsu Kitô. Tuần thánh được khai mạc bằng nghi thức làm phép lá và cuộc rước lá.  Đây là những ngày cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu. Tất cả những việc làm của Chúa Giêsu trong tuần thánh này đều diễn tả tình yêu của Chúa Giêsu đối với chúng ta : Ngài lập bí tích Thánh thể là bí tích yêu đương, Ngài hiến trọn thân xác mình làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta.  Ngài còn dùng cái chết nhục nhã trên thập giá để cứu chuộc chúng ta, một hành động diễn tả tình yêu đến tột cùng . Nhưng sau cái chết nhục nhã trên thập giá, Ngài sẽ sống lại vinh quang để đem lại cho chúng ta sự sống mới và bảo đảm phúc trường sinh.
 
          Hôm nay là Chúa nhật Lễ Lá và Thương Khó, chúng ta bước vào những ngày mà nỗi khổ đau của Đức Giêsu lên đến cực điểm. Đây chắc chắn phải là những ngày cuộc đời làm sáng tỏ hơn  hết tình yêu Chúa đối với chúng ta. Chính Ngài đã chẳng nhói :”Bằng chứng lớn lao nhất của tình yêu đối với bạn hữu là chết cho bạn sao” ? Ngài đã chết cho chúng ta và chết trên thập giá ! Chúng ta có thấu hiểu mầu nhiệm của tình yêu này không ? Lời Chúa tiên báo :”Khi nào Ta được đưa lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi sự lên cùng Ta” có hấp dẫn được tâm hồn chúng ta không  ?
 
          Chúng ta hãy dùng tuần lễ này để thông cảm với Đức Giêsu bằng việc suy niệm sự thương khó của Ngài để biết theo gương Ngài đi theo con đường Ngài đã chỉ vẽ : đường thập giá :”Nếu ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”.  Đồng thời chúng ta hãy vui vẻ đón nhận mọi đau khổ trong đời sống hằng ngày để thông hiệp vào sự thương khó còn thiếu sóttrong cuộc tử nạn của Ngài để đem lại ơn cứu độ cho chúng ta và nhiều người khác.
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
 
          Bài đọc 1 : Is 50, 4-7).
 
          Ngôn sứ Isaia có 4 bài ca về Người Tôi Tớ đau khổ.  Bài ca hôm nay là bài ca thứ ba. Người tôi tớ Thiên Chúa này là một tôi tớ nào đó, được Isaia diễn tả với những đặc tính sau đây :
          a) Người tôi tớ Thiên Chúa luôn trung thành với nhiệm vụ được giao phó nên đã chấp nhận tất cả : sự bách hại, tra tấn, phỉ nhổ, cô đơn.
          b) Người tôi tớ nhẫn nhục chịu đựng, không dùng bạo lực chống bạo lực.
          c) Người tôi tớ tin tưởng phó thác cho Thiên Chúa là Đấng sẽ đến giải thoát mình.
 
Bài đọc 2 : Pl 2, 6-11.
 
          Chúa Giêsu đươc coi như người Tôi tớ mà Isaia đã loan báo trước.  Nơi Người có hai sự tương phản rõ rệt : sự tự hạ phi thường và chiến thắng vinh quang.  Theo thánh Phaolô, Đức Giêsu có thể  là một Đấng Messia chiến thắng buộc mọi người phải nhận uy quyền của mình. Thế nhưng, Ngài lại muốn hạ mình làm một người tôi tớ, hạ mình đến tận cùng để phục vụ.  Những ai càng hạ mình càng được nâng lên, sự hạ mình khiêm tốn của Chúa Giêsu đã được đền đáp : Thiên Chúa đã tôn Ngài lên làm Đức Chúa của muôn loài muôn vật.
 
          Bài Tin Mừng : Mt 26,14-27,66.
 
          Chúng ta có bốn bài tường thuật cuộc thương khó của Đức Giêsu trong Tin Mừng của bốn thánh ký. Mỗi bài tường thuật đều có bố cục giống nhau nhưng mỗi tác giả chú trọng vào một ý làm cho nó nổi bật lên :
          . Marcô chú trọng vào mục đích truyền giáo.
          . Luca nhấn mạnh vào tình thương yêu của Chúa.
          . Gioan làm nổi bật sự tự do chấp nhận của Chúa, đồng thời cũng nói lên vương quyền của Ngài.
          . Matthêu trình bầy đầy đủ hơn cả.  Bài thưong khó này được coi như bài giáo lý dành cho những người Do thái để họ biết Đức Giêsu là ai.
 
          Bài tường thuật cuộc thương khó của Đức Giêsu là một bằng chứng hùng hồn về tình yêu của Ngài đối với chúng ta ; đồng thời cũng là một thiên anh hùng ca về lòng cam đảm và tinh thần hy sinh chịu đựng, cũng như thái độ khoan dung thứ tha của Ngài. Suy niệm cuộc thương khó của Chúa sẽ giúp chúng ta biết  can đảm đón nhật mọi gian nan thử thách  trong cuộc sống để góp phần vào công cuộc cứu chuộc của Ngài.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.                                                                                                                                     Cùng đau khổ với Chúa
          1. Nói về đau khổ.
 
          Đau khổ có mặt trên mặt đất này ngay sau khi tổ tông Adong Evà phạm tội ăn trái cấm. Thiên Chúa đã ra án phạt cho ông bà phải chịu đau khổ và sau cùng phải chết, và hậu quả bi đát này còn truyền lại cho con cháu ông bà (x. St 3,14-18).
 
          Đức Giêsu vì đã muốn trở nên con người như chúng ta nên cũng trở nên con cháu Adong Evà, và nếu đã là con cháu ông bà thì phải chịu đau khổ như chúng ta, bởi vì Ngài đã trở nên người phàm như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi.
 
          Có hai thứ đau khổ : đau khổ vật chất và đau khổ tinh thần. Thường người ta cho vật chất hay thể xác là đau đớn, còn đau đớn tinh thần là đau khổ.  Tuy nhiên, đau đớn và đau khổ có sự tương quan với nhau : đau đớn có thể đưa đến đau khổ và ngược lại, đau khổ có thể đưa đến đau đớn , hoặc vừøa đau đớn vừa đau khổ.
 
          Con người ta ở đời dù lớn, dù nhỏ, thế nào cũng đã phải chịu đau đớn hay đau khổ hơn một lần.  Đứa trẻ dù mới sinh ra cũng phải chịu đau đớn, mặc dầu chưa biết đau khổ là gì, vì thế :
 
                                      Vừa sinh ra sao đà khóc chóe,
                                      Trần có vui sao chẳng cười khì.
                                                (Cao bá Quát)
 
          Thiên Chúa không chủ ý dựng nên các đau khổ cho loài người, nhưng đấy là hình phạt bất đắc dĩ theo sự công bình của Chúa.  Ngoài ra, không phải mọi tai họa, mọi sự đau khổ đều do Chúa gửi đến, mà do chính con người độc ác đã tạo ra cho nhau.  Gần đây người ta phân tích  nguyên nhân đau khổ loài người thì được biết :
                   . 85% đau khổ là do người làm khổ người.
                   .   5% là do thiên tai như mưa, gió, lũ lụt, động đất…
                   . 10% là do ngẫu nhiên.
          Nếu người yêu người, người thực hiện tình người thì 85% đau khổ sẽ không còn, chỉ còn 15% do thiên tai và ngẫu nhiên. Và 15% đau khổ này, khi loài người thương yêu nhau, san sẻ cho nhau, yên ủi giúp đỡ nhau thì coi như đau khổ không đáng kể.
 
          2. Ý nghĩa của đau khổ.
 
          Đứng trước thực tại của đau khổ, không ai có thể phủ nhận được. Ai cũng phải chấp nhận sự hiện hữu của nó.  Nhưng trước những đau khổ ấy, mỗi người, mỗi tôn phái có một chủ trương riêng, một cái nhìn đặc thù và gán cho đau khổ một ý nghĩa riêng.
 
a) Các chủ trương trước đau khổ.
 
          Thiên Chúa giáo :
 
          Theo nhiều bản kinh , nhất là kinh Lạy Nữ vương, thì đời người được coi như là chốn lưu đầy, là vũng khóc lóc, là thung lũng đầy nước mắt. Nhưng đấy chỉ là lời kinh của người Công giáo đặt ra, có khi là của bậc thánh nhân khả kính, chí như trong bộ sách Phúc âm, không hề thấy nói đời là bể khổ.  Chỉ thấy cuộc đời của Chúa Cứu thế này đầy những đau khổ...
 
          Còn trong những lời Chúa Giêsu giảng dạy, nhiều lần Ngài muốn cho người ta hiểu và tin trên mặt đất này chỉ là tạm gửi trong một khoảng thời gian dự bị , thời sau mới là sung sướng hay đau khổ, và cũng là yên ủi những ai lâm vào hoàn cảnh nghèo nàn trên mặt đất này vẫn đầy đau khổ, nhưng cần phải phân biệt những thứ giả dối qua đi không hẳn là đau khổ hay là hạnh phúc cho thực.
 
          * Phật giáo.
         
          Đức Thích Ca đã tìm ra nguyên nhân của các đau khổ là : sinh, lão, bệnh, tử.  Ngài đã giác ngộ và giúp cho chúng sinh giải thoát khỏi đau khổ. Phật giáo cho đời là bể khổ “bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”.  Một số thi sĩ nước ta bị ảnh hưởng yếm thế của Phật giáo, nên các tác phẩm đề có phảng phất ý tưởng bi quan, coi đời chỉ là bể khổ, là bến mê, là ảo ảnh, là vô thường...
 
          Đức Thích Ca nói với năm thầy Sa-môn trước kia đã tu luyện cùng ngài ở Khổ hạnh Lâm :”Này các thầy Sa-môn, đây là phép mầu về sự khổ : sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ,  cái gì không ưa mà phải hợp là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ” (trích trong kinh Mahavagga, theo bản dịch của Phạm Quỳnh, Phật giáo  đại quan, Nam phong tùng thư, tr 47).  Đó là diệu đế thứ nhất nói về vạn sự ở đời là khổ, trong Tứ diệu đế là căn bản tinh hoa của Phật giáo.  Chính phật Tổ cũng dạy :”Nước mắt chúng sinh trong ba nghìn thế giới, đem chứa tích lại còn nhiều hơn nước trong bốn bể”(Bửu Dưỡng, Vấn đề đau khổ, Đa minh, 1966, tr 55-56).
          Phái Khắc kỷ
 
          Phái này chủ trương triết thuyết về con người hùng. Họ coi như đời không có đau khổ, và nếu phải đau khổ thì cứ cắn răng mà chịu, không hề than khóc, cứ phớt tỉnh đi, coi như không đau khổ vậy. Những người theo phái này đều là những con người dạn dầy với đau khổ, họ không để cho đau khổ chi phối họ, và ngược lại, họ còn muốn chi phối đau khổ.
 
          Người ta kể : Zénon de Cittium, thuộc phái Khắc kỷ, bị bắt làm nô lệ. Anh chàng nô lệ này thuyết cho ông chủ về chủ trương của phái mình trước đau khổ : coi như không đau đớn gì. Ông chủ bèn sai đầy tớ lấy hai thanh tre buộc vào sợi dây ngắn, quấn vào ống chân của Zénon mà vặn xem có đau không. Zénon không tỏ ra chút đau đớn, cứ vui cười. Ông chủ lại bảo người đầy tớ phải xoắn cho chặt, cho mạnh.  Zénon cứ bình tĩnh và nói với người đầy tớ ấy rằng :
          - Xoắn vừa chứ kẻo gẫy ống chân đấy.
          Thấy mình bị trêu chọc, tên đầy tớ lấy hết sức vặn gẫy đôi chân của Zénon ra.  Nhưng Zénon không tỏ ra đau đớn mà chỉ bình tĩnh nói :
          - Tôi đã bảo kia mà ! Vặn mạnh quá làm gẫy đôi ống chân ra rồi.
 
          Theo quan niệm người đời.
 
          Mọi người không phủ nhận đau khổ và cũng cảm thấy khiếp sợ đau khổ, không muốn chịu nhưng lại coi đau khổ là phương tiện cần thiết để đạt tới đích cao vời. Ai muốn tới mục đích thì cần phải dùng những phương tiện để đạt tới mục đích đó. Ví dụ :
 
                             Trời đất sinh ta âu hữu ý
                             Khách tài tình nên trải vị gian truân,
                             Một mai gặp hội phong vân.
                                       (Cao bá Quát)
                   hoặc:
                             Bất nhập hổ huyệt, an đắc hổ tử ?
                             (Không vào hang cọp, làm sao bắt được cọp con)
 
          Kinh Thánh cũng nói :”Lửa thử vàng, gian nan thử người nhân đức”. Chính gian nan tự nó không có ý nghĩa gì, nhưng nó là phương tiện để tô luyện ta nên tốt hơn. Cũng như giống cúc “Camomile” có đặc tính kỳ lạ này : càng bị giẫm, bị đè lên bao nhiêu nó càng lớn nhanh bấy nhiêu (Chuyện lạ quốc tế, tr 108).  Cũng một lẽ : chiếc lò xo bị nhận xuống ít thì bật lên  nhẹ, còn nếu bị nhận xuống nhiều thì bật lên càng mạnh. Càng bị thử thách, con người càng hăng hái tiên lên. Đấy là luật bù trừ ở đời.
 
          3. Mục đích của đau khổ.
 
          Chúng ta phải khẳng định rằng đau khổ không phải là cứu cánh mà chỉ là phương tiện, là điều kiện “sine qua non” để đi tới mục đích, cũng như học hành vất vả là điều kiện để thi đỗ, để thành người thông thái ; hoặc muốn được nhiều hoa trái thì buộc phải cắt tỉa. Việc cắt tỉa không phải là mục đích nhưng chỉ là phương tiện để cây sinh được nhiều hoa trái.
 
          Đau khổ còn là một mầu nhiệm. Đau khổ được đức tin  đặt vào trong ý định của Thiên Chúa, trở thành một thử thách cao qúi, Thiên Chúa dành cho những tôi tớ Ngài tín nhiệm.    Đức Giêsu đã tuyên bố điều luật khẩn thiết này :”Quả thật, Ta bảo chúng con, nếu hạt lúc rơi xuống đất không mục đi thì cứ trơ trơ một mình, nhưng nếu mục đi, nó sẽ sinh ra nhiều hạt”.  Như thế đau khổ  có ý nghĩa cao qúi của nó, giúp ta gắn bó với Chúa và giúp ta lập nhiều công phúc.
 
          4. Thái độ của ta trước đau khổ.
 
Chúng ta có thái độ nào trước đau khổ ? Đương đầu với nó hay trốn chạy ? Chiến thắng hay đầu hàng ?  Về vấn đề này, ông Phạm công Thiện có ý kiến :”Đối với con người tầm thường, sự đau khổ và hạnh phúc chống đối nhau như hai kẻ thù không đội trời chung (và hẳn chạy theo hạnh phúc mà trốn đau khổ). Đối với con người khác thường, đau khổ và hạnh phúc hợp tác với nhau”.
                       (Phạm công Thiện, Ý thức mới trong văn nghệ triết học, 1965).
 
          a) Thái độ tiêu cực.
 
          Nhiều người khiếp sợ đau khổ, khi thấy đau khổ thì tìm cách lẩn trốn. Nhưng trốn thế nào được, vì đau khổ đi theo con người như hình với bóng. Bóng mặt trời khi ta cong lưng chạy xuôi, nó chạy trước chận lối ta đi. Nếu ta quay đầu đi ngược lại phía mặt trời, bóng đen liền nhường bước cho ta đi trước, và lui về phía sau. Các sự trái ngược trên đời cũng thế. Nếu ta cong lưng chạy trốn, chúng nó càng chặn lối ta đi. Nếu ta làm mặt hiền hòa, bình tĩnh đón nhận, chúng nó sẽ mất hết sức mạnh làm hại ta.
                                     
          b) Thái độ tích cực
 
          Tình yêu làm cho đau khổ mất hết vẻ man rợ của nó. Tình yêu cũng làm cho đau khổ thành nguồn an ủi và sức mạnh.  Vì tình yêu Chúa, chúng ta hãy sẵn sàng chấp nhận mọi  hy sinh đau khổ trong cuộc sống, hãy biến những đau khổ ấy thành những hạt ngọc dâng lên Chúa. Không có một hy sinh nào trở nên vô ích nếu trong đó đã có tình yêu Chúa.
 
          Ta nghĩ thế nào về hạt cát ? Hạt cát có lợi hay có hại cho ta ?  Phải chấp nhận nó hay phủi nó đi vì nó vô ích ?  Phải phân biệt :
          . Nếu hạt cát rơi vào mắt ta, chắc chắn ta phải tìm cách phủi đi ngay vì nó làm ta đau khổ.
          . Nếu hạt cát đó lại rơi vào miệng con sò thì sao ?  Con sò sẽ tiết ra một chất nhờn bao bọc lấy hạt cát và sẽ biến nó thành hạt ngọc. Vì thế người ta hay tìm sò hến để kiếm ngọc.
 
         
          Chúng ta hãy cùng chia sẻ với Chúa Giêsu những sự đau đớn của Ngài. Đời sống của ta phải trở nên Chúa Kitô chịu đóng đinh : chính nhờ cây thánh giá mà Chúa đã cứu chuộc cả nhân loại.  Chúng ta hãy cùng cộng tác với Ngài để cứu chuộc nhân loại. Công cuộc cứu chuộc đó được thực hiện trong việc thuận theo thánh ý Chúa.
 
          Trong một trang rất hay của cuốn sách “La Prìere de toutes les heures”, cha Charles khi suy niệm về tiếng AMEN đã trình bầy cùng một ý tưởng ấy, tuy một cách khác nhau nhưng rực rỡ hơn :
 
“Một hôm gặp những người lấy một trang giấy lớn để viết, một trang giấy trắng tinh. Mãi cuối trang, thay vì chữ ký, họ chỉ viết một chữ AMEN.  Và rồi họ chuyển đời họ đến Chúa. Chúa Quan phòng bắt đầu viết lên trên chữ Amen đã viết trước ấy câu chuyện dài và đau thương của cả một đời người. Các tang tóc xếp đặt từng hàng, có ghi rõ ngày tháng và tiếng Amen đón nhận tất cả, đã cất đi được cái vị độc, đắng cay của những ngày ấy. Chúa cũng ghi trên trang giấy những niềm hoan hỉ lành mạnh, kèm thêm cả giờ khắc được hưởng, làm những trạm nghỉ trong một cuộc hành trình. Thay vì khước từ và quên lãng, hoặc chúi đầu ngủ mê trong những hoan lạc ấy, tâm hồn ngoan ngoãn cùng vui hưởng với Chúa và vì Chúa,  bởi họ đã đọc lời giải khát.
 
          “Thưa Amen trước với hết mọi mệnh lệnh của Chúa. Amen với những thất bại bất ngờ, với những vu khống trường kỳ, với những hiểu lầm hằng ngày khiến ta bực bội. Amen khi xe lửa chạy quá sớm hay quá chậm trễ. Amen khi trời nắng hay trời mưa, khi mất ngủ, khi nhọc mệt, khi nắng hạn hay rét cóng : Amen đối với những bạn bè khó nết đầy tật xấu và điên khùng. Amen đối với những người bà con già nua mà tuổi tác làm cho họ trở nên ích kỷ và quạu cọ. Thưa Amen vui vẻ nếu có thể được, và luôn thưa cách thành thực can đảm”.
                   (Charles SJ, La Prìere de toutes les heures, tr 135-136)
 
Lm Giuse Đinh lập Liễm

THỨ TƯ LỄ TRO 1.3.2017

Anh chị em và các bạn trẻ thân mến,
Để chuẩn bị bước vào hay đang sống đời hôn nhân và gia đình thì sứ điệp ngày thứ tư Lễ Tro giúp chúng ta nhận thức và định hướng cần thiết để có thể có cuộc sống hôn nhân và gia đình hạnh phúc.
1.   Trước hết tiên tri Giôen mời gọi “Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo các ngươi”. Lời kêu gọi này hơn bao giờ hết trở nên mạnh mẽ và cấp bách trong thời đại chúng ta : một thời đại đang chạy theo những chiếc áo phù du, huyền hoặc và hư ảo. Những chiếc áo hằng ngày được mạng truyền thông tin học quảng bá cho đến hang cùng ngõ hẻm. Chúng ta hãy quan sát các đám cưới hiện nay, tất cả đều phơi bày những hình thức sang trọng hoành tráng, thậm chí không thể có trong cuộc sống thực tế của gia đình đôi bên. Bản thân những chiếc áo đó không có gì là xấu, là hư ảo, nhưng chính lòng người đã biến nó thành phù du và hư ảo. Để tiến tới hôn nhân hay đang sống đời hôn nhân hầu như người ta luôn dùng những chiếc áo đẹp đẽ để che đậy những toan tính lừa dối trong con tim. Vì thế không biết bao bạn trẻ đã phải ngậm đắng nuốt cay sau những ngày vu quy hay cưới hỏi. Hãy đến với hôn nhân và sống đời hôn nhân với một tấm lòng chân thành cho dù nó chỉ mặc được những chiếc áo đơn sơ. Thế nhưng cha ông mình thường nói “Sông sâu biển thẳm dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người”. Con người dù chín chắn đến đâu cũng không tránh được sự choáng ngợp trước biết bao lời nói “ân tình”, những biểu hiện rất chân tình về gia cảnh, về tâm huyết, về con người. Cách riêng chỉ qua mạng xã hội quen nhau và đi tới hôn nhân. Tiên tri Giôen khẳng định phải xé lòng ra trước nhan Thiên Chúa, để Ngài thanh tẩy những uẩn khuất bởi các bóng hình hư ảo để mặc lấy những chiếc áo của tình yêu chân thật.
2.   Thánh Phaolô cũng kêu gọi chúng ta “Đấng không hề biết đến tội lỗi thì Thiên Chúa đã làm Người thành thân tội vì chúng ta, để trong Người, chúng ta được trở nên sự công chính của Thiên Chúa.”. Hãy đến với nhau trong sự công chính của Đức Giêsu. Sự công chính được biểu lộ trong sự tuân phục ý muốn của Chúa Cha mà thực thi một tình yêu nhằm cứu vớt và giải thoát con người khỏi những hư ảo của tiền tài, danh vọng. Một Tình Yêu từ con tim trong sạch không bóng hình của những cám dỗ hưởng thụ trần tục. Thực thi sứ điệp này giúp các bạn trẻ đang muốn tiến tới đời sống hôn nhân hay đang sống đời gia đình hiểu rằng Gia Đình là nôi của Tình Yêu Thiên Chúa và chỉ tồn tại trong Tình Yêu ấy.
3.   Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng cũng dạy chúng ta “đừng phô trương công đức trước mặt người ta để thiên hạ trông thấy; khi các con cầu nguyện, thì cũng chớ làm như những kẻ giả hình; Khi các con ăn chay đừng làm cho mặt mũi ủ dột, để có vẻ ăn chay trước mặt người ta”, đó là con tim xấu xa trong những chiếc áo phù du. Nếu sự cầu nguyện, ăn chay, làm phúc còn đòi điều ấy phương chi Tình Yêu hôn nhân và gia đình. Để thiết lập hôn nhân và gia đình của Thiên Chúa, chính Chúa Giêsu đã dùng Thánh Giá của Người, và hôm nay là Thánh Thể Người trong bí tích Tình Yêu để thiết lập. Nơi đây con tim Chúa bị mở toang ngay cả cho kẻ thù giết Người, hầu mở rộng con tim họ cho Chúa Cha.

 

CHÚA NHẬT I MC-A (2017)

Anh chị em và các bạn trẻ thân mến.
Để chuẩn bị bước vào hay đang sống đời sống hôn nhân và gia đình chúng ta không thể không thấy một sự thật tuy phũ phàng nhưng lại hết sức phổ biến trong mọi đời sống hôn nhân và gia đình : đó là vấn đề tội lỗi. Vấn đề được Lời Chúa hôm nay minh giải cho chúng ta.
1.   Bài sách Sáng Thế : Từ kinh nghiệm đời sống trải qua nhiều thế hệ của Dân Chúa, và được Thiên Chúa mạc khải, tác giả nhận biết vấn đề tội lỗi xuất đi từ tội của nguyên tổ. “Nguyên tổ được tạo thành, và phạm tội” là nội dung chính của bài sách Sáng Thế chúng ta vừa nghe. Và căn nguyên của tội chính là người nữ đã tin theo lời dụ dỗ “Không, các ngươi không chết đâu! Nhưng Thiên Chúa biết rằng ngày nào các ngươi ăn trái ấy, mắt các ngươi sẽ mở ra, và các ngươi sẽ biết thiện ác như thần thánh”, bà muốn ngang hàng với chính Thiên Chúa, Đấng đã tạo thành bà. Vấn đề chính yếu là do tình yêu đối với bà mà “người chồng cũng ăn”, và hậu quả là “Mắt họ liền mở ra và họ nhận biết mình trần truồng” : tất cả cái nhìn về thực tại thánh thiêng nơi con người và vũ trụ đã sụp đổ, con mắt người chỉ còn nhìn thấy những tâm địa xấu xa nơi ngay cả những người thân yêu và họ muốn che lấp đi nhờ những phương tiện vật chất chung quanh họ để “che thân”.
2.   Thánh Phaolô dựa vào câu chuyện sách Sáng Thế và lịch sử nhân loại đã khẳng định cho dù con người trong mọi thế hệ cố gắng bằng mọi khả năng của mình để “che thân”, nhưng cái hậu quả cuối cùng là “sự chết” do tội chẳng riêng tội của Ađam mà là của mọi người vì “mọi người đã phạm tội” thì không gì có thể che chở cho con người khỏi sự chết. Thậm chí “sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội”. Từ gia đình của Ađam cho đến mọi gia đình hôm nay và cho đến tận thế luôn bị tội lỗi khống chế và do đó mà bóng ma sự chết luôn bao phủ đời sống hôn nhân và gia đình. Chúng ta có quá nhiều kinh nghiệm đau thương về thực tế này. Thế nhưng thánh Phaolô đã gióng lên tiến nói của Tin Mừng, của Niềm Hy Vọng lớn lao : “Nhưng sự sa ngã của Ađam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa” vì “ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người”. Và chính Đức Giêsu không những đã làm cho hôn nhân và gia đình tại Cana như là một biểu trưng của Niềm Vui trọn vẹn, mà Người còn tiêu diệt vĩnh viễn sự chết cho những ai tin vào sự chết và sự sống lại của Người.
3.   Bài Tin Mừng chỉ cho chúng ta con đường để có một hôn nhân và gia đình hạnh phúc và viên mãn : con đường phải chiến thắng mọi cám dỗ của satan :
a.   Chiến thắng cám dỗ về nhu cầu của thân xác, một cám dỗ mà Đức Thánh Cha trong sứ điệp mùa chay gọi đích danh là cám dỗ về tiền bạc, một cám dỗ lôi con người chỉ tin vào tiền bạc để ra khỏi Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy “'Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra'”.
b.   Chiến thắng cám dỗ về lạm dụng những tài năng Thiên Chúa ban để phục vụ bản thân bằng xác tín rằng “Cũng có lời chép rằng: 'Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi'
c.    Chiến thắng cám dỗ về quyền lực bằng sự vâng phục Thiên Chúa “'Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài”.
Trong đời sống hôn nhân và gia đình những cơn cám dỗ này có nhiều hình thái khác nhau và càng ngày càng tinh vi và hấp dẫn được quảng bá trên truyền thông tin học một cách mạnh mẽ, nhưng đều có thể quy về 3 cám dỗ căn bản trên. Và con đường chiến thắng là tin vào Lời Chúa và quyết tâm thi hành với tình yêu vâng phục.
 

CHÚA NHẬT II MC-A
Anh chị em và các bạn trẻ thân mến,
Đời sống hôn nhân và gia đình là một thể chế tự nhiên, hầu hết nhân loại đều trải qua, vì thế mọi người hầu như cho rằng chỉ có đời tu mới cần phải có ơn gọi đặc biệt để có thể dấn thân và sống. Nhưng sự thật không phải thế. Hôn nhân và gia đình không chỉ là một thể chế thuần túy tự nhiên, nhưng là một thể chế do Thiên Chúa thiết lập với một ơn gọi đặc biệt để người nam và người nữ trở nên HÌNH ẢNH của Ngài : HÌNH ẢNH của Tình Yêu Tạo Dựng và Phát Triển Sự Sống trong Tự Do và Trách Nhiệm.
Thế nhưng ngay từ đầu như sách Sáng Thế cho thấy nguyên tổ và các thế hệ kế tiếp đã lạm dụng Tự Do và Trách Nhiệm để tạo ra các nền văn minh của Sự Chết. Tuy nhiên Tình Yêu của Thiên Chúa vẫn kiên trì để kêu gọi trước tiên là Noe, và cách đặc biệt kêu gọi Tổ Phụ Abraham, để các Ngài đi theo Ơn Gọi Đặc Thù của Hôn Nhân và Gia Đình là làm nên nền Văn Minh của Sự Sống với tất cả Tự Do và Trách Nhiệm của những người con Thiên Chúa. Chúa gọi Abraham “Ngươi hãy từ bỏ quê hương, họ hàng và nhà cửa cha ngươi mà đi đến xứ Ta chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn, Ta sẽ ban phúc cho ngươi, cùng làm vinh danh ngươi, ngươi sẽ được diễm phúc” và “Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ nhờ ngươi mà được diễm phúc”. Qua lời gọi này có thể xác định ơn gọi của hôn nhân và gia đình trước hết phải là cơ chế đón nhận PHÚC LÀNH của Thiên Chúa; sau đó phải là cơ chế đem Phúc Lành đến cho mọi dân tộc.
Thánh Phaolô nhắc nhở người môn đệ yêu dấu của mình, ơn gọi và phúc lành Thiên Chúa ban  “không phải do công việc chúng ta làm, mà là do sự dự định và ân sủng đã ban cho chúng ta từ trước muôn đời trong Đức Giêsu Kitô”, dự định và ân sủng ấy là “Người đã dùng Tin Mừng tiêu diệt sự chết và chiếu soi sự sống, và sự không hư nát được tỏ rạng”. Như thế Ơn Gọi của Hôn Nhân và Gia Đình là cơ chế của Phúc Lành Thiên Chúa cũng phải trở nên cơ chế của Tin Mừng tiêu diệt Sự Chết và chiếu soi Sự Sống không hư nát.
Tin Mừng ấy, bài Phúc Âm hé mở cho chúng ta thấy, đó là SỰ SỐNG NƠI CON THIÊN CHÚA, Đấng mà chính Thiên Chúa công bố “Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Và chính Chúa Giêsu với phép lạ đầu tiên tại Cana đã muốn khẳng định Hôn Nhân và Gia Đình đã đem lại Niềm Vui trọn vẹn cho mọi người khi “Người bảo gì, anh em cứ làm theo”. Bài Tin Mừng còn cho thấy với Đức Giêsu trong vinh quang còn có Môsê và Êlia, nghĩa là có lề luật và các tiên tri mà Người đến để kiện toàn. Do đó ơn gọi hôn nhân và gia đình muốn trở thành cơ chế của SỰ SỐNG KHÔNG HƯ NÁT thì cũng phải cùng với Đức Giêsu và nhờ ân sủng Người kiện toàn mọi lề luật và các tiên tri, vì đó là con đường tiếp nối công trình Tạo Dựng và Phát Triển Sự Sống tiêu diệt Sự Chết cho mình và cho mọi người. Chính Chúa Giêsu đã cho thấy sống Ơn Gọi này đòi hỏi phải chấp nhận con đường hy sinh của Thập Giá với lời “Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại”, hy sinh để vâng phục và yêu thương cho đến cùng, là điều nghịch lại mọi mơ tưởng của loài người, nhưng chính sự Vâng Phục và Yêu Thương ấy sẽ tái tạo TÌNH YÊU BAN SỰ SỐNG VĨNH CỬU.
Nếu như hôn nhân và gia đình chiếu rọi trong cuộc sống sự vâng phục và yêu thương của Chúa Giêsu để chung thủy trong tình yêu đơn nhất và bất khả phân ly, tôn trọng sự sống được trao ban, thì nó mới là cơ chế của SỰ SỐNG KHÔNG HƯ NÁT.

 

CHÚA NHẬT III MC-A

Anh chị em và các bạn trẻ thân mến,
Để chuẩn bị bước vào hay đang sống trong đời Hôn Nhân và Gia Đình chúng ta hãy xem Lời Chúa hôm nay nêu lên cho chúng ta những vấn đề gì?
1.   Bài sách Xuất Hành : Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Chết khát đó là một thực tế không riêng gì của đoàn người trong sa mạc Sinai ngày xưa, mà còn mãi là một thực tế trong mọi hôn nhân và gia đình mọi thời đại, cách riêng thời chúng ta đang sống : khát tình, khát được tôn trọng nhân phẩm, khát tiền, khát cuộc sống bình yên ấm no, khát cho con cái có sự phát triển bền vững giữa một thế giới luôn biến động đổi thay… Và biết bao người đã phải tự hỏi như Môsê “Con sẽ phải làm gì cho dân này?”. Để tìm ra cách thỏa mãn các cơn khát chết người ấy lại là cái căn nguyên của biết bao xáo trộn trong gia đình “Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi” và nhiều trường hợp khiến hôn nhân và gia đình tan vỡ qua ly thân, ly dị, tái hôn và thậm chí tự tử hay chém giết lẫn nhau. Bài sách Xuất Hành không dừng lại trong cái nhìn vào thực tế ấy, mà còn nhìn vấn đề trong chiều kích sâu xa hơn tận đáy lòng con người qua cái nhìn của ông Môsê “con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa”. Biết bao người trẻ hôm nay trong khi tìm cách giải cơn khát đã chẳng phàn nàn và thách thức Chúa bằng những quyết định và hành động chống lại Ngài và lề luật của Ngài.
2.   Bài Tin Mừng : đã đề cập đến sự thách thức này qua lời của Chúa Giêsu nói với người phụ nữ Samaria “Bà nói 'tôi không có chồng' là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà” một thực tế hôn nhân và gia đình chống lại một cách dứt khoát mọi lề luật hôn nhân và gia đình Thiên Chúa đã thiết lập. Nhưng trước đó chính Chúa cũng đã xin bà “Xin cho tôi uống nước” vì Người cũng đang khát sau một hành trình dài. Chúng ta nhớ lại sau 40 đêm ngày trong hoang địa Chúa cũng đã cảm thấy thế nào là cơn khát hành hạ mọi con người trong hoàn cảnh sống của họ, và khi đó satan đã lợi dụng để THỬ THÁCH NGƯỜI qua 3 cám dỗ rất đặc trưng của mọi cơn khát của loài người. Chính trong thân phận là người bị hành hạ bởi những cơn khát như chúng ta Người đã chỉ cho chúng ta cách thế làm thỏa mãn cơn khát mà không gây đổ vỡ “nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”, đó là NƯỚC THÁNH THẦN. Nước sẽ phân tích tận căn mọi cơn khát trong cuộc sống như người phụ nữ nói “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm”.
3.   Thánh Phaolô : trong thư gởi tín hữu Roma cũng đã từng nói về cơn khát của chính người khi hăng hái truy lùng các tín hữu, nhưng rồi người không ngần ngại để tuyên xưng “Đấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang” là chính “Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”. Chính Người là Đấng đổ tràn NƯỚC THÁNH THẦN là “lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta”. Lòng mến khiến chính Người khẳng định “Của Thầy ăn là làm theo ý Đấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài”. Của ăn mà không riêng các môn đệ mà cả chúng ta “không biết”: đó là Thánh Thần Tình yêu, Thánh Thần Quyền Năng của Thiên Chúa, mới có thể làm thỏa mãn mọi cơn khát cho nhân loại, để làm cho họ mãi là con cái, là gia đình bền vững theo ý của Thiên Chúa nhờ “Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta… trong lúc chúng ta còn là tội nhân”.
Xin Chúa Giêsu luôn đến với chúng ta trong mọi cơn khát và cho chúng ta tin vào Người là Đấng ban NƯỚC THÁNH THẦN nhằm giúp chúng ta bước vào và sống đời hôn nhân gia đình trong hạnh phúc viên mãn.


CHÚA NHẬT IV MC-A

Anh chị em và các bạn trẻ thân mến,
Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta một điều rất quan trọng và thực tế để chuẩn bị hay để sống đời sống hôn nhân và gia đình : đó là phải có một cái nhìn thấu đáo về con người cũng như mọi hành vi để có một gia đình hạnh phúc.
1.   Samualê và chúng ta thường chỉ “nhìn xem bên ngoài” chỉ thấy “diện mạo, vóc cao”. Đó là điều mà bài Tin Mừng muốn nói : chúng ta thực sự chỉ là “một người mù từ khi mới sinh”. Thậm chí ngay cả cha mẹ cũng không có cái nhìn thấu đáo về con cái mình : Isai đã trình diện những người con cho Samualê để được ông xức dầu tấn phong làm vua : ông đã lần lượt trình diện 7 người con từ người con cả đến các con thứ theo cách suy nghĩ thông thường của mọi người, nhưng “Chúa không chọn ai trong những người này”. Chúa nói với Samualê vì chưng con người nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn. Các bạn trẻ hôm nay khi chọn người để yêu và để tiến tới hôn nhân đã chẳng thường bị tối mắt lại trước vóc dáng, trước những lời “tâm tình” ngon ngọt, trước gia thế, trước địa vị của người yêu đó sao? Mấy bạn trẻ biết và nhìn thấu “tâm hồn” của người mình yêu. Thậm chí để biện minh ngay cả cho người yêu đã một lần ly dị họ tin rằng lỗi không do người họ yêu, mà do người bạn đời cũ của người yêu có quá nhiều điều không thể chấp nhận. Họ đã bị thuyết phục bởi chính cách nhìn của con người họ yêu, cách nhìn mà Chúa nói là “nhìn xem bên ngoài”. Không mấy ai có thể nhận mình là “một người mù từ khi mới sinh”. Và đó là căn nguyên mọi đau khổ và đổ vỡ trong hôn nhân và gia đình.
2.   Tâm hồn của một con người đích thật là “sinh khí, là hơi thở của Thiên Chúa” đã thổi vào xác thân con người. Đó là Tình yêu nhưng không của Chúa dành cho người đó. Đó là điều mà bài sách Các Vua nói tới khi Đavid từ ngoài đồng đi vào Người bảo Samualê “Ngươi hãy chỗi dậy, xức dầu lên nó, vì chính nó đó” “và Thánh Thần Chúa ngự trong Đavít”. Chúa yêu, Chúa chọn, Chúa tấn phong, hay Chúa chữa lành tất cả chỉ là  “để công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi” người ấy như Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng. Thánh Phaolô khẳng định công việc của Thiên Chúa tỏ ra nơi một người, một hành vi, một lời nói phải là “hoa trái của sự sáng ở tại tất cả những gì là tốt lành, là công chính và chân thật”. Những hoa trái do sự đón nhận sự sáng là Đức Kitô. Sự sáng không đến từ những tiêu chuẩn nhìn xem của thế gian, mà đến từ cuộc đời của Đức Giêsu. Bài Tin Mừng cho thấy người ta không chấp nhận sự sáng này : “Người đó không phải bởi Thiên Chúa, vì không giữ ngày Sabbat” như vậy là “một người tội lỗi”. Cũng như hôm nay các bạn trẻ thường biện mình cho sự lựa chọn của mình “chúng tôi còn phải có cuộc sống trần gian mà” để bỏ qua mọi lề luật yêu thương của Chúa trong quyết định của mình. Tất nhiên Thánh Thần Chúa trong tâm hồn chúng ta không nhằm cho chúng ta một cuộc sống tiện nghi, ngược lại đưa chúng ta vào một cuộc chiến đầy thử thách như Đavid, như chính Chúa Giêsu, để qua cuộc VƯỢT QUA đẫm máu và nước mắt như Người, chúng ta được bước vào vương quốc yêu thương và sự sống của Người.
3.   Như vậy đúng như lời Chúa dạy “xem quả biết cây”, phải xem có hoa trái “là tốt lành, là công chính và chân thật” của Thánh Thần nơi người yêu hay không mới là cách nhìn cần có để tới một hôn nhân và gia đình hạnh phúc thật.

 

Sưu tầm


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

.

1

LM PAUL NGUYỄN ĐỨC VĨNH

Vị Thánh trong ngày

Sách các phép

Mười điều răn

Thành viên

Kích chuột để

1

Suy niệm Lời Chúa 5P

Nhóm Mân Côi

1
 

Giờ kinh phụng vụ

Lịch Phụng Vụ