1
05:05 ICT Thứ ba, 17/10/2017
1Chính anh em  là  Muối cho đời,  là Ánh sáng cho trần gian. (Mt 5, 13-14)

MENU

Giáo lý cho người trẻ

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 37


Hôm nayHôm nay : 860

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 71265

Tổng cộngTổng cộng : 10668677

Nhạc Giáng sinh

Thông tin Online

Hãy kết bạn với


Trang nhất » Tin tức » SUY NIỆM LỜI CHÚA

Suy niệm Chúa nhật từ Tuần I đến 9 TN

Thứ năm - 09/02/2017 17:36-Đã xem: 264
Đức Kitô loan báo rằng Ngài đến không phải để bãi bỏ lề luật cũ mà thay vào bằng lề luật mới, nhưng đến để kiện toàn luật cũ bằng cách giảm bớt các trói buộc quá nặng nề và nhất là nhấn mạnh trên các lý do giữ luật dựa trên tình yêu tinh ròng.
Suy niệm Chúa nhật từ Tuần I đến 9 TN

Suy niệm Chúa nhật từ Tuần I đến 9 TN

CÁC BÀI SUY NIỆM
TỪ TUẦN I  đến TUẦN 9 THƯỜNG NIÊN





CHÚA NHẬT 8 THƯỜNG NIÊN A
CHỌN THIÊN CHÚA HAY TIỀN CỦA
+++
 
A. DẪN NHẬP  
 
          Cuộc đời là một chuỗi những sự lựa chọn. Bất cứ ai đều phải có sự lựa chọn cho đời sống của mình về phương diện tinh thần cũng như vật chất. Trên bình diện tôn giáo, Đức Giêsu đã chỉ dẫn cho chúng ta cách lựa chọn :”Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền của được”(Mt 4,24). Và Ngài đã đòi chúng ta một sự lựa chọn dứt khoát : một là Thiên Chúa, hai là Tiền của. Chúng ta có quyền tự do lựa chọn và phải gánh chịu hậu quả về sự lựa chọn đó.
 
          Chúng ta là những người khôn ngoan đã dứt khoát chọn lựa Thiên Chúa vì chúng ta là con của Ngài, đã được dựng nên giống hình ảnh Ngài.  Một khi đã chọn Thiên chúa, chúng ta phải tuyệt đối  yêu mến và tin tưởng vào sự quan phòng của Ngài.  Chúa khuyên chúng ta đừng quá lo lắng về cơm ăn áo mặc, hãy nhìn xem chim trời, hoa cỏ đồng nội thì biết. Nhưng chúng ta phải lưu ý : Chúa khuyên chúng ta đừng “lo lắng” nhưng phải biêt “lo liệu”.  Lo lắng là dấu chỉ chưa đủ tin tưởng vào Chúa, còn lo liệu là biết khôn ngoan sắp đặt mọi sự trong hiện tại cũng như trong tương lai trong sự yêu mến và tin tưởng phó thác cho Chúa.
 
          Tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng không có nghĩa là ỷ lại, để cho Chúa lo mọi sự, nhưng trái lại, phải có sự cộng tác của chúng ta. Đây là bằng chứng : ngày từ đầu Thiên Chúa đã trao trái đất cho con người coi sóc,  Đức Giêsu đã làm nghề thợ mộc tại Nazareth và thánh Phaolô cũng chủ trương ai không làm việc thì không có quyền ăn. Vậy, trong cuộc sống  hằng ngày, chúng ta cứ làm việc bình thường, đừng bồn chồn lo lắng. Hãy quên đi quá khứ, hăng say làm việc trong hiện tại và đặt tương lai vào trong bàn tay Chúa quan phòng.
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA  
 
          Bài đọc 1 : Is 49,14-15  
 
          Dân Israel bị lưu đày bên Babylon, sống cơ  cực dưới sự đè nén của ngoại bang, họ đâm ra chán nản, thất vọng. Họ cho rằng Thiên Chúa đã quên họ. Họ đã bị bỏ rơi. Niềm tin bị giảm sút.
 
          Nhưng tiên tri Isaia đã khẳng định với dân : Thiên Chúa không bao giờ bỏ quên họ bởi vì họ là con của Ngài.  Ông đưa ra một hình ảnh sống động và cụ thể : có người mẹ nào mà bỏ quên con mình ? Cho dù người mẹ có bỏ quên con mình đi nữa thì Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ quên đâu.
 
          + Bài đọc 2 : 1Cr 4,1-5 
 
          Tín hữu Corintô có nhiều tinh xấu như óc bè phải, tính kiêu căng, tự phụ. Hôm nay thánh Phaolô nhắc nhở họ phải đề phòng một tính xấu khác, đó là xét đoán.
 
          Thực ra, không ai biết được con tim khối óc của người khác, chỉ là phỏng đoán, duy một mình Thiên Chúa mới biết được chính xác. Vì thế, mọi người hãy dành quyến xét xử cho Thiên Chúa “Đấng thấu suốt lòng mọi người”.
 
 
          Bài Tin mừng : Mt 6, 24-34 
 
          Hôm nay Đức Giêsu nói với cả người giầu lẫn người nghèo phải biết lựa chọn. Chỉ có hai con đường để lựa chọn, đó là phụng sự Thiên Chúa hay phụng sự Tiền của.
          Phụng sự Thiên Chúa là sống theo Tin mừng, theo Hiến chương Nước Trời và tìm kiếm sự công chính của Thiên Chúa, nghĩa là tìm biết và thi hành thánh ý Ngài.
 
          Nếu phụng sự Chúa thì phải tin vào Chúa quan phòng. Đành rằng chúng ta phải làm việc để giải quyết đời sống vật chất như cơm ăn áo mặc… nhưng chúng ta phải dành ưu tiên cho việc tìm kiếm Nước Trời, còn mọi sự khác Ngài sẽ ban cho.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA  
 
          Bắt cá hai tay
 
          Người Việt nam chúng ta thường dùng câu tục ngữ “Bắt cá hai tay” để chỉ những người tham lam, mưu cầu nhiều việc. Ta phải hiểu câu tục ngữ này như thế nào ?  Nhân dân ta hiểu câu tục ngữ này theo nghĩa đen là : mỗi tay bắt một con, và kết quả là tuột mất hết chẳng bắt được con cá nào.  Chẳng thế mà ca dao Việt nam đã từng khuyên nhủ mọi người :
 
                                      Thôi đừng bắt cá hai tay
                                Cá thì xuống bể, chim bay về ngàn.
 
          Câu tục ngữ này có thể minh họa một phần nào lời Đức Giêsu nói trong bài Tin mừng hôm nay :”Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia; hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ kia. Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền của được” (Mt 6,24).
 
I. PHẢI BIẾT CHỌN LỰA  
 
1.    Lựa chọn là điều cần thiết 
 
 Ngày nay người ta nói nhiều đến dấn thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là dấn thân, mà dấn thân thì phải lựa chọn.  Sống là một chuỗi những lựa chọn. Chính những lựa chọn này sẽ làm cho người ta thành công hay thất bại, trở thành người tốt hay người xấu, được hạnh phúc hay phải đau khổ.  Đã chọn lựa điều này thì phải bỏ điều kia. Từ bỏ bao giờ cũng là một giằng co, nuối tiếc.
 
Đức Giêsu muốn các môn đệ của Ngài phải chọn lựa dứt khoát, không có thái độ lưng chừng hoặc bắt cá hai tay. Người bắt cá hai tay  bao giờ cũng là kẻ thua thiệt nhất. Hôm nay phải chọn lựa hoặc Thiên Chúa hoặc Tiền của.
 
2.    Phải chọn lựa thế nào ? 
 
a) Thời xa xưa, trong thời vua Achab trị vì, dân Israel đã bỏ Chúa mà đi thờ dân ngoại Baal. Tiên tri Êlia đã hô hào dân chúng hảy trở về với Thiên Chúa, phải dứt khoát lựa chon :”Các ngươi nhảy khập khiễng hai chân cho tới bao giờ ? Nếu Đức Chúa là Thiên Chúa, hãy theo Người; còn nếu là Baal thì cứ theo nó” (1V 18,21)
 
          b) Thời nay, Đức Giêsu cũng cảnh báo cho những người tôn thờ tiền của như sau :”Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền của được” (Mt 6,24)
 
* Ý nghĩa chữ “Tiền của”
 
Tiền của ở đây được viết bằng chữ hoa, tiếng Aram là MAMMON, có nghĩa là Tiền của. Nếu tiền được thần hóa như thế, thì sức mạnh thống trị của nó  không thể coi thường. Nếu tiền và Thiên Chúa đã được Đức Giêsu đưa lên bàn cân để người ta lựa chọn, thì quyền lực của nó phải là vô song.
 
* Ý nghĩa chữ “tôi” và “chủ”.  
 
Đối với người xưa “không ai được làm tôi hai chủ” có ý nghĩa hơn đối với chúng ta. Từ ngữ là “tôi” trong nguyên ngữ Hy lạp là “nô lệ”, làm nô lệ cho; còn từ “chủ” để chỉ quyền sở hữu tuyệt đối.  Ý nghĩa câu này sẽ rõ hơn nếu chúng ta dịch : không ai có thể làm nô lệ cho hai ông chủ.
 
          Để hiểu ý nghĩa, có hai điều chúng ta cần nhớ về người nô lệ thời xưa. Nô lệ, trong quan điểm luật pháp, không phải là một con người mà là một đồ vật.  Nô lệ tuyệt đối không có gì cả, chủ có thể sử dụng nô lệ thế nào cũng được.  Đối với luật pháp, nô lệ là một dụng cụ sống, ông chủ có thể bán, đánh đập, quăng ra ngoài hoặc giết đi, vì ông ta sở hữu người nô lệ y như sở hữu một đồ vật. Thứ đến, nô lệ thời xưa không có chút thời giờ nào là của riêng. Mỗi giây phút của đời sống nô lệ đều thuộc về chủ…
 
          Đây chính là mối dây liên hệ của chúng ta đối với Thiên Chúa, ta không có quyền gì cả. Thiên Chúa là chủ tuyệt đối. Không bao giờ chúng ta được hỏi : tôi muốn làm gì ? Nhưng luôn luôn hỏi : Chúa muốn tôi làm gì ?
 
3.    Nguy hại của thần Mammon.   
 
Thần Mammon hay thần Tiền của có một sức mạnh vạn năng, nó giải quyết phần lớn các nhu cầu của con người, nên tiền của hấp dẫn lạ lùng. Người Vệt nam chúng ta có câu :
 
                                      Có tiền mua tiên cũng được
                             Hoặc :
                                      Mạnh về gạo, bạo về tiền
                                      Lắm tiền, nhiều gạo là tiên trên đời.
 
          Ngay cả việc đạo cũng phải có tiền  mới xong :
         
                                      Có thực mới vực được đạo.
 
          Nguyên ngữ Mammon chỉ có nghĩa là của cải vật chất.  Nguyên nghĩa của nó không phải là một chữ mang ý nghĩa xấu. Các rabbi Do thái vẫn dạy :”Hãy quí trọng mammon của người khác như của chính ngươi”, nghĩa là mọi người phải coi tài sản vật chất của người khác  quí trọng như tài sản của mình.
 
          Tiền của là như vậy, nhưng tại sao Đức Giêsu lại gay gắt với tiền của như thế ? Thật ra, Ngài không lên án tiền của, Ngài chỉ cảnh báo những ai ham mê của cải mà thôi. Hay nói cách khác, Thánh Kinh đã nói :”Lòng ham tiền của là cội rễ mọi điều ác” (1Tim 6,10).
 
          Và chúng ta phải công nhận rằng tiền của là phương tiện hữu hiệu Chúa ban, để bảo tồn sự sống đời này, và để mua Nước Thiên đàng đời sau. Tự bản chất của tiền là tốt, nó là hồng ân Thiên Chúa tặng ban cho con người.
 
          Tiền của chỉ trở nên xấu khi ta quá tôn thờ nó, như một ông chủ sai khiến hành hạ đời ta,  thậm chí lấy luôn mạng sống ta .
          Tiền của chỉ trở nên đáng ghét khi ta quá tham lam  thu tích nó mà quên đi bổn phận chia sẻ với anh em, như người giầu có xử tệ với Lazarô nghèo khó.
          Tiền của chỉ trở nên án phạt khi ta quá ham mê nó mà từ bỏ Thiên Chúa, như Giuđa bán Thầy vì mê 30 đồng bạc.
          Tiền của chỉ trở nên cạm bẫy khi ta quá bám víu vào nó mà không còn tin cậy vào Thiên Chúa quan phòng, như người phú hộ ham hưởng khoái lạc không kịp ăn năn.
 
          Vì thế,  Đức Giêsu thật có lý  khi cấm chúng ta không được làm tôi tiền của. Ngài cảnh báo như thể để mưu cầu hạnh phúc đời đời cho chúng ta.
 
Truyện : Nô lệ hay tự do
 
          Hôm ấy, trời vừa rạng đông, ông hoàng nói với tên đầy tớ :”Xem chừng anh mơ ước giầu có lắm.  Vậy từ giờ này cho đến lúc mặt trời lặn, anh có sức ngần nào thì cứ chạy. Tất cả nhữngg ruộng vườn, ao cá anh chạy vòng quanh được, ta cho anh hết”.
          Anh vui sướng quá ! Cha chết sống dậy cũng không bằng. Anh liền cắm đầu chạy, chạy vùn vụt như Hạng Vũ trên con ngưa Ô-Truy. Chín mười tiếng đồng hồ qua, chàng làm chủ được mấy cánh đồng bao la bát ngát.  Chàng vừa dừng chân, thì một hồ cá mênh mông với mặt nước trong ngần huyền ảo phán chiếu ánh mặt trời đã xế chiều. Chang lại chạy tiếp. Sau cùng, màn đêm buông rơi. Chàng hổn hển quay bước trở về, để làm bậc tỷ phú với “Ruộng vườn cò bay thẳng cánh, ao hồ mặc sức cá đua”.
          Nhưng vừa bước chân vào ngưỡng cửa, chàng ngã lăn xuống bất tỉnh. Vợ con vội vàng thuốc thang săn sóc… Nhưng vô hiệu. Nhà tỷ phú đã trút linh hồn sau một ngày dài lao lực quá mức. Người ta đào cho chàng một chỗ nghỉ trong lòng đất, vừa dài, vừa rộng, nhưng không quá ba tấc đất.
 
          Đó là kết cục của một con người ham mê tiền của, để nó sai khiến như một tên nô lệ, phải vắt cạn kiệt sức lực cho tới chết, mà không được mảy may hưởng dùng.
 
          Sự nô lệ cho tiền của là một bệnh “ung thư” thật sự của xã hội chúng ta. Nhắc lại như thế là việc tầm thường. Nền văn minh Tây phương đang tự phá hủy chính mình dưới nhịp độ dữ dội mà cuộc chạy đua đuổi theo cái “tiện nghi”, cái “xa hoa”, những đồ dùng lạ mắt bắt ép nền văn minh ấy.  Chính con người trở thành nạn nhân của “đồ bỏ đi ấy của Satan” như cách gọi của tác giả người Ý, Papini.
 
II. TIN VÀO CHÚA QUAN PHÒNG
 
1.    “Đừng lo lắng về của ăn áo mặc”
 
Tiếp theo việc phải chọn lưa giữa Thiên Chúa và Tiền của, Đức Giêsu khuyên chúng ta đừng lo lắng về cơm ăn áo mặc, hãy xem chim trời và hoa đồng nội, chúng sống thế nào !
 
          Chúng ta cần phân biệt giữa “lo lắng” và “lo liệu”. Chúa bảo chúng ta đừng lo lắng chứ không phải đừng lo liệu. Lo lắng vì không tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng. Mọi lo lắng đều liên hệ đến tương lai, mà tương lai là điều chưa có thật. Trái lại, lo liệu là vẫn lo làm việc hôm nay, tiên liệu cho ngày mai, nhưng luôn tin cậy phó thác cho Chúa.
 
          Lo lắng chủ yếu là không tín thác vào Chúa. Sự không tín thác như thế có thể hiểu được nơi người ngoại giáo với tin tưởng vào một thần linh ganh tị, thất thường, không thể đoán trước được, nhưng  không thể hiểu được nơi một người đã học gọi Thiên Chúa là Cha. Khi chúng ta đặt chính mình vào đôi tay của Thiên Chúa, chúng ta mở lòng mình để hưởng nhờ ơn Chúa bảo vệ chúng ta. Và chúng ta có thể sống đời sống của mình và cử hành giây phút hiện tại.
 
2.    Hãy tin vào Chúa quan phòng 
 
Quan phòng là hành động của Thiên Chúa hướng dẫn con người và thế giới cách nào đó mà ta không ngờ. Nó không phải là định mệnh, hay số mệnh như quan niệm bình dân. Bình dân hiểu : số mệnh, định mệnh là sự ấn định trước cho mỗi người phải chịu một kiếp sống tốt hay xấu, sướng hay khổ, thành hay bại giống như rút thăm, rút số ghi sẵn cái gì thì phải lãnh cái đó.
 
          Quan phòng là việc của người Cha khôn ngoan sáng suốt, đầy tình thương mến, hy sinh tận tụy lo toan cho con, nhưng cũng rất tôn trọng tự do sáng kiến của con, khi con hết lòng yêu mến, kính phục Cha, nó sẽ hết lòng vâng theo lời hay lẽ phải của Cha.
 
          Phụng vụ Chúa nhật hôm nay nhắc nhở cho ta  điều mà ta không bao giờ được quên là ta tùy thuộc vào Chúa từng hơi thở. Chúa là Chúa các tạo vật. Ngài nắm quyền ban sự sống và đem lại cái chết. Ngài cầm vận mạng mọi loài trong tay.
 
          Trong bài đọc 1,  tiên tri Isaia nhắc nhở cho dân chúng là ngay cả khi họ  bị lưu đầy bên Babylon, Chúa vẫn nhớ họ và không bỏ rơi họ. Mặc dầu bị án phạt, Chúa vẫn nhớ họ và giải thoát họ khỏi nô lệ. Sứ điệp của tiên tri Isaia bảo ta là phải đặt tin tưởng phó thác vào Chúa, ngay cả trong những ngày đen tối, bởi vì Thiên Chúa không bỏ rơi dân Người. Isaia còn đưa ra hình ảnh người mẹ với đứa con, không bao giờ người mẹ bỏ quên con, và giả như người mẹ có quên con đi chằng nữa thì Thiên Chúa cũng không bao giờ bỏ ta là con Ngài.
 
          Tin mừng cũng nói lên một sứ điệp tương tự Lời Chúa  vang dội bên tai ta như là lời an ủi vỗ về :”Các con chớ áy náy lo lắng mà nói rằng : chúng ta sẽ ăn gì, uống gì hoặc sẽ lấy gì mà mặc… Cha trên trời biết rõ chúng con cần những sự đó” (Mt 6,31-32).
 
Truyện : Người mẹ không quên con
 
          Một phụ nữ nghèo nàn ở trong một giáo xứ tại Dublin có một đứa con trai và đứa con này làm tan nát đời bà.
          Anh ta không chịu làm việc mà dùng thời giờ để uống rượu và la cà với những kẻ phá rối. Anh lấy trộm hết những vật có giá trị của bà trong nhà. Bao nhiêu lần, bà đã cầu xin anh thay đổi đời sống, nhưng anh từ chối không làm. Anh làm cho trái tim mẹ anh tan nát và đời sống bà trở nên khốn khổ.
          Có lúc anh ta phải vào tù. Hẳn là bà bỏ mặc anh ta ? Không đời nào. Bà đến nhà tù thăm anh ta không bỏ tuần nào, mỗi lần đều mang theo thuốc lá và những đồ dùng khác cho anh ta          trong một cái bao nhỏ. Một ngày nọ, một linh mục trong giáo xứ gặp bà lúc bà đang trên đường đến nhà tù.
          “Đứa con trai này làm đời bà tan nát” vị linh mục nói. “Nó sẽ không bao giờ thay đổi. Tại sao bà không quên nó đi” ?
          “Làm sao tôi có thể quên nó được” ? bà đáp lại. “Tôi không thích việc nó làm nhưng nó vẫn là con tôi”.
 
          Bạn có thể nói rằng người mẹ ấy điên. Tuy nhiên bà chỉ làm điều mà bất cứ bà mẹ nào đúng nghĩa một bà mẹ không thể không làm, đó là yêu thương con của mình dù ở hoàn cảnh nào. Một bà mẹ không bao giờ bỏ cuộc. Đối với hầu hết chúng ta, tình thương của bà mẹ  là một tình yêu của con người  đáng tin cậy nhất.  Nên không lạ gì khi Kinh Thánh dùng tình yêu của bà mẹ như một hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa (McCarthy).
 
3.    Quan phòng và hành động
 
          Tin vào Chúa quan phòng không phải là trao hết mọi việc vào tay Chúa rồi sống ỷ lại với tư tưởng :”Trời sinh voi, trời sinh cỏ” rồi “ngồi há miệng chờ sung rụng”.  Tin Chúa quan phòng không được mang tính cách thụ động, không phải thái độ vô vi, yếm thế, buông trôi.  Đức tin chân chính phải thể hiện bằng việc làm, càng tin, càng phải đem hết sức mình cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa : biết xây dựng trần thế tốt đẹp như khi Ngài dựng nên mọi sự tốt đẹp.
 
          Nếu Đức Giêsu nói :”Các con không phải làm gì cả, cứ tin vào Chúa quan phòng” thì tại sao trong toàn bộ Thánh Kinh, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nói điều ngược lại ?  Chương đầu tiên của sách Sáng thế đã cho chúng ta lệnh truyền :”Hãy thống trị đất và bắt nó pục tùng”.
 
          Thật ra, Đức Giêsu khẳng định :”Vì thợ đáng được nuôi ăn”(Mt 10,10).  Điều này được hiểu ngầm rằng  người nào không làm việc, người đó không có quyền ăn như thánh Phaolô kết luận (2Tx 3,10).  Và cũng phải đọc lại lời lên án  nghiêm khắc của người đã không làm sinh lợi  nén bạc mà người đó đã lãnh nhận (Mt 25,14-30). “Còn tên đầy tớ vô dụng kia, hãy quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài”.
 
          Vả lại, Ở Nazareth, Đức Giêsu đã có một nghề nghiệp : Ngài đã trải qua kinh nghiệm sống đổ mồ hôi, sôi nước mắt.  Và cũng như 20 gia đình tạo thành ngôi làng nhỏ miền quê ấy, Ngài cũng phải sở hữu ít đồng ruộng và một vài gia súc. Đức Giêsu hoàn toàn biết rằng tiền bạc có ích và cần thiết cho cuộc sống.
 
          Nhà nho cũng hiểu điều đó khi nói :”Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức” : trời hành động kiên cường thế nào thì quân tử cũng phải tự cường, hết sức làm như thế, không ngưng nghỉ.  Quân tử là con trời, con vua, là hiền nhân, minh triết, phải biết tri thiên mệnh : biết ý trời, biết mệnh lệnh của trời để làm theo.  Tin có thiên mệnh, tin cáo đạo Trời, chính là tin Thiên Chúa quan phòng sắp xếp mọi trật tự cho muôn loài trong trời đất.   
 
Nhà nho chân chính Nguyễn công Trứ luôn luôn kiên cường hành đạo không mỏi mệt, không vụ danh lợi, dù làm tướng, làm quan hay làm lính “vẫn ra tay buồm lái với cuồng phong”. Nhờ thế, ông đã biến biển cả thành nương dâu, đồng ruộng Kim Sơn, Tiền Hải cho nhân dân ấm no.  Nhất là ông đã biến những con người yếm thế  thành những nam nhi anh hùng :”Chí những toan xẻ núi lấp sông”,  biến những tâm hồn tham danh lợi thành trong sáng thanh tao :”Chẳng lợi danh gì lại hóa hay”. Một con người đầy chí khí không cầu thành công danh lợi, chỉ cầu thành nhân mưu ích cho đời :”Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.
 
          Đức Giêsu đâu có thành công lúc sinh thời, nhưng đã thành Đấng Cứu Độ của muôn dân.
III. TÌM CÁI ƯU TIÊN CHO CUỘC SỐNG
 
          Trong tất cả các tạo tạo vật nơi vũ trụ và tất cả các sinh vật trên mặt đất, mối quan tâm trước tiên của Chúa là con người, vì con người là một tuyệt tác phẩm của Thiên Chúa. Nếu Chúa quan tâm đến chim trời, đến hoa đồng cỏ nội, thì Chúa còn quan tâm hơn gấp bội đến con người, được tạo dựng giống hình ảnh của Chúa.
 
          Nhưng chúng ta phải đặt vấn đề và giải quyết : Tại sao với đủ mọi thứ bảo hiểm cho thân xác mà ta vẫn cảm thấy bồn chồn lo lắng, chưa có hạnh phúc ? Thưa, vì ta thiếu bảo hiểm cho tâm hồn.  Khi mà chủ thể, cùng đích và lẽ sống của ta không phải là Chúa nhưng là thứ gì khác, và khi thứ khác đó bị mất đi, ta sẽ ngã gục, vì không còn gì để bám víu. Chúa không muốn ta để cho những hoàn cảnh hay trạng huống của cuộc sống điều khiển và chi phối.  Chúa muốn ta sống thế nào để có thể cảm nghiệm được tình yêu và quan phòng của Chúa từ lúc này qua lúc khác, từ ngày nọ qua ngày kia.  Để được như vậy, ta cần chiêm niệm Lời Chúa :”Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn mọi sự khác, Người sẽ ban cho”(Mt 6,33).
 
Truyện : Nguyên tắc sinh tồn
          Một giáo sư thực vật học, tay cầm một hạt giống nhỏ mầu nâu và nói với cả  lớp rằng :
-          Tôi biết rõ hợp chất của hạt giống này. Nó gồm Hydro, carbon và nitro.  Tôi biết đúng tỉ lệ và có thể tạo ra một hạt giống khác trông y như hạt giống này.
Một học sinh đứng lên hỏi :
-          Thưa thầy, nếu đem hạt giống thầy chế tạo đó mà gieo xuống đất, nó có thể mọc lên không ạ ?
Giáo sư trả lời :
-          Với hạt giống của tôi, điều đó không thể được. Nhưng nếu tôi đem hạt giống mà Thiên Chúa đã làm ra, nó sẽ mọc lên thành cây, vì nó chứa đựng nguyên tắc mầu nhiệm mà chúng ta gọi là nguyên tắc sinh tồn.
 
Hạt giống là một cái gì chứa đựng sự sống. Con người, có thể với sự tài giỏi của khoa học, tạo ra những hạt giống tương tự hoặc tạo ra những người máy robot, song không thể tạo ra được sự sống được. Quyến sống chết chỉ duy nhất ở trong tay Thiên Chúa thôi.
 
Nếu Chúa đã nói :”Các con đừng lo lắng về ngay mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó”(Mt 6,34) thì chúng ta phải hiểu là : quá khứ đã qua đi rồi, hãy quên nó đi; hiện tại đang nằm trong tay, phải chu toàn nó; tương lai là của Chúa, hãy phó thác cho Ngài và sống trong an bình thư thái.

 
CHÚA NHẬT 7 THƯỜNG NIÊN A
HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ
+++
 
 
A. DẪN NHẬP
 
          Ngày xưa, Thiên Chúa đã truyền cho ông Maisen nói với dân chúng :”Các ngươi phải nên thánh vì Ta là Đấng thánh”, vì Israel là dân ưu tuyển của Thiên Chúa nên họ phải nên thánh thì mới xứng đáng với danh hiệu ấy. Ngày nay, qua bí tích rửa tội chúng ta trở thành dân Israel mới, dân thánh của Thiên Chúa, nên Đức Giêsu phán :”Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện”. Đó là mệnh lệnh Đức Kitô đòi buộc chúng ta phải thi hành. Một khi đã trở nên con cái Thiên Chúa, chúng ta phải tìm cách nên giống Ngài.
 
          Phải chăng đây là một thách thức khó khăn ? Thật vậy, chúng ta không thể nào hoàn thiện như Thiên Chúa nhưng Chúa không đòi hỏi chúng ta  phải làm điều quá sức vì theo nguyên tắc :”Nemo ad impossibile tenetur” :  không ai bị buộc phải làm điều không có thể.   Điều Ngài muốn, đó là chúng ta cố gắng tiến gần đến sự hoàn thiện theo sức của mình. Hãy gắng sức thực thi những điều phải làm nhất là trong lãnh vực yêu thương tha nhân.
 
          Trong Cựu ước cũng như trong Tân ước đều có luật yêu thương tha nhân : “Hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi”. Hôm nay, Đức Kitô nói với chúng ta hãy theo gương Ngài, thúc đẩy tình yêu ấy đến mức độ anh hùng : đặc biệt là tha thứ cho kẻ thù và lấy ân báo oán. Như vậy “Các con sẽ là con Cha trên trời, Đấng cho mặt trời chiếu soi kẻ dữ cũng như người lành, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương”.
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA   
 
          Bài đọc 1 : Lv 19,1-2.17-18  
 
          Sách Lêvi là bộ sưu tập những khoản luật rất cổ xưa, trong đó các chương từ 17 đến 25 (đoạn được trích đọc hôm nay nằm trong phần này) được gọi là “Bộ luật về sự thánh thiện”.
 
          Tác giả sách Lêvi nhắc nhở cho người Do thái biết rằng họ là dân riêng của Thiên Chúa, dân được ưu tuyển, họ được kêu mời phải nên thánh vì “Thiên Chúa là Đấng thánh”. Lời kêu gọi nên thánh này buộc họ phải sống yêu thương tha nhân như chính mình, tình yêu thương không được giới hạn trong dân tộc mình mà phải lan tỏa đến các dân tộc khác nữa.
 
          Sách Lêvi diễn tả cuộc sống yêu thương theo 2 phương diện :
- Phương diện tiêu cực là “ngươi sẽ không thù ghét anh em ngươi… ngươi sẽ không báo oán, không cưu thù với anh em ngươi”.
- Phương diện tích cực là “ngươi hãy yêu mến đồng loại như chính mình ngươi”.
 
Điều luật này đã được Đức Kitô lấy lại và đưa tới chỗ hoàn hảo là dạy yêu thương cả kẻ thù.
 
 
 
          Bài đọc 2 : 1Cr 3,16-23  
 
          Một số người ở cộng đoàn Corintô tự cho mình là kẻ khôn ngoan, có đường lối riêng biệt với những lời hoa mỹ, nên đã gây ra sự chia rẽ trong cộng đoàn.
 
          Thánh Phaolô nhắc nhở cho các tín hữu Corintô nhớ rằng cộng đoàn của họ là đền thờ thiêng liêng có Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động.  Vậy phải coi chừng đừng để cho các lý thuyết sai lạc phá vỡ tính hiệp nhất và sự đoàn kết, gây hoang mang bất ổn cho cộng đoàn.
 
          Bài Tin mừng : Mt 5,38-48 
 
          Đức Giêsu đã khẳng định Ngài đến không phải để phá bỏ Lề Luật và giáo huấn các tiên tri, nhưng đến làm cho nó được hoàn hảo và mới mẻ hơn (Bài Tin mừng tuần trước), Vì thế Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ phải biết yêu thương, gạt bỏ tính thù oán và thay vì lấy ác báo ác thì hãy lấy ân đền oán.
 
          Ngài bắt đầu bằng cách kết án luật công bình tức luật trừng phạt cân xứng :”Mắt đền mắt, răng đền răng”, mặc dầu nó tôn trọng sự công bình chặt chẽ. Người Kitô hữu phải vượt lên trên sự câu nệ lề luật.
 
          Hơn thế nữa, Ngài đòi buộc các môn đệ, không chỉ đừng thù oán, nhưng còn phải yêu kẻ thù và còn làm ơn cho họ nữa.  Lý do lòng yêu thương bao la ấy là chúng ta phải noi gương Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời “Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên người công chính lẫn kẻ bất lương”.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
                   Hãy sống đời hoàn thiện
 
I. GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG  
 
1.    Luật yêu thương trong Kitô giáo  
 
a) Trong Cựu ước : Luật cũ Lêvi 19,18 dạy yêu tha nhân. Theo quan niệm của người Do thái, tha nhân là những người đồng chủng, nghĩa là chỉ người Do thái. Còn tất cả mọi người khác là ngoại bang, là kẻ thù, không được thương mà cũng không được giúp.
 
          Trong luật không dùng tới chữ “ghét” (ghét thù địch) song dễ hiểu như vậy. Việc ghét thù địch này suy diễn ra tữ những bản văn khuyên xa tránh dân ngoại (Đnl 20,13-17; 23,4-5; 25,17-19). Người Do thái từ chối mọi liên đới với người không cắt bì, vì cho rằng họ không có bổn phận gì về công bằng với người ngoại. Có thể đánh lừa, ăn trộm, mà không phải áy náy gì hết.
 
          b) Trong Tân ước : Đức Giêsu đã tuyên bố Ngài đến không phải để phá bỏ luật cũ nhưng đến để kiện toàn nó, làm cho nó nên hoàn hảo hơn. Vì thế, theo giáo huấn của Đức Giêsu về luật yêu thương tha nhân, thì sự bao dung đại lượng còn phải đi tới chỗ yêu thương  thù địch nữa.
 
          Luân lý của người Do thái xưa chỉ buộc yêu thương những người gần gũi, nghĩa là những người đồng chủng, đồng bào, đồng tín ngưỡng với mình.  Nhưng nay Đức Giêsu dạy phải yêu thương hết mọi người, vì mọi người là anh em với nhau như người ta thường nói :”Tứ hải giai huynh đệ” : bốn bể anh em một nhà.
 
          2. Luật Talion (luật báo thù)  
 
          Ngày xưa dân Do thái cũng như dân ngoại đối xử với nhau quá mức trong việc trả thù. Ví dụ : Cain báo thủ 7 lần, Lamek báo thù 70 lần 7 (St 4,15; 4,17-24) : vì bị thương, ta giết một người; ta trầy da, một nam nhi toi mạng (Kn 4,23-24).
 
          Nhưng khi luật Talion ra đời, luật này qui định một hình phạt tương đối với thiệt hại đã gây ra.
 
          Đức Giêsu khởi sự bằng cách trích dẫn luật cổ nhất thế gian : mắt đền mắt, răng đền răng, luật ấy gọi là  Lex talionis (luật báo thù).  Nó xuất hiện trong bộ luật cổ nhất gọi là luật của Hammurabi, vị hoàng đế trị vì Babylon từ năm 2285-2242 TC.
 
          Luật Hammurabi phân biệt cách đối xử kỳ lạ giữa người quí phái và công nhân :  nếu một người gây cho người quí phái mất con mắt thì người ấy sẽ phải mất một mắt.  Nếu người ấy làm thương tật người quí phái thì người ta sẽ làm thương tật người ấy. Nếu người ấy làm cho người nghèo mất một mắt hoặc phá hoại một tứ chi của người nghèo, người ấy phải trả một mina bạc… Nếu người nào làm cho người ngang hàng gẫy răng, thì người ta cũng làm cho người ấy rụng lại một răng. Nếu người nào làm một người nghèo gẫy một răng thì người ấy phải trả một phần ba mina bạc !  Nguyên tắc thật rõ ràng và rất đơn giản : nếu ai làm cho người khác bị thiệt hại điều gì thì người ấy bị thiệt hại tương đương.
 
          Luật ấy trở thành một phần nhỏ của đạo đức Cựu ước.  Trong Cựu ước luật ấy được đề cập không dưới ba lần :
 
          “Còn nếu có sự thiệt hại chi , thì ngươi sẽ lấy mạng đền mạng, lấy mắt đền mắt, lấy răng đền răng, lấy tai đền tai, lấy chân đền chân, lấy phỏng đền phỏng, lấy bầm đền bầm, lấy thương đền thương”(Xh 21,23-25).
 
          “Khi người nào làm thương tích  cho kẻ lân cận mình, thì người ta phải làm thương tích cho người đó lại như chính người đó đã làm, gẫy đền gẫy, mắt đền mắt, răng đền răng. Người ta sẽ làm cho người ấy đồng một thương tích như người ấy đã làm cho người khác”(Lv 24,19-20).
 
          “Mắt ngươi chớ có thương xót, mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân” (TL 19,21).
 
          Chúng ta nhận thấy rằng luật Talion đã có sự tiến bộ. Trước hết luật này có ý  hạn chế luật báo thù. Luật qui định chỉ người gây thương tích mới bị hình phạt và hình phạt không được thái quá, mà chỉ tương đương với sự thiệt hại mà người ấy đã gây ra mà thôi.
 
          Thứ đến, luật này cũng không cho cá nhân nào quyền tự trả thù, dù chỉ là một cái tát. Luật bao giờ cũng là một hướng dẫn cho quan án trong việc khoản phạt cho bất cứ hành động bất công hay vũ phu nào.
 
          Sau cùng, luật không được áp dụng theo nghĩa đen vì có sự chênh lệch, ví dụ răng tốt hay răng xấu, mắt tốt hay mắt xấu. Nên về sau  sự thiệt hại gây ra  được định theo giá tiền.  Và luật Do thái (Baba Kamaa) đã ấn định cẩn thận cách đánh giá sự thiệt hại.
 
II. HÃY YÊU THƯƠNG KẺ THÙ  
 
          Đức Giêsu đã phán :”Các con cũng đã nghe dạy rằng :”Hãy yêu thương tha nhân, và ghét thù địch”. Còn Thầy, Thầy bảo các con :”Các con hãy yêu thương thù địch và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con”(Mt 5,43-44). 
 
          1. Kẻ thù là ai ? 
 
          Chắc Đức Giêsu không có ý nói kẻ thù là kẻ đang gây gỗ, lăng nhục, làm hại hay chém giết ta, nhưng kẻ thù đây có một biên độ và ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều, nghĩa là  bao giờ tất cả những ai cố tình làm hại ta  về mọi mặt như phẩm giá, của cải vật chất, gia đình thân thuộc mà ta biết rõ. Như thế có nhiều hạng, nhiều cấp bậc kẻ thù, nên bảo ta yêu thương tha thứ cho họ không đến nỗi quá khó khăn hay lực bất tòng tâm.
 
2.    Chúa dạy ta yêu kẻ thù  
 
Dù sao theo bản tính hư hèn yếu đuối thì việc yêu kẻ thù luôn gây cho ta nhức nhối khó chịu vì nó đi ngược lại tình cảm thông thường. Nó đòi hỏi ta phải có một sự cố gắng không ngừng.
         
          Để thực hiện luật yêu thương này, Đức Giêsu đơn cử ra hai việc thực hành :
 
          a) “Hãy làm lành cho những kẻ ghét các con”.  Ở đây muốn nói : Tình yêu thương tha nhân không phải thôi  không giận hờn, không báo oán nữa nhưng phải tỏ ra bằng hành động cụ thể qua những cử chỉ rõ ràng là những việc lành như : giao tiếp, giúp đỡ, bác ái, cầu nguyện…
 
          b) “Và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ”. Đây là thái độ biểu lộ tình yêu tha nhân cách tích cực : lấy điều lành đền đáp lại điều dữ.
 
          Ta có bổn phận phải thương yêu bạn hữu. Song chỉ yêu bạn thì đâu có gì đáng thưởng. Vì cho được thưởng đời đời thì nhân đức phải bắt nguồn từ suối siêu nhiên. Vì thế :
-          Làm sự dữ để trả ơn lành là ma quỉ.
-          Làm sự lành để trả ơn lành là nhân loại.
-          Làm sự lành để trả sự dữ là Thiên Chúa
 
Vậy người Kitô hữu không được đứng ở chỗ nhân loại, mà phải tiến xa hơn đến chỗ Thiên Chúa. Như thế mới xứng đáng là con cái Chúa, Đấng làm ơn lành cho kẻ ghét Ngài.
 
Truyện : Tổng thống Nelson Mandela
 
          Ông Nelson Mandela đã trải qua 27 năm trong nhà tù Nam Phi. Sau cùng, khi ông được phóng thích, ông đã có mọi lý do  để cảm thấy chua cay, và tỏ ra quyết tâm trả thù những người đã cướp đoạt tự do của ông một cách bất công. Thay vì như thế, ông tỏ ra tươi cười và cố gắng hòa giải với những nhà lãnh đạo của chế độ đã bắt giam ông. Do đó ông trở thành viên đá góc tường của nước Nam Phi mới. Nếu ông nuôi dưỡng sự cay đắng uất hận, ai biết được điều gì đã xảy ra ?
 
          Trong cuốn tiểu sử tự thuật “Hành trình đến tự do” (1994), ông nói với chúng ta :
          “Tôi biết rằng dân chúng chờ đợi tôi nuôi dưỡng sự giận dữ  đối với người da trắng. Nhưng tôi đã không làm thế.  Trong nhà tù, sự tức giận của tôi với người da trắng giảm xuống, nhưng lòng thù ghét hệ thống xã hội đã tăng lên. Tôi muốn thấy đất nước Nam Phi thấy tôi yêu thương  cả những kẻ thù của tôi trong khi tôi thù ghét hệ thống đã khiến chúng ta  chống đối lẫn nhau.  Tôi đã thấy sứ mạng của tôi là rao giảng sự hòa giải hay chữa lành những vết thương lâu đời và xây dựng một nước Nam Phi mới” (McCarthy,  Chúa nhật và lễ trọng năm A, tr 359-360).
 
3.    Nhiều người đã thực hiện  
 
a) Học thuyết của Khổng Tử : Trong vấn đề cư xử, học thuyết của Đức Khổng Phu Tử còn giống luật báo oán của Cựu ước. Ngài dạy học thuyết :”Dĩ trực báo oan”. Nhưng sau này, các đồ đệ của ngài muốn đi xa hơn, họ đã thêm vào học thuyết của ngài câu :”Dĩ đức báo oán".
 
b) Đức Phật Thích Ca : Ngài tìm phương thế giải thoát con người  ra khỏi vòng đau khổ. Ngài chủ trương giáo thuyết TỪ BI, lấy từ bi làm phương châm cho mọi hoạt động, mà đã từ bi thì phải hỉ xả, do đó, ngài không chấp nhận luật công bình, mà chỉ chấp nhận luật tha thứ. Ngài nói :”Lấy oán báo oán, oán ấy chập chồng. Lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan”.
 
          c) Ông Gandhi nói :”Luật vàng của xử thế là sự tha thứ lẫn nhau”. Ông đã dùng thuyết bất bạo động để giải phóng dân tộc Ấn độ khỏi ách thống trị của người Anh.
 
          d) Mục sư Luther King : Trong tác phẩm của ông “Chỉ có một cuộc cách mạng”, ông nói :”Trong Tân ước, chúng ta thầy từ “Agapè” được dùng để chỉ tình yêu. Đó chính là tình yêu dồi dào không đòi một đáp trả nào hết. Các nhà thần học nói  đó là tình yêu Thiên Chúa  được thực hiện nơi tâm hồn con người. Khi vươn lên đến một tình yêu như vậy, chúng ta sẽ yêu hết mọi người, không phải vì chúng ta có thiện cảm với họ, cũng không phải vì chúng ta  đánh giá cao lối sống của họ, chúng ta yêu thương họ vì Thiên Chúa yêu thương họ”.
 
          Đó chính là ý nghĩa lời Đức Giêsu: “Các con hãy yêu thương kẻ thù”. Phần tôi, tôi sung sướng  vì Ngài đã không nói :”Anh em hãy có thiện cảm với kẻ thù của anh em”  bởi vì có những người mà tôi khó có thiện cảm nổi.  Thiện cảm là một xúc cảm. Tôi không thể có xúc cảm với người đang ném bom vào gia đình nhà tôi. Tôi không có thiện cảm với người bóc lột tôi. Tôi không có thiện cảm với người đè bẹp tôi dưới sự bất công. Không, không thể có một thiện cảm nào đối với người đêm ngày đe dọa giết tôi.  Nhưng Đức Giêsu nhắc tôi rằng tình yêu còn lớn hơn thiện cảm, rằng tình yêu là thiện chí biết cảm thông, có tính sáng tạo, cứu độ đối với hết mọi người”.
 
4.    Phải chăng tha thứ là nhu nhược ?  
 
          Giới răn của Đức Giêsu “Hãy yêu thương kẻ thù” là một sự từ bỏ triệt để bạo lực. Thay  thế tình yêu cho thù hận  là một việc khó khăn nhất trên đời. Ý tưởng ấy rất cao và rất khó  nhưng nó tạo nên ý nghĩa.
 
          Là những Kitô hữu, chúng ta đứng về phái bất bạo động. Tuy nhiên đó không phải là một chọn lựa sự nhu nhược hay thụ động. Chọn lựa bất bạo động có nghĩa tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chân lý, của công bằng và tình yêu hơn là sức mạnh của chiến tranh, vũ khí và hận thù… Chúng ta phải cố gắng dùng điều tốt nhất để đáp lại điều xấu nhất.
 
          Là những Kitô hữu, chúng ta phải cố gắng học theo lòng quảng đại của Thiên Chúa, sẵn sàng tha thứ, không đòi trả thù và oán hận chống lại người khác. Nếu các Kitô hữu không cố gắntg bắt chước tình yêu không phân biệt của Thiên Chúa, họ sẽ không tốt hơn những người khác.
 
          Chính sự tha thứ sẽ giải phóng con người, còn nếu nuôi lòng hận thù báo oán thì con người sẽ chuốc lấy sự đau khổ. Một người vô danh đã nói rất đúng :”Khi chúng ta ghét kẻ thù là chúng ta cho họ quyền áp đảo chúng ta – quyền lực này xâm chiếm giấc ngủ chúng ta, khiến chúng ta bị tăng huyết áp và đe dọa luôn cả sức khỏe lẫn hạnh phúc của chúng ta. Kẻ thù của chúng ta  hẳn sẽ nhảy múa vui mừng nếu họ biết được sự căm ghét đã xâu xé chúng ta đến thế. Lòng căm ghét của chúng ta chẳng gây thương tổn cho họ chút nào cả. Nó chỉ khiến chúng ta  ngày đêm bị rơi vào hỗn loạn địa ngục”.
 
          Nói cách khác, viên đạn căm thù  chỉ có thể làm thương tổn kẻ thù  chúng ta  sau khi đã xuyên qua thân xác chúng ta trước.  Người Hy Lạp cổ thường ví von như sau :”Người khôn ngoan thà chịu đựng sự ác hơn là làm điều ác”.
 
Truyện : Ông Hammelmann tha thứ
 
          “Tôi đã bị bắt, cảnh sát đã tìm thấy tôi. Tôi vốn là con người hiếu sát. Tôi đã giết bà Hammelmann và tôi cũng bắn chết luôn 4 người con của bà, tôi thấy họ nằm chết trên vũng máu.
          Bây giờ tôi bị giam trong khám của Đức. Tôi đã ở trong khám  trải qua 20 năm. Sau khi cảnh sát bắt được tôi và tôi bị đưa ra tòa; quan tòa đã tuyên án :”Anh đã làm một việc vô cùng tàn bạo, anh phải ngồi tù 20 năm”.
          Đang khi ở trong tù, tôi có nhận được một lá thư.  Đây là một bức thư hết sức lạ lùng của ông Hammelmann, ông đã viết thư này cho tôi vì ông đã nhận được một tin là chính quyền Polish sẽ không cho phép tôi sau khi được tự do trở về quê hương của tôi là Poland.  Ngay cả chính quyền Đức  cũng đã nói rằng :”Chúng tôi không muốn anh sống tại nước Đức”.
 
          Bức thư của ông Hammelmann viết :”Tôi tha thứ cho anh về việc anh giết vợ và 4 con tôi.  Tôi cũng đang vận động với chính quyền Đức để họ cho phép anh được sống tại Đức. Tôi đã nói với chính phủ Đức là anh có thể ở trong nhà tôi và tôi sẽ giúp anh sống một cuộc đời lương thiện”.
 
          “Tại sao tôi lại muốn giúp đỡ anh ? Tại sao tôi có thể tha thứ cho anh  về tội anh tàn sát gia đình tôi ?  Tôi có thể làm điều này vì Đức Chúa Trời đã làm một điều lạ cho tôi. Ngài đã ban cho tôi Thánh Linh của Ngài. Thánh Linh của Đức Chúa Trời bây giờ dẫn dắt đời sống tôi và Ngài ban thêm sức cho tôi để tôi có thể tha thứ cho anh”.
         
          Bây giờ tôi biết được rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời phải có một quyền năng siêu việt.  Ngài đã cất mối tử thù khỏi lòng một người và ban cho ông ta một tấm lòng muốn giúp đỡ tôi, mặc dầu tôi đã giết vợ và 4 đứa con của ông ta (Thánh Kinh Nguyệt san, số 367, tháng 8/1969, tr 16).
 
III. HÃY SỐNG ĐỜI HOÀN THIỆN
 
          Trong bài đọc 1, Thiên Chúa phán với ông Maisen :”Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Israel và bảo chúng : Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các người, Ta là Đấng thánh” (Lv 19,1-2). Dân Do thái là dân thánh, là dân ưu tuyển của Thiên Chúa, cũng phải sống thánh thiện mới xứng đáng là dân riêng của Ngài.
 
          Chúng ta là dân Israel mới, nhờ bí tích rửa tội, chúng ta trở thành dân thánh của Thiên Chúa. Vì vậy, trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng khuyên bảo chúng ta :”Các con hãy nên hoàn thiện, như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).
 
          Chúng ta biết chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng hoàn thiện, tốt lành vô cùng, chúng ta không thể trọn hảo như Ngài được. Nhưng chúng ta phải nên trọn lành như ý Ngài muốn, theo mẫu gương thánh thiện của Ngài, là Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ.
 
          Vì vậy, Đức Giêsu khuyên ta  phải trọn lành bằng cách yêu thương thù địch cũng như yêu thương bạn bè, đừng ăn miếng trả miếng, đừng sống theo nguyên tắc :”Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại(Tục ngữ) Tình thương trọn lành không nên phân biệt đối tượng và không có ranh giới.
 
Truyện : Tha thứ cho kẻ thù.
 
          Một ông bố giầu có, cảm thấy già yếu gần đất xa trời, bèn gọi ba đứa con trai lại chia gia tài đồng đều cho chúng,  duy còn lại một viên kim cương gia bảo quí giá không thể chia cắt được.
          Ông ta giải quyết bằng cách  nói với các con rằng :”Ta sẽ trao viên kim cương cho đứa nào thực hiện được một việc lành tốt đẹp nhất. Vậy các con hãy ra đi và thực hiện cho được điều kiện đó”.
          Ba đứa con lên đường và ba tháng sau trở về. Người con cả nói với bố :
-          Một người ngoại quốc đã giao toàn bộ tài sản cho con và con đã thủ tín  trả lại đầy đủ.
Người cha tuyên bố :
-          Con đã làm phận sự của con rất tốt đẹp.
Đến lượt đứa con thứ trình :
-          Thưa cha, con đã xả thân cứu được  một em bé sắp chết đuối.
Người cha khen anh ta. Rồi quay sang nhìn đứa con út . Cậu ấp úng bẩm :
- Thưa cha, trong một cuộc hành trình con thấy địch thù con đang ngủ say bên một bờ vực sâu.  Con nghĩ con có thể xô nó xuống vực dễ dàng, nhưng con không làm. Trái lại con đánh thức nó dậy và cứu nó.
Nghe xong, người cha ôm hôn cậu út và tuyên bố :
- Viên kim cương gia bảo thuộc về con, vì con đã làm một việc lành vĩ đại biểu lộ một tấm lòng nhân ái chân thực là yêu thương tha thứ cho kẻ thù mình.
 
TUẦN I THƯỜNG NIÊN
LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA A

NÀY LÀ CON TA YÊU DẤU
 
A. DẪN NHẬP.
 
          Các bài đọc Thánh lễ hôm nay cho chúng ta biết : Đức Giêsu Kitô được tiên tri Isaia gọi là Người Tôi Tớ, đã đến chịu phép rửa ở sông Giorđan và được Thiên Chúa tấn phong và nhận làm  Con Yêu Dấu của Ngài. Người Tôi Tớ này có sứ mạng đem Tin mừng cho tất cả mọi người, cho mọi dân tộc trên thế giới.
 
          Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế hòan tòan vô tì tích, thế mà lại đến xin Gioan làm phép rửa cho, tự coi mình như một tội nhân. Việc làm của Ngài nhắc nhở cho chúng ta phải ý thức về tội lỗi của mình mà ăn năn sám hối. Nước sông Giorđan không thánh hóa được Ngài, nhưng ngược lại, Ngài thánh hóa nuớc sống ấy, và từ đó lập nên bí tích rửa tội để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng trở nên con Thiên Chúa.
 
          Sách có chữ rằng :”Thùy năng xuất tất do hộ” : ai ra vào cũng đều phải qua cửa. Giáo hội là một tòa nhà tạm trú để đợi ngày về trời, nghĩa là trước ngày về trời, ai nấy phải qua cửa Giáo hội. Cửa ấy Đức Giêsu đã mở cho chúng ta thấy khi Ngài chịu phép rửa mà Giáo hội kính lễ hôm nay. Chính Đức Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô :”Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí”(Ga 3,5). Vì vậy, mọi người phải được rửa tội để được vào Nước Trời. Bí tích rửa tội sẽ xóa bỏ tội tổ tông và tội riêng, ban ơn thánh hóa và làm cho chúng ta trở nên con Thiên Chúa và được thừa hưởng Nước Trời.
 
          Trong phép rửa của Gioan, Đức Giêsu đã được Chúa Cha tuyên phong và nhận làm Con Yêu Dấu của Ngài. Cũng thế, qua bí tích rửa tội, chúng ta sẽ được nhận làm con Thiên Chúa và là thành viên của Hội thánh. Đây là một vinh dự quá lớn lao mà Thiên Chúa dành cho con người phàm hèn của chúng ta. Để đáp lại lòng thương yêu vô biên của Chúa, chúng ta phải tỏ lòng hiếu thảo đối với Chúa bằng cách tỏ lòng tri ân, yêu mến, làm sáng danh Chúa, sống khiêm tốn và phục vụ để làm vẻ vang cho Cha chúng ta ở trên trời.     
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
 
          + Bài đọc 1 : Is 42,1-4.6-7.
 
          Tiên tri Isaia là một tiên tri vĩ đại trong Cựu ước đã được Thiên Chúa hé mở cho biết về người Tôi Tớ mà ông đã mô tả trong bài thơ. Hôm nay phụng vụ trích đọc một đọan nằm trong bài thơ thứ nhất, có mấy ý như sau :
          - Người tôi tớ này được Thiên Chúa tuyển chọn, qúi mến và hài lòng.
          - Người tôi tớ này rất hiền từ dịu dàng, âm thầm  lặng lẽ nhưng rất mạnh mẽ bảo vệ và làm sáng tỏ chân lý.
          - Người tôi tớ này có sứ mạng soi sáng cho muôn nước, làm việc bác ái và giải thóat những người còn ở trong chốn tối tăm.
 
          + Bài đọc 2 : Cv 10,34-38.
 
          Thánh Phêrô cho biết : Thiên Chúa không thiên vị ai, hễ ai kính sợ Chúa và ăn ở ngay lành thì được Thiên Chúa chấp nhận, khắc hẳn với tư tưởng hẹp hòi của người Do thái, họ tưởng rằng ơn cứu độ chỉ dành riêng cho dân tộc họ.
 
          Thánh Phêrô cho biết thêm : Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa bởi ông Gioan ở sông Giorđan và sau khi đã được xức dầu tấn phong, sẽ đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân, thi ân giáng phúc cho họ bởi vì Thiên Chúa vẫn ở với Người.
 
          + Bài Tin mừng : Mt 3,13-17.
 
          Đức Giêsu mà tiên tri gọi là Tôi Tớ đã đến xin ông Gioan làm phép rửa cho mình ở sông Giorđan. Ông Gioan đã can gián Đức Giêsu vì Ngài không có tội gì, không cần rửa tội, chính mình mới cần chịu phép rửa. Nhưng Đức Giêsu xin Gioan rửa cho mình lấy lý do rằng : phải làm như vậy thì mới phù hợp với thánh ý Chúa.  Lúc đó, Gioan mới chịu chiều theo ý Ngài.
 
          Gioan đã dìm Đức Giêsu xuống nước và khi kéo Ngài ra khỏi nước thì trời mở ra và thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống trên Người dưới hình chim bồ câu và có tiếng từ trời phán :”Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”. Hôm nay Thiên Chúa Cha đã tấn phong và công khai công nhận Đức Giêsu là Con của Ngài.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                Này là Con Ta yêu dấu.
I. VIỆC ĐỨC GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA.
 
          1. Nghi thức thanh tẩy nơi nhiều dân tộc.
 
          Sau một thời gian sống chay tịnh khắc khổ trong hoang địa để chuẩn bị cho sứ mạng tiền hô của mình, ông Gioan đã đi rao giảng phép rửa sám hối để dọn lòng chờ đón Đấng Cứu thế. Có nhiều người đến thú tội  và chịu phép rửa do tay ông Gioan tại sông Giorđan.
 
          Thực ra, bất cứ một dân tộc nào, tuy không theo tôn giáo nào,  cũng có cảm thức sâu xa về thân phận tội lụy của mình và muốn thần linh tha thứ bằng một hình thức nào đó. Ví dụ ở Aán độ, những người theo Aán giáo đến trầm mình trong nước sống Hằng để được thần linh tha thứ. Ở Ai cập, người ta đến tắm gội trong dòng sông Nil để được thần linh thông cảm và tha thứ. Nơi nhiều dân tộc cổ sơ cũng có những kiểu tắm gội  dìm mình tương tự hay được rảy nước trên mình.  Đối với người Do thái, ngay từ thời Cựu ước, đã có những nghi thức thanh tẩy, nhưng ít chú trọng về phương diện luân lý. Sau này, nhất là gần thời Đức Giêsu, họ cũng tin những nghi thức thanh tẩy đó tượng trưng cho sự trong sạch tâm hồn, mặc dầu nó không phát sinh ra điều đó.
 
          2. Nghi thức thanh tẩy của Gioan.
 
          Gioan Tẩy giảû cũng làm phép rửa cho dân chúng tại sông Giorđan. Ông dìm họ xuống nước rồi kéo họ lên. Hình thức này khác với hình thức của các dân ngọai, họ tự dìm mình xuống nước, còn trong phép rửa của Gioan thì phải có người khác rửa cho. Và còn một điều khác quan trọng hơn, theo Tin mừng cho biết : họ phải có một thái độ nội tâm cũng như bên ngòai, như phải tin vào sứ điệp của Gioan, phải trở lại thực lòng, nghĩa là phải quay về với Thiên Chúa.
 
          Tuy nhiên, phép rửa của Gioan chỉ có tính cách tượng trưng, tự nó không có sức xóa bỏ được tội lỗi mà chỉ là nghi thức  nhắc nhở cho mọi người phải ăn năn sám hối và cải thiện đời sống. Chính thánh Gioan đã khẳng định điều đó :”Phần tôi, tôi rửa anh em trong nước để anh em được sám hối. Nhưng Đấng cao trọng hơn tôi đang đến, Ngài quyền phép hơn tôi, chính Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và bằng lửa”(Mt 3,11).
 
          3. Gioan làm phép rửa cho Đức Giêsu.
 
          Đức Giêsu từ Galilê đến sống Giordan tìm gặp Gioan Tẩy giả để xin ông làm phép rửa cho. Đức Giêsu đã đích thân và tự nguyện xin Gioan làm phép rửa cho, đó là một việc làm và một thái độ khiêm nhường thẳm sâu. Phép rửa của Gioan là phép rửa thống hối mà Đức Giêsu lại chịu phép rửa thống hối. Việc Đức Giêsu chịu phép rửa là một điều khó hiểu. Phép rửa của Gioan là để kêu gọi người ta ăn năn sám hối và mở đường đến sự tha tội. Nhưng nếu Đức Giêsu mà chúng ta tin là Đấng Cứu Thế, thì Ngài không đứng ở cương vị cần phải ăn năn và cũng không cần đến sự tha tội. Phép rửa của Gioan là để tội nhân  nhận thức tội lỗi mình phạm, nên không thể áp dụng cho Đức Giêsu được.
 
          Thực ra, đây là cơ hội thuận tiện để Ngài tự đồng hóa mình với những người Ngài đến cứu, đúng lúc họ nhận thức được tội lỗi của mình và tìm kiếm Thiên Chúa. Khi chịu phép rửa của Gioan, Đức Giêsu đã bằng lòng nhận số phận của Ngài liên hiệp với dân Ngài và với nhân lọai, Ngài mang lấy tội lỗi của họ : khi chịu phép rửa Ngài xua đuổi tội lỗi ấy, đồng thời Ngài dâng mình cho Thiên Chúa của Ngài.
 
          Khi Đức Giêsu bước ra khỏi nước thì Thánh Thần hiện xuống trên Ngài với hình con bồ câu và có tiếng phán ra từ trời :”Con là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta”. Tiếng nói mà Đức Giêsu nghe sau khi chịu phép rửa vô cùng quan trọng. Câu này bao hàm hai lời trích dẫn :
          -“Này là Con Ta yêu dấu”  được trích trong Thánh vịnh 2,7. Mọi người đều hiểu thánh vịnh này mô tả Đấng Cứu Thế, Vua quyền năng của Thiên Chúa, Đấng sẽ đến.
          -“Con đẹp lòng Ta” trích ra từ Isaia 42,1 mô tả về người Đầy Tớ Đau Khổ mà cao điểm là Isaia 53. Tại đây, đấng tiên tri nói về một đầy tớ lý tưởng của Thiên Chúa, hòan tòan theo ý muốn của Ngài, đang theo con đường vâng lời và phục vụ.
 
          Như vậy, Đức Giêsu được tuyên xưng là Con yêu dấu của Thiên Chúa, là Đấng mà nơi Ngài lời tiên tri này được ứng nghiệm hòan tòan. Và trong phép rửa của Đức Giêsu có hai điều được xác quyết :
          - Một là Ngài là Đấng lựa chọn của Thiên Chúa.
          - Hai là con đường trước mặt Ngài phải đi là con đường thập tự.
 
II. HIỆU QUẢ CỦA PHÉP RỬA.
 
          1. Bí tích rửa tội của chúng ta.
 
          Phép rửa của Gioan bằng nước chỉ là nghi thức tượng trưng nhằm thúc đẩy và diễn tả tâm tình thống hối. Còn phép rửa của Đức Giêsu được Gioan mô tả là bằng lửa và trong Thánh Thần, nghĩa là phép rửa của Đức Giêsu là một bí tích tuôn tràn Chúa Thánh Thần, mặc dầu cũng dùng nước, nhưng nước chỉ là điều kiện, là nghi thức bên ngòai, còn thực sự ta được rửa bằng lửa. Lửa ở đây ám chỉ sức mạnh của Chúa Thánh Thần biến đổi con người tội lỗi nên con Thiên Chúa, và đáng được hưởng gia nghiệp vĩnh cửu Nước Trời. Vì thế, phép rửa tội của chúng ta có mục đích xóa tội tổ tông và các tội riêng, ban ân sủng siêu nhiên, đời sống ơn thánh, làm cho ta trở nên con Thiên Chúa, làm công dân Nước Trời và thành viên của Hội thánh.
 
          Mỗi người chịu phép rửa tội, theo thánh Phaolô, được gọi là Kitô hữu. Kitô hữu là người được xức dầu và được tham dự vào ba chức năng của Chúa Kitô là tư tế, tiên tri và vương giả. Kitô hữu được gọi là người mang danh Chúa Kitô và được thuộc về Ngài. Kitô hữu là một danh hiệu thật cao quí.
 
          2. Mỗi người phải sinh lại.
 
          Ông Nicôđêmô đã được gặp Đức Giêsu vào ban đêm, trong câu chuyện trao đổi, Ngài đã nói với ông :”Thật, tôi bảo thật ông : không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”(Ga 3,3). Ngài còn nói rõ thêm :”Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần”(Ga 3,5).
 
          Thực vậy, bí tích rửa tội mang lại cho chúng ta một hiệu quả vô cùng cao quí, đó là sự tái sinh. Mỗi Kitô hữu là một người đã được tái sinh, nghĩa là chúng ta đã sinh ra lần thứ nhất với sự sống tự nhiên do cha mẹ, lần thứ hai với sự sống siêu nhiên do bí tích rửa tội. Nói rõ hơn, mỗi người chúng ta sinh ra hai lần : lần thứ nhất do cha mẹ, các ngài đã truyền cho chúng ta sự sống tự nhiên. Lần thứ hai do Thiên Chúa qua bí tích Rửa tội, Ngài ban cho chúng ta sự sống siêu nhiên.
          Thánh Phaolô viết cho một nhóm Kitô hữu mới chịu phép rửa tội như sau :”Khi chịu phép rửa, anh chị em đã được mai táng cùng với Đức Giêsu trong phép rửa, và anh chị em cũng sẽ được sống lại cùng với Chúa Kitô… Trước kia anh chị em đã chết về mặt thiêng liêng vì tội lỗi của anh chị em… Nhưng giờ đây, Thiên Chúa đã đưa anh chị em đến nguồn sống cùng với Chúa Kitô”(Cl 2,12-13).
 
          Ngày 01.06.1930 dịp lễ giáp năm ngày chịu phép rửa tội, Đức Giáo hòang Piô XI đã sung sướng nói với 1500 thanh niên ở Rôma :”Ngày Cha chịu phép rửa tội là ngày cao quí nhất của đời Cha, cũng như ngày các con  chịu phép rửa tội là ngày cao quí nhất của đời chúng con". Chúng ta hãy nhớ : ngày chúng ta chịu phép rửa tội là ngày chúng ta tái sinh trở nên con Chúa, ngày đáng ghi nhớ của chúng ta.
 
          3. Sinh lại để làm con Chúa.
 
          Nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta trở nên con Thiên Chúa. Không phải chỉ là có danh, nhưng thực sự như thế, chúng ta là con Thiên Chúa và Thiên Chúa là Cha chúng ta, một người Cha yêu thương chúng ta vô cùng. Trong Kinh Lạy Cha, Đức Giêsu đã dạy các Tông đồ cầu nguyện và mở đầu bằng câu :”Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Như thế, Đức Giêsu tiết lộ cho chúng ta  biết chúng ta được làm con một Cha trên trời.
 
          Tìm về nguồn gốc, ngày xưa Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người đầu tiên là Adong và Evà. Thiên Chúa đã cho họ gọi Ngài là Cha. Nhưng vì phạm tội ăn trái cấm không vâng phục Ngài nên bị phạt mất quyền làm con, không được gọi Thiên Chúa là Cha nữa, mà phải sống dưới quyền lực của ma qủi và tội lỗi. Nhưng vì thương yêu nhân lọai, Thiên Chúa sai Con Một xuống thế làm người, chịu chết chuộc tội cho thiên hạ, để lấy lại quyền làm con mà nhân lọai đã bị đánh mất. Nhờ bí tích Rửa tội mà Đức Giêsu đã trả lại cho chúng ta  quyền được làm con Thiên Chúa để có thể gọi Thiên Chúa là Cha :”Abba, cha ơi”!
 
          Trên đời không ai có thể thiếâu được người cha vì cha là yếu tố cần thiết cho người con để cho người con có chỗ nương tựa vì :
 
                             Con có cha như nhà có nóc,
                             Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.
 
          Trong đời sống thiêng liêng, chúng ta không thể thiếu được Thiên Chúa là Cha. Ngài đã dựng nên chúng ta lại còn nuôi dưỡng bằng ân sủng của Ngài. Chúng ta hãy vui sướng và hãnh diện có Thiên Chúa là Cha, chúng ta sẽ không phải là đứa con mồ côi. Còn gì quí bằng danh hiệu được làm con Thiên Chúa mà đã là con thì được gọi là Cha : Lạy Cha chúng con ở trên trời.
 
          Một khi đã được gọi Thiên Chúa là Cha, chúng ta phải tin cậy phó thác vào Ngài. Ngài phải chiếm chỗ cao nhất trong đời chúng ta và chúng ta phải qui hướng mọi sự vào Ngài, coi Ngài như trung tâm điểm của đời sống. Ngài phải là “Number One”.  Ngài là Number one, còn chúng ta là Zéro, là số không. Nếu chúng ta để số 1 đứng trươc số không (0) thì số không ấy có ý nghĩa, càng nhiều số không thì số ấy càng to, ví dụ 1.000.000. Nếu để số 1 đàng sau số không thì con số càng nhỏ, càng nhiều số không thì càng nhỏ, ví dụ : 000.000.1. Cho nên, Thiên Chúa phải chiếm chỗ cao nhất trrong đời ta. Ngài phải là “Number One” trong đời ta.
 
III. BỔN PHẬN NGƯỜI CHỊU PHÉP RỬA TỘI.
 
          1. Cảm tạ hồng ân Thiên Chúa.
 
          Trong thánh vịnh 50 tác giả đã nói :”Mẹ con đã hòai thai trong tội”, khi sinh ra chúng ta vẫn là tội nhân, làm nô lệ cho tội lỗi và ma quỉ. Nhưng Thiên Chúa đã yêu thương lòai người, xuống thế làm người, chịu chết chuộc tội cho thiên hạ. Đức Giêsu lại còn cứu chuộc chúng ta  một lần nữa qua bí tích rửa tội và làm cho chúng ta trở thành con Thiên Chúa. Đây là một vinh dự vô cùng lớn lao vì “Con vua thì lại làm vua”.
 
          Tước vị làm con Thiên Chúa thật là lớn lao. Tuy tước vị này, nhất là linh hồn chúng ta, bị che phủ bằng một thân xác phàm hèn, không ai xem thấy, không ai biết giá trị của nó, nhưng tự bản chất nó thực là cao quí. Trường hợp này giống như ở Miến điện, có nhiều bức tượng bằng vàng ròng, vì sợ bị ngọai xâm cướp mất, có vị sư đã lấy một lớp đất sét trét lên các bức tượng ấy để giấu đi cái cốt lõi thật của các bức tượng… nhưng dưới cái lớp vỏ đất sét ấy là cả một khối vàng ròng quí giá.
 
          Hồng ân của bí tích rửa tội  cũng thật lớn lao và cao quí. Có thể qúi như những viên ngọc trai mà nhiều người chưa biết giá trị của nó. Đúng là “vật khinh nhưng hình trọng”.
 
                                      Truyện : Hạt ngọc trai.
          Ngày 19. 03.1627, Cha Đắc Lộ đến Cửa Bạng Thanh hóa. Lời đầu tiên ngài nói với cha ông chúng ta :”Hiện giờ tầu của chúng tôi có chở một thứ hạt trai tuyệt đẹp và quí giá, ai mua thì cả đời được giầu có hạnh phúc muôn thuở. Không nên sợ giá cao, vì chẳng ai nghèo đến nỗi không đủ tiền mua hạt trai ấy”. Tổ tiên chúng ta khấp khởi vui mừng, xin ngài ít là cho xem đôi ba hạt. Ngài trả ời :”Hạt ấy mắt xác thịt không thể xem thấy được, chỉ có trí khôn hiểu được mà thôi. Hạt trai ấy chính là lề luật Thiên Chúa, một cái gì qúi trọng hơn trân châu và hàng hóa Aán độ. Chúng tôi sẵn sàng giảng dạy luật đó cho anh chị em, nên không ngần ngại vượt biển băng ngàn đến đây” (Lm Hồng Phúc, Suy nịem Lời Chua, năm A, tr 22-23).
 
          2. Hiếu thảo với Cha trên trời.
 
          Người Á đông đề cao chữ “HIẾU”, nhất là trong luân lý đạo Khổng. Đời sống con người phải lấy chữ hiếu làm đầu mà bất hiếu là một tội nặng nhất trong các tội. Người ta đã nâng chữ hiếu lên thành “ĐẠO’ nên mới có “HIẾU ĐẠO”. Phận làm con cũng được nâng lên thành đạo nên mới có “ĐẠO CON”. Như vậy, muốn trọn đạo làm con thì phải chu tòan “đạo hiếu”. Tư tưởng này được đúc kết thành câu ca dao để nhắc nhở cho mọi người phải thi hành :
 
                                      Công cha như núi Thái sơn,
                             Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
                                      Một lòng thờ mẹ kính cha,
                             Cho tròn chữ hiếu mới là “đạo con”.
 
          Trong phép rửa của Gioan, Đức Giêu được gọi là “Con yêu dấu của Thiên Chúa”.  Vậy thế nào là một người “con yêu dấu” ? Thưa đó là :
          - biết ý của cha mình : Đức Giêsu luôn cầu nguyện để biết ý của Chúa Cha.
          - và luôn theo ý cha mình : Đức Giêsu nói :”Lương thực của Ta là làm theo ý của Cha T          Cũng thế, nếu chúng ta muốn trở thành con yêu dấu của Thiên Chúa thì chúng ta hãy bắt chước Đức Giêsu : luôn cầu nguyện, khi đã thấy được ý Chúa thì sẵn sàng bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa.
 
          Ngòai ra, chúng ta đã có Chúa là Cha, chúng ta cũng phải làm tròn “đạo hiếu” đối với Ngài để trọn đạo làm con của chúng ta. Tỏ lòng hiếu đối với Ngài, trước tiên là hãy yêu mến Ngài trên hết và trước hết như Chúa dạy :”Hãy yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa ngươi hết linh hôn hết trí khôn…”(x. Mt 22,37; Mc 12,30; Lc 10,27).
 
          Nhưng yêu mến Ngài thì phải thực hiện bằng những việc cụ thể bên ngòai vì thánh Giacôbê nói :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Nếu không thì người ta sẽ chê cười :
 
                   Thương miệng thương môi, thương miếng xôi miếng thịt.
         
          Chúa bảo chúng ta là ánh sáng thế gian. Nếu là ánh sáng mà không chiếu sáng thì không còn là ánh sáng nữa mà là bóng tối. Nhiệm vụ của chúng ta là phải soi sáng cho người khác bằng những việc làm cụ thể như Chúa nói :”Aùnh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời”(Mt 5,16).  Cuộc sống của chúng ta phải làm vinh Cha chúng ta ở trên trời khi chúng ta nguyện :”Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến…”
          Cuộc sống của chúng ta phải biểu lộ cho người khác biết chúng ta là con Thiên Chúa. Đã là con thì phải sống thế nào để người ta phải nói :”Cha nào con ấy”(Qualis pater, talis filius). Chúng ta hãy bắt chước Boleslas, vua nước Ba lan, luôn đeo ở ngực mẫu ảnh vua cha, và khi toan làm một việc gì quan trọng, vua nhìn vào mẫu ảnh đó và nói :”Con sẽ chẳng hề làm gì bất xứng người con thảo của cha”.
 
          Hôm nay Đức Giêsu cũng khuyên nhủ chúng ta là những Klitô hữu, những người được mang tên Ngài, những người được thuộc về Ngài, hãy sống xứng đáng với danh hiệu cao qúi ấy giống như hòang tử của vua Ménedem, mỗi khi được bạn bè mời đi chơi, thì đến xin phép vua cha, vua ban phép lành và chỉ dặn có một điều là :”Dầu ở đâu, hãy nhớ mình là con vua”.
 
          3. Biết khiêm tốn và phục vụ.
 
          Đọc bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy cả Gioan tẩy giả và dân chúng Do thái đều không hiểu nổi Đấng Messia lại là một Người Tôi Tớ khiêm tốn hiến thân phục vụ nhân lọai cho đến chết. Hai ngàn năm đã trôi qua, thế mà ngày nay chúng ta cũng vẫn thế. Chúng ta giới thiệu Đức Giêsu cho người ta như một Đấng quyền phép hay một quan tòa xét xử. Chúng ta bỏ sót một phương diện rất quan trọng của Ngài : Ngài trước hết là một Người Tôi Tớ hiến thân phục vụ . Đạo của Đức Giêsu là một đạo hiến thân phục vụ, người môn đệ của Đức Giêsu cũng pải là người hiến thân phục vụ như thế.
 
          Cả hai vai chính trong chuyện này đều khiêm tốn : Gioan khiêm tốn tự hạ mình để đề cao Đức Giêsu; còn Đức Giêsu khiêm tốn xin Gioan làm phép rửa cho mình. Người klhiêm tốn là người chỉ nhĩ đến việc chu tòan nhiệm vụ chứ không quan tâm đến vinh dự cá nhân.
 
                                       Truyện : Hòang đế cầy ruộng.
          Tại một thành phố bên Tiệp khắc, giữa những di tích cổ người ta thấy có một chiếc cầy từ thế kỷ 18. Người ta truyền tụng câu truyện như sau : Một hôm, hòang đế Joseph II cùng đòan tùy tùng  đến viếng thăm một ngôi làng trong vùng. Đi qua một cánh đồng, Hòang đế thấy một nông dân  đang ngồi nghỉ mệt bên một gốc cây. Ông đến trò truyện với người nông dân và xin được cầy thử một luống.
 
          Người nông dân rất đỗi ngạc nhiên vì có một người sang trọng  lại xin tra tay vào cầy, và ông ta phá lên cười khi thấy những luống cầy vụng về. Với tất cả thành thực, người nông dân lắc đầu và nói :”Xin lỗi ông, hạng người như ông thì làm sao có thể  tra tay vào cầy  để kiếm sống được”. Nghe thế, một người trong đòan tùy tùng mới nói nhỏ cho người nông dân biết người đang cầm chiếc cầy của ông  chính là Hòang đế. Lập tức, người nông dân như muốn độn thổ, ông không thể tưởng tượng được một vị Hòang đế lại có thể tra tay vào cầy của ông.
 
          Thánh Phaolo dâng lời ca tụng :”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hòan tòan trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”(Pl 2,6-8).
 
          Đức Giêsu đã tự coi mình như “Con người đến để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc muôn người”. Ngài muốn tham dự vào cuộc sống của con người, muốn nói rằng Con Thiên Chúa đã thực sự đến trần gian và đã hạ mình xuống lãnh nhận phép rửa từ một người. Những thái độ khiêm tốn của vị Hòang đế trần gian và Hòang đế Nước Trời đã làm dân chúng cảm phục và ngưỡng mộ khi họ nhận ra đó là một người có uy quyền trong một nước và một Vua cao trọng hơn hết các vua chúa trần gian này.
 
          Người ta nói :”Thượng hành hạ hiệu” : người trên làm kẻ duới theo. Chúa Giêu đã làm gương trước, một tấm gương sán lạn đáng mọi người chúng ta bắt chước để chúng ta sống xứng đáng với danh hiệu là con cái Cha trên trời.
 

 
CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN A
ĐỨC GIÊSU, CHIÊN CỦA THIÊN CHÚA
+++
A. DẪN NHẬP.
 
          Ngay từ lâu tiên tri Isaia đã nói về Người Tôi Tớ kỳ diệu của Giavê. Ông mô tả người tôi tớ này là người hiền lành khiêm nhường nhịn nhục như con chiên bị đem đi làm thịt mà không một lời kêu ca phản kháng. Người Tôi Tớ đó là ai ? Sau đó, tiên tri Giêrêmia cũng nói về mình giống như người tôi tớ Giavê khi ông viết :”Tôi giống như con chiên trung tín bị đem đi giết, và tôi không hề biết  họ đang trù tính những điều ác chông lại tôi”. Sau này, chính Gioan Tẩy giả đã giới thiệu cho dân chúng biết  Người Tôi Tớ mà Tiên tri Isaia đã mô tả khi ông chỉ vào Đức Giêsu mà nói:”Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”(Ga 1,29).
 
            Gioan tự thú trước đây ông chưa từng biết Đấng Cứu Thế mặc dầu ông là bà con với Đức Giêsu. Nói như vậy chỉ có nghĩa là  ông không biết hoặc biết không chắc chắn Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai. Ông chỉ biết được điều đó từ trên mạc khải cho khi Đức Giêsu đến xin ông làm phép rửa cho, và chính Thiên Chúa đã báo cho ông biết qua tiếng nói từ trời :”Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người ấy chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. Khi đã biết đích xác Đức Giêsu là ai, ông bắt đầu làm chứng và khẳng định rằng “Đức Giêsu chính là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”.
 
          Sau khi đã biết Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, chúng ta cũng có trách nhiệm phải giới thiệu Ngài cho những người khác bằng chính cuộc sống cụ thể của chúng ta.  Chúng ta phải trở nên ánh sáng cho thế gian để soi cho người ta biết Chúa như lời Ngài dạy:”Aùnh sáng của các con  phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ trông thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời”(Mt 5,16). Ngòai ra, theo lời khuyên nhủ của thánh Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay, chúng ta cũng phải cố gắng nên thánh để xứng đáng là môn đệ của Chúa, xứng đáng là con của Đấng đã phán :”Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng thánh”(Lv 11,44).
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
 
          + Bài đọc 1 : Is 49,3,5-6.
 
          Tiên tri Isaia được soi sáng để nhìn thấy trước Người Tôi Tớ Giavê và được mô tả trong bốn bài thơ. Trong lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, Người Tôi Tớ cũng được đề cập và được rút ra từ bài thơ thứ nhất. Hôm nay Người Tôi Tớ được rút ra từ bài thơ thứ hai.
 
          Theo tiên tri Isaia, người tôi trung có những đặc điểm sau đây :
          - Biểu lộ vinh quang của Chúa.
          - Dẫn đưa nhà Giacóp về qui tụ dân Israel chung quanh Ngài.
          - Trở thành ánh sáng muôn dân để đem ơn cứu độ đến cho mọi người.
 
          Đấy chỉ là người tôi trung nào đó được mô tả, còn người tôi trung này chỉ được thực hiện hòan hảo nơi Đức Giêsu.
 
          + Bài đọc 2 : 1Cr 1,1-3.
 
          Bài đọc 2 là lời chào thăm của thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Côrintô, giáo đòan  mà ngài đã thành lập trong chuyến hành trình truyền giáo thứ hai vào những năm 50-52.
          Trong phần mở đầu vắn tắt được đọc lại hôm nay, thánh Phaolô dùng hai lần từ ngữ “kêu gọi” : Ngài được Chúa kêu gọi và họ cũng là những người được Chúa kêu gọi. Ngài được Chúa kêu gọi để làm tông đồ đi rao giảng Tin mừng của Đức Kitô, còn họ là những người được kêu gọi nên thánh và được thánh hóa trong Đức Giêsu Kitô.
 
          + Bài Tin mừng : Ga 1,29-34.
 
          Đức Giêsu lần đầu tiên xuất hiện nơi công chúng. Khi thấy Ngài tiến về phía mình, thánh Gioan Tẩy giả đã giới thiệu Đức Giêsu cho dân chúng : Người là Chiên Thuiên Chúa và là Con Thiên Chúa.
 
          . Chiên của Thiên Chúa : Khi nói Đức Giêsu là Con Chiên Thiên Chúa, có thể Gioan đang nghĩ đến Con Chiên của lễ Vượt Qua vì bấy giờ là lễ Vượt Qua cũng sắp đến (Xh 2,13). Gioan  là con trai của thầy tư tế, chắc ông biết rõ mọi chi tiết liên hệ đến việc dâng của lễ : hằng ngày buổi sáng và buổi chiều, luôn luôn có một con chiên  được dâng làm của lễ trong đền thờ để chuộc tội cho dân chúng (Xh 29,38-42). Trong lễ nghi đền tội của Do thái giáo, tội nhân đem một con chiên lên đền thờ, úp tay mình xuống trên con chiên tỏ ý trút hết mọi tội mình trên nó; tiếp theo, tư tế sẽ giết con chiên hoặc thả nó vào rừng. Nó chịu chết để đền tội thay cho tội nhân. Bao nhiêu tội lỗi của tội nhân đều được tẩy xóa.
 
          . Con Thiên Chúa : Chúng ta thắc mắc đặt dấu hỏi : Tại sao trong bài Tin mừng hôm nay Gioan Tẩy giả lại nói  ông chưa từng biết Đức Giêsu vì ông đã biết Ngài lúc chịu phép rửa và là bà con của người nữa ? Đúng thế, Gioan đã biết Ngài là Con Thiên Chúa (trong lúc rửa tội) và có họ hàng với nhau, chắc chắn đã quen biết nhau. Không phải Gioan nói ông không biết Đức Giêsu là ai, nhưng ông muốn nói là mình chưa từng nhận biết Ngài là Đấng Messia (Chúa Cứu Thế), ông mới được mạc khải rằng Giêsu này chính là Con Thiên Chúa, là Con ruột của Thiên Chúa, chứ khong phải là con nuôi, là nghĩa tử.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                Con chiên gánh tội trần gian
I. GIOAN GIỚI THIỆU ĐỨC GIÊSU.
 
          Đức Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai của Ngài bằng nghi thức sám hối thay cho cả nhân lọai qua phép rửa của Gioan, và kết thúc cuộc đời công khai của Ngài bằng nghi thức đền tội  thay cho cả nhân lọai qua cái chết thê thảm trên thập giá. Và hôm nay, ít ngày sau khi Gioan rửa tội cho Đức Giêsu, ông liền giới thiệu cho dân chúng biết Ngài là ai, và một phần nào báo trước cái chết của Ngài :”Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”!  Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của những lời giới thiệu ấy.
 
 
          1. Đây Chiên Thiên Chúa.
 
          Muốn giới thiệu khuôn mặt của một người thì người ta phải giới thiệu một khuôn mặt hấp dẫn, đàng này thánh Gioan lại không theo khuôn thức đó. Người ta kể rằng : một tu sĩ kia muốn họa lại  chân dung của Đức Giêsu. Được phép của bề trên, ông đi rảo khắp nơi để tìm cho kỳ được người mẫu thích hợp. Thế nhưng, càng tìm kiếm, ông càng khám phá ra rằng, không thể có người nào trên trần gian này hòan tòan giống Đức Giêsu. Từ đó, ông đi đến kết luận : Gương mặt Đức Giêsu phải là tổng hợp của tất cả vẻ đẹp của con người trên trần gian này. Do đó, thay vì chỉ chọn một người mẫu, ông đi thu nhặt tất cả những nét đẹp trên mọi gương mặt mà ông đã gặp.
 
          Thầy dòng kia đã quá băn khoăn về khuôn mặt Chúa Cứu thế, còn thánh Gioan tẩy giả, qua bài Tin mừng hôm nay, thì lại quá đơn giản. Ngài giới thiệu Chúa, bằng một hình ảnh và một tên rất thường :”Đây Chiên của Thiên Chúa”.
 
          Biểu tượng “Con Chiên” mang một dòng lịch sử súc tích. Nó có liên hệ chặt chẽ với những biến cố của ơn cứu độ. Theo truyền thống Do thái trong sách Xuất hành, Thiên Chúa đã phán với Maisen :”Suốt thời gian sắp tới, mỗi ngày các ngươi hãy hiến tế trên bàn thờ hai con
chiên tuổi được một năm, một con hiến tế vào buổi sáng , con kia vào buổi chiều”(Xh 29,38-39)
 
Theo đó, qua suốt thời gian dài cho đến năm 70, khi đền thờ bị phá hủy, mỗi ngày vào buổi sáng sớm và buổi chiều, các tư  tế trong đền thờ phải sát tế mỗi buổi một con chiên nhỏ cỡ một tuổi làm của lễ tòan thiêu để đền tội thay cho dân chúng. Như vậy, tội lỗi của cả dân chúng mỗi buổi đều đổ hết lên đầu con chiên, và con chiên gánh tội ấy  phải chết để đền tội thay cho dân chúng, hầu dân chúng được khỏi tội trước Thiên Chúa. Tội lỗi của dân chúng đối với Thiên Chúa  đáng lẽ phải trả giá bằng sinh mạng của chính con người, nhưng Thiên Chúa đã chấp nhận để con chiên chết thay con người. Đức Giêsu đã trở thành chiên hy sinh như thế :”Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta”(1Cr 5,7).
 
Trước Gioan Tẩy giả rất lâu, các tiên tri đã nói về người tôi tớ kỳ diệu của Chúa một ngày kia sẽ chịu đau khổ và chết như một con chiên, như Isaia đã mô tả :”Người đã bị đối xử tàn tệ, nhưng đã khiêm tốn chịu đựng, như một con chiên sắp bị đưa tới lò sát sinh. Người không hề thốt ra một lời. Người bị bắt, bị tuyên án, và vị dẫn tới chỗ chết… Người đã phải chết vì tội lỗi chúng ta”(Is 53,7-8).
 
          Những lời của tiên tri Giêrêmia cũng rất phù hợp với con người Đức Giêsu khi ông viết :”Tôi giống như con chiên trung tín bị đem đi giết, và tôi không hề biết họ đang trù tính những điều độc ác chống lại tôi”(Gr 11,19).
 
          Thành ngữ “Chiên của Thiên Chúa”là một thành ngữ hết sức kỳ diệu. Tác giả sách Khải huyền đã dùng thành ngữ ấy 29 lần trong sách của mình, và trở thành một trong những danh hiệu quí báu nhất của Chúa Cứu Thế. Chỉ trong một chữ, thành ngữ tóm tắt được tình yêu thương, đức hy sinh chịu khổ và chiến thắng khải hòan của Đức Giêsu.
 
          Gioan Tẩy giả cho rằng mình chưa từng biết Đấng Cứu thế, nhưng ông lại là bà con với Đức Giêsu, chắc chắn Gioan và Đức Giêsu đã quen biết nhau, nhưng Gioan không biết hoặc biết không chắc chắn Giêsu là Đấng Thiên Sai. Chỉ khi Đức Giêsu đến với ông xin chịu phép rửa và sau đó có những dấu chứng từ trời cao, ông mới biết điều đó cách chính xác. Vì chính Thiên Chúa đã báo trước cho ông điều ấy :”Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. Khi đã biết đích xác Đức Giêsu là ai, Gioan bắt đầu làn chứng về Ngài.
 
2. Đấng xóa tội trần gian.
 
          Khi Đức Giêsu đang đến, Gioan Tẩy giả đã chỉ vào Đức Giêsu và nói :”Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29).  Giới thiệu như thế, Gioan đã cùng một lúc chỉ ra hai thực tại lớn lao về Đức Giêsu : Ngài là Chiên của Thiên Chúa, đồng thời Ngài cũng là Đấng xóa tội trần gian.
 
          Khi gọi Đức Giêsu là “Chiên của Thiên Chúa”, Gioan xác nhận Đức Giêsu là Đấng vô tội và thánh thiện. Khi nói Đức Giêsu là “Đấng xóa tội trần gian”, Gioan chỉ cho mọi người thấy Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Thế, Đấng Messia, là “tôi tớ đau khổ của Giavê” như tiên tri Isaia đã từng nói đến trong Cựu ước.
 
          Hai thực tại này gắn liền với nhau nơi con người và sứ mạng của Đức Giêsu. Chính vì là con chiên vô tội của Thiên Chúa Đức Giêsu mới có thể xóa tội của thế gian. Như con chiên được dùng làm của lễ đền tội trong Cựu ước phải chịu sát tế, Đức Giêsu cũng phải chịu đau khổ và chịu chết để trở nên của lễ hy sinh đền tội cho nhân lọai. Con chiên hiến tế của Cựu ước chỉ là hình bóng và dấu hiệu của Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”, Đấng duy nhất thực sự xóa tội cho con người, Đấng duy nhất đem lại ơn cứu độ, nghĩa là sự tha thứ tội lỗi.
 
          Đức Giêsu xóa tội của thế gian bằng cách gánh vào mình Ngài tội lỗi của tất cả nhân lọai, từ tội của nguyên tổ Adong cho đến tội của người sau hết của nhân lọai. Với cuộc khổ nạn và cái chết đau thương tủi nhục trên thập giá, Ngài đã đền thay tội lỗi của tất cả nhân lọai. Từ nay nhân lọai đã được giao hòa với Thiên Chúa, được sống trong ân tình của Ngài và cửa thiên đàng đã được mở lại cho tất cả mọi người.
 
II. CHÚNG TA CŨNG PHẢI GIỚI THIỆU ĐỨC KITÔ.
 
Mỗi người Kitô hữu là một người mang sứ mạng của Gioan, nghĩa là giới thiệu Đức Kitô cho người khác biết. Cách thức giới thiệu đó có thể khác nhau : người thì dùng lời nói, kẻ khác bằng hành dộng bác ái, xã hội, hoặc đời sống chân chính theo đúng nghĩa Kitô giáo. Chúng ta có thể giới thiệu Chúa Kitô cho người khác bằng một số việc sau đây :
 
          1. Sống xứng đáng người Kitô hữu.
 
          Chúng ta đã biết rõ lý lịch của Đức Giêsu, Đấng mà chúng ta xưng tụng bằng danh hiệu : Con Thiên Chúa, Chiên Thiên Chúa, Người Tôi Tớ Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Tất cả những danh hiệu này đã được Chúa Cha ban tặng cho Ngài qua miệng các tiên tri loan báo trong Thánh Kinh, nhất là chính Ngài đóng trọn những vai trò, đã sống gương mẫu thực tế một cách tuyệt hảo những danh hiệu của mình.
 
          Chúng ta cũng được Chúa ban cho nhiều danh hiệu như dân tư tế, dân thánh, dân được tuyển chọn, dòng tư tế vương giả, môn đệ Chúa, bạn hữu với hàng thần thánh, Kitô hữu… Vậy thử hỏi chúng ta đã sống đúng chức năng của những danh hiệu ấy chưa ? Đối với danh hiệu “Kitô hữu” chúng ta đã sống thế nào ?
 
          Kitô hữu là một danh hiệu mà thánh Phaolô tông đồ lần đầu tiên đã tặng cho các tin hữu ở Antiochia. Thời kỳ đầu các tín hữu đã có một cuộc sống rất gương mẫu làm cho dân ngọai phải ngạc nhiên. Sách Công vụ Tông đồ còn ghi lại :”Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu.  Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được tòan dân thương mến. Và Chúa cho cộng đòan mỗi ngày có thêm những người được cứu độ”(Cv 2,44-47).
 
          Người Kitô hữu là muối, là linh hồn của thế gian. Họ là thành phần của đám đông nhưng lại hành động như men. Họ không thể phân biệt khỏi quần chúng, nhưng họ khác biệt hòan tòan. Một tác giả vô danh hồi thế kỷ thứ 3 đã viết trong tác phẩm gửi cho Diognetus như sau:
 
“Người Kitô hữu không khác với những người khác về cư trú, về ngôn ngữ hay về lối sống. Bởi vì họ không cư ngụ thành nào riêng biệt, cũng không dùng ngôn ngữ nào khác thường và nếp sống của họ chẳng có chi khác biệt. Không phải do suy tư hay bận tâm tra cứu mà họ khám phá được các giáo thuyết. Họ không chủ trương một giáo điều nào của lòai người như một số người nọ. Họ sống rải rác trong các thánh phốâ Hy lạp lẫn trong các thành thị của người Mandi, tùy theo số phận dun dủi. Họ sống theo tập tục của dân bản xứ trong cách phục sức, ăn uống, và cách sống  nhưng bộc lộ một thái độ sống   khiếân nhiều người cho là lạ lùng, khó tin nữa. Họ sống trong quê hương của họ mà như những kẻ ở đâu. Họ tuân thủ mọi cái chung như các công dân khác và chịu mọi gánh nặng dường như ngọai kiều. Miền xa lạ cũng là quê hương của họ nhưng mọi quê hương chỉ là đất khách cho họ mà thôi. Họ cũng dựng vợ gả chồng như ai và sinh đẻ con cái, nhưng chẳng hề bỏ con. Họ đồng bàn nhưng chẳng đồng sàng…”(Trích Các bài đọc II, Mùa Phục sinh, tr 84).
 
Muốn chiếu giãi ánh sáng  Chúa Kitô cho người khác, chúng ta phải chiêm ngắm Chúa Kitô bằng cách học hỏi Lời Chúa, áp dụng vào đời sống hằng ngày để chúng ta có thể nói được như thánh Phaolô :”Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2,19). Nếu Đức Kitô sống ta, Ngài sẽ hóan đổi dần con người của ta để trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ chiếu giãi Chúa Kitô cho người khác được.
 
                                      Truyện : Nét mặt Chúa Giêsu.
          Du khách đến Roma thường đi thăm ngôi thánh đường cổ tên là Dominus sub aquis, vì phía trên bàn thờ có một tượng thánh giá rất đặc biệt : bất cứ ai đến quì trước thánh giá cầu nguyện với tất cả lòng thành đều được sức mạnh và niềm an ủi thẳm sâu.
 
          Người ta kể rằng : Tác giả tượng thánh giá bằng cẩm thạch này đã mất rất nhiều năm mới hòan thành được tác phẩm. Hơn hai lần, mỗi khi treo bức tượng lên để ngắm nhìn, ông lại cho kéo xuống và đập bỏ, vì ông cho rằng  tác phẩm vẫn chưa diễn đạt được điều ông muốn. Khi ông bắt tay vào công trình lần thứ ba thì cũng là lúc ông gặp nhiều thử thách nhất. Nhiều người ganh tị nên tìm cách hạ uy tín ông. Vợ con ông qua đời trong những hòan cảnh thật đáng thương.
 
          Ai cũng tưởng rằng  cơn thử thách đã khiến ông bỏ cuộc. Trái lại ông càng miệt mài chú tâm vào công trình.  Người nghệ sĩ dồn tất cả niềm đau của mình lên khuôn mặt của Đức Kitô. Bức tượng của Chúa Giêsu trên thánh giá không còn là phiến đá lạnh lùng, xa lạ, mà trở thành niềm đau đậm nét của một tâm hồn. Bức tượng đã trở nên sống động và có sức thu hút do chính tâm tình mà người nghệ sĩ muốn tháp nhập vào đó (Thiên Phúc, Tất cả là Hồng ân tr 52-53).
 
          2. Phải nên thánh.
 
          Trong bài đọc 2 hôm nay, trong phần đầu thư gửi cho tín hữu Côrintô, thánh Phaolô hai lần nhấn mạnh từ “kêu gọi”. Ngài được Chúa kêu gọi vào sứ mạng tông đồ, còn họ được “kêu gọi” nên thánh. Nên thánh không có nghĩa là phải làm những việc lạ lùng phi thường, nhưng tùy theo khả năng và môi trường, phải hành động để nối tiếp công việc của Chúa Giêsu, Đấng xóa tội trần gian, cứu thóat thế gian khỏi vòng tội lỗi.
 
          Người Á đông thường lấy câu nói của Vương Dương Minh làm châm ngôn trong cuộc sống :”Nội thánh, ngọai vương” : bên trong là một vị thánh, bên ngòai là một ông vua. Có lẽ đây là lời người ta khen vua Thương và vua Thang là những ông vua tốt lành gương mẫu xứng đáng cho người ta gọi là “thánh vuơng”. Khác với hai vị vua này là vua Trụ và vua Kiệt là hai vị vua độc ác đến nỗi người đời phải tặng cho hai chữ “bạo vương”.
 
          Vua Đavít đã thực hiện được câu châm ngôn “Nội thánh ngọai vuơng”, xứng đáng cho người ta gọi là thánh vương Đavít. Còn chúng ta không phải là bậc vua chúa mà chỉ là một Kitô hữu bình thương, chúng ta có thể thực hiện được câu châm ngôn ấy không ? Chắc chắn là được !
 
          Cần nhất phải có cái nội là thánh vì nó là điều căn bản, còn cái ngọai vuơng là gì cũng được, là vua hay dân cũng được và có thể là bất cứ ai, ở vào bất cứ hòan cảnh nào.
          . Nếu ta là vua thì cái “ngọai vuơng” đó làm cho người ta biết rằng Thiên Chúa là vua trời đất, vua tối cao, vua trên hết các vua, chúa trên hết các chúa, mọi người phải phụng thờ Ngài.
          . Nếu ta là người giầu có thì cái ngọai vương của ta làm cho người ta biết Thiên Chúa là Đấng giầu sang khôn ví, Ngài đã tạo dựng nên vạn vật và đã ban mọi sự cho con người, hãy biết ơn và cảm tạ Ngài.
          . Nếu ta là người nghèo khó, hèn hạ thì cái ngọai vương của ta phải làm cho họ biết rằng Thiên Chúa giầu sang phú quí, vì yêu thương nhân lọai đau khổ đã bỏ mọi vinh quang trên trời, xuống thế làm người ở với con người, đã trở nên nghèo hèn  cho giống con người và sau cùng chịu chết trên thập giá để cứu chuộc con người.
 
          Khi chúng ta đã có một đời sống lành thánh bên trong thì tự nhiên bản thân ta sẽ phát ra một cái gì tốt lành khả dĩ khiến người khác phải mến phục. Từ chỗ họ mến phục cuộc sống chúng ta, họ sẽ mến đạo, tin theo đạo và tất nhiên họ sẽ tìm đến Chúa.
 
          Tuy người ta chưa biết Chúa ngay, nhưng qua trung gian chúng ta họ sẽ biết Chúa từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ cái xa đến cái gần, từ cái ngòai đến cái trong, từ con người của ta đến với Chúa. Nên người đời thường nói :
 
                             Lụa tốt xem biên, người hiền xem tướng.
                   hoặc  
                                  Xem mặt mà bắt hình dong,
                             Con lợn có béo thì lòng mới ngon.
          Muốn được thế, chúng ta phải thực hành Lời Chúa :”Aùnh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha của các con, Đấng ngự trên trời”(Mt 5,16).
 
          3.  Sống khiêm nhường nhịn nhục.
 
          Trong cách giới thiệu của Gioan về Đức Giêsu, ta thấy ông luôn luôn làm cho Đức Giêsu nổi bật lên, đồng thời tự làm cho mình lu mờ đi :”Ngài phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi”(Ga 3,30).  Gioan đã phải từ bỏ “cái tôi” của mình để thể hiện được sự quên mình theo tinh thần tự hủy của Đức Giêsu (Pl 2,6-8).
 
          Lão Tử đã đưa ra chủ trương “Nhu nhược thắng cương cường”, cái mềm yếu lại thắng cái mạnh mẽ. Do đó quan niệm “Nhu thắng cương, nhược thắng cường” (mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh) có thể làm cho chúng ta dễ chấp nhận. Đúng vậy, thánh Phaolô đã nói thẳng :”Tôi vui thỏa trong các nỗi yêu đuối… vì khi tôi yếu thì chính bấy giờ là Tôi mạnh”(2Cr 12,10). Nhà thơ La Fontaine có một câu truyện ngụ ngôn rất thích hợp với đề tài của chúng ta.
 
                                      Truyện : Cây dẻ và cây sậy.
          Cây dẻ tự hào  mình là thứ cây cổ thụ cao lớn đồ sộ, hiên ngang đứng giữa trời đất giang tay đón gió. Dẻ đưa mắt nhìn xuống đám cây lau sống lụp xụp trong bùn dưới chân mình. Dẻ tỏ vẻ khinh khi bảo :”Kìa lòai chi chúng bay  mà ta vừa rung lá, bay đã cúi đầu lo sợ”. Khóm lau trả lời :”Chúng tôi cúi đầu mà không gẫy thân. Còn ông hãy coi chừng”. Và cứ thế, lời qua tiếng lại mỗi ngày. Bỗng một ngày kia, trận bão từ biển Đông thổi vào. Cây dẻ cứ đứng vững như trồng, còn lau đua nhau cúi sát mặt. Nhưng trên gió cứ thổi lên, thổi lên từng hồi. Dẻ ta vẫn đứng sừng sững, còn lau nằm sát nước. Bỗng một tiếng đổ sụp vang trời dội đất. Cây dẻ đã trốc rễ và vật mình nằm sõng sượt không thốt lên lời. Qua cơn bão táp, lau đứng dậy vững vàng .
 
          Vâng, lau cúi mình nhưng lau không bị gẫy. Lời thánh Phaolô “trong lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh” là thế đó !
 
          4. Tinh thần biết ơn Chúa.
 
          Chúng ta biết Cựu ước chỉ là hình bóng của Tân ước và hình bóng của luật cũ đã nên trọn vẹn trong Luật mới. Không chỉ trong Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu được gọi là Con Chiên. Thánh Phêrô cũng nói về Đức Kitô là Con Chiên. Trong sách Khải huyền, thánh Gioan gọi Con Chúa là Con Chiên ít nhất 28 lần. Ông đã chỉ rõ Đức Kitô là Con Chiên bị chết vì tội lỗi lòai người, của các dân tộc. Ông cũng nhấn mạnh sự thật rằng : Con Chiên đây là Con thật của Thiên Chúa, rằng Ngài tăng cường sức mạnh cho những kẻ tin theo Ngài, Ngài chiến thắng Satan. Do đó, chúng phải tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với Chúa Giêsu, Con Chiên Thiên Chúa đã cứu chúng ta khỏi định mệnh mất ơn nghĩa đời đời. Chúa Giêsu đã tự ý và yêu thương mà hy sinh mạng sống Ngài cho chúng ta được sống.
 
                                      Truyện : Được sống nhờ con chiên.
          Trên mái một nhà thờ ở Werden, nước Đức, người ta có thể nhìn thấy một tảng đá chạm trổ một con chiên. Đây là câu chuyện về tảng đá đó. Một công nhân đang làm trên mái nhà thờ này thì dây thừng an tòan bị đứt, anh công nhân bị rớt xuống sân nhà thờ, mà sân thì xếp đầy những đống đá lớn. Thế nhưng anh công nhân không bị thương nặng. Có một con chiên đang gặm cỏ giũa hai khối đá lớn. Anh công nhân rớt xuống trên con chiên và đè nó chết, làm tiêu tan điều được coi là  cú rơi định mệnh.
 
          Để nhớ ơn, anh công nhân đã chạm trổ một con chiên bằng đá và đặt trên mái nhà thờ. Đó là một cách tốt đẹp bày tỏ lòng biết ơn của anh ta đối với một con vật đần độn, đã cứu mạng anh mà nó không biết (Arthur Tonne).
 
          Thánh lễ nào cũng là thánh lễ tạ ơn. Chúng ta sốt sắng dâng Thánh lễ này để cảm tạ Chúa vì công ơn cứu chuộc Đức Kitô đã dành cho chúng ta, và trước khi rước lễ, chúng ta cầu xin với Chúa Giêsu bằng lời nguyện “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con”. Liền sau lời nguyện đó, Linh mục chủ tế cũng giới thiệu Chúa Giêsu Thánh Thể cho chúng ta bằng những lời Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu với dân chúng năm xưa :”Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian…” Lúc ấy, chúng ta hãy sốt sắng hiệp cùng Mẹ Maria nài xin Chúa Giêsu Thánh Thể mà ta sẽ rước vào lòng cho ta biết kết hợp mật thiết với Người, để nhờ Người và trong Người  ta sẽ sống như những con chiên đích thực của Chúa, những con người biết sống yêu thương tha thứ và hiệp nhất trong tình yêu thương.


 

CHÚA NHẬT 3 THƯỜNG NIÊN A
ANH EM HÃY SÁM HỐI
+++
A. DẪN NHẬP
 
          Sau khi nguyên tổ phạm tội, cửa thiên đàng bị đóng lại, nhân lọai phải sống trong bóng tối tăm của tội lỗi và sự chết. Ngôi Hai Thiên Chúa đã đem ánh sáng đến cho nhân lọai. Từ lâu, tiên tri Isaia đã loan báo cho biết  sẽ có một vầng ánh sáng chiếu soi cho nhân lọai để cứu họ ra khỏi bóng đêm của tội lỗi. Chính Đức Giêsu đã thực hiện lời loan báo ấy khi Ngài đến rao giảng Tin mừng cho dân vùng Giabulon và Neptali, đại diện cho dân ngọai, lúc Ngài khởi đầu sứ mạng rao giảng Tin mừng.
 
          Đề tài chính khi khởi sự rao giảng của Đức Giêsu là :”Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến”. Đề tài này xem ra không có gì mới mẻ vì chính Gioan Tẩy giả cũng đã rao giảng như vậy để giúp dân chúng dọn lòng chờ đợi Đấng Cứu Thế. Như vậy có sự tiếp nối chặt chẽ giữa Đức Giêsu và Gioan Tẩy giả, để rồi sau này các tông đồ cũng sẽ tiếp nối công việc ấy. Đức Giêsu rao giảng sự sám hối vì sám hối là điều kiện cần thiết để vào Nước Trời. Hay nói khác đi, muốn làm môn đệ Chúa Kitô thì phải sám hối.
 
          Từ xưa đến nay, Đức Giêsu đã từng kêu gọi người ta sám hối và ngày nay Giáo hội vẫn tiếp tục kêu mời và thúc giục con cái mình thực hiện tin thần sám hối ấy trong đời sống thường ngày vì mỗi ngày chúng ta đi xa dần đường lối của Thiên Chúa : chúng ta không còn là ánh sáng chiếu soi trần gian nữa, lại còn gây chia rẽ làm mất sự hiệp nhất trong Giáo hội. Hãy sám hối để chúng ta sống xứng đáng với Đấng đã phán với dân Người :”Các ngươi hãy nên thánh vì Ta là Đấng thánh”.
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
 
          + Bài đọc 1 : Is 9,1-4.
 
          Giabulon và Neptali ngày xưa thuộc vùng Bắc xứ Palestina (vương quốc Israel, sau này gọi là Galilê) đã bị đế quốc Assyria đánh chiếm vào năm 734. Người ta đã bắt dân chúng đi lưu đầy, đặc biệt là các thành phần ưu tú trong dân. Thay thế cho đám dân bị lưu đầy, người ta đã đem đến đây dân cư của khắp các xứ, đủ mọi thành phần. Bởi thế,  sau này người ta gọi vùng Giabulon và Neptali là vùng của dân ngọai, vùng của lương dân, vùng đất tối tăm.
 
          Nhưng tiên tri Isaia loan báo cho họ rằng vùng dân ngọai Giabulon và Neptali một ngày kia sẽ được ánh sáng chiếu rọi, dân sẽ được thóat khỏi tối tăm, sẽ được chứa chan hoan hỉ như trong ngày muà, như khi chia nhau chiến lợi phẩm.
 
          + Bài đọc 2 : 1Cr 1,10-13.17.
 
          Côrintô là một thành phố cảng tấp nập. Dân chúng tới 2/3 là nô lệ. Thánh Phaolô đã đến truyền giáo ở đây và đã lôi kéo được một số người tin theo Chúa. Phaolô đã lập được một giáo đòan ở đây mà đa số là người lương trở lại. Sau đó dân Côrintô đã đuổi ngài đi. Sau khi ông ra đi ít lâu, có một nhà trí thức Do thái ở Alexandria tên là Apôlô đế nối tiếng sứ mạng rao giảng Tin mừng cho dân Côrintô và thu được nhiều kết quả. Sau đó lại có thêm thánh Phêrô nữa.
 
          Nhưng không phải cái gì cũng tốt đẹp êm xuôi, có nhiều vấn đề nội bộ rất phức tạp, nhiều khi rất đau lòng. Người ta đã dựa vào các thừa sai mà chia thành bốn nhóm chốâng nhau : nhóm theo Phaolô, nhóm theo Apôlô, nhóm theo Phêrô, nhóm theo Đức Kitô. Phaolô đã phải viết thư khuyên nhủ họ hãy tránh sự chia rẽ, phải đồng tâm nhất trí với nhau.
 
          + Bài Tin mừng : Mt 4,12-23.
 
          Khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin mừng, Đức Giêsu không chọn Nazareth quê hương của mình  mà lại chọn Capharnaum thuộc miền đất Giabulon và Neptali làm trung tâm truyền giáo. Như thế hợp với lời tiên tri Isaia đã báo trước : vùng lương dân này sẽ được ánh sáng chiếu soi. Năm 734 trước công nguyên, hai miền đất này bị quân Assyria chiếm đóng, vì thế, dân chúng bị ảnh hưởng nặng nề dân ngọai nên được gọi là “Galilê ngọai bang”.
 
          Đức Giêsu khởi đầu sứ vụ khi Thiên Chúa chấm dứt họat động của Gioan Tẩy giả (ông bị bắt cầm tù). Điều này chứng tỏ hai sứ vụ có liên kết thành một trong một chương trình của Thiên Chúa. Đức Giêsu tuyên bố :”Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến”. Câu này đánh dấu khởi điểm chính thức sứ vụ của Đức Giêsu. Kiểu nói này của Đức Giêsu giống như kiểu nói của Gioan Tẩy giả (Mt 3,2) và huấn thị của Đức Giêsu cho các tông đồ khi sắp đi truyền giáo (Mt 18,7). Nó khẳng định tính cách liên tục việc rao giảng của Gioan Tẩy giả là bước chuẩn bị cho Đức Giêsu rao giảng với việc rao giảng của các tông đồ là nối tiếp sứ vụ của Đức Giêsu Thầy mình.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                Anh em hãy sám hối
I. ĐỨC GIÊSU ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG.
 
          Thánh Matthêu viết thư cho người Do thái nên ngài chủ ý chứng minh rằng tất cả các lời tiên tri Cựu ước đều được ứng nghiệm nơi Đức Giêsu; bởi đó, Ngài phải là Đấng Cứu Thế (Messia), có một câu thường được lặp đi lặïp lại suốt cả sách đến 16 lần như một điệp khúc :”Việc này xẩy ra như vậy để ứng nghiệm lời Chúa dùng Đấng tiên tri mà phán rằng…”.
 
          1. Capharnaum, trung tâm truyền giáo.
 
          Vì thế khi Gioan bị bắt cầm tù, nhiệm vụ của ông đã xong, vai phụ phải lui vào hậu trường để nhân vật chính xuất hiện. Đức Giêsu đã rời Nazareth đến Galilê chọn Capharnaum làm trung tâm truyền giáo. Vùng Galilê này bị người ta khinh dể bởi vì đối với thủ đô, Galilê chỉ là tỉnh lẻ; đối với người mộ đạo sùng tín, miền này thật đáng nghi ngờ. Đó là miền hầu như thuộc ngọai bang, nơi hội tụ dân ngọai. Một dân cư phức tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện diễu cợt hằng ngày.
 
          Thế mà tại sao Đức Giêsu lại tới cư ngự tại Capharnaum, bên bờ hồ ? Thưa Ngài chọn Capharnaum làm trung tâm truyền giáo vì ba lý do :
          Thứ nhất để thực hiện đúng lời tiên tri Isaia đã loan báo từ  732 năm trước cho các chi họ sống chung đụng với các dân ngọai.
          Thứ hai Capharnaum là quê hương của bốn môn đệ đầu tiên, mà có lẽ nhà ông Phêrô là nơi thuận tiệân cho việc truyền giáo.
          Thứ ba đây là lý do quan trọng nhất : để cho muôn dân được thấy “một ánh sáng huy hòang”.
 
          2. Đặc điểm của vùng Galilê.
 
          Ngòai ra , Galilê không rộng lắm, từ bắc chí nam  dài khỏang 60 cây số, nhưng dân cư sống đông đúc vì là phần đất phì nhiêu nhất Xứ thánh. Đất hẹp người đông. Thời Josephus làm tổng trấn, ông đếm được 294 làng, mỗi làng không dưới 15.000 dân.  Galilê không những là khu đông dân cư nhưng dân ở đó cũng có một cá tính đặc biệt. Galilê sẵn sàng mở cửa đón những ý niệm mới.  Josephus nói về dân Galilê như sau :”Bao giờ họ cũng thích cải cách, bản tính họ thích thay đổi và thích bạo động. Họ luôn sẵn sàng theo một thủ lãnh và phát khởi một cuộc nổi dậy. Họ nổi tiếng là người nóng tính và thích cãi vã. Tuy nhiên, họ cũng là những người hào hùng nhất”.
 
          Đặc tính bẩm sinh của người Galilê  khiến việc truyền giáo cho họ  rất thuận lợi. Thái độ cởi mở đón nhận những tư tưởng mới cũng góp phần cho việc truyền giáo trở nên dễ dàng.  Có lẽ vì những yếu tố này mà Đức Giêsu chọn Capharnaum làm trung tâm truyền giáo.
 
          Như vậy, Capharnaum trở nên quê hương thứ hai, “thành” của Chúa. Ngài đóng thuế ở đây (Mt 17,23), có nhà để ở, có lẽ là nhà của ông Phêrô (Mt 13,1-26). Đây là nơi xuất phát các việc tông đồ : như hành trình truyền giáo, giảng dạy, làm phép lạ. Đức Giêsu đi rồi lại trở về. Tại đây Ngài giảng trong hội đường (Ga 6,60), trên bãi biển hay trên đồi lân cận. Đây cũng là nơi Ngài đã làm biết bao phép lạ, là nơi tuyển chọn một số các tông đồ.
 
          3. Nội dung việc rao giảng.
 
          Có thể nói thánh Matthêu đã tóm gọn nội dung việc rao giảng của Đức Giêsu trong một câu :”Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến”. Thực ra, nội dung việc giảng dạy này đã được Gioan Tẩy giả rao giảng và sau này các tông đồ cũng tiếp tục thực hiện.
 
          Sám hối là bước dứt khóat đầu tiên tiến vào Nước Trời, là sức mạnh nhạy bén biến đổi đời người nên mới. Nền tảng sự hối cải là khiêm tốn, nhìn nhận sự lẫm lỗi và tội lỗi của mình trước Thiên Chúa. Đề tài sám hối rất thích hợp với tâm hồn của dân Galilê. Họ thờ Thiên Chúa nhưng lòng họ bị ô nhiễm quá nhiều bóng tối sự chết, bóng tối của tà thần, của tệ đoan xã hội, của lòng tham do các dân ngọai cư ngụ, buôn bán ở Capharnaum.
 
          Sám hối là nền tảng của niềm tin Kitô giáo. Một trong những nghịch lý lớn nhất của Kitô giáo chính là  càng nhận ra sự nhỏ bé bất tòan của mình, con người càng lớn lên trong ân sủng của Chúa. Chính khi Gioan Tẩy giả nhận mình nhỏ bé. Chúa lại cho Ngài được lớn lên. Chính lúc ý thức mình thấp kém, Chúa lại tôn vinh ngài như người cao trọng nhất trong Nước Trời.
 
 
II. NHỮNG BÀI HỌC QUA CÁC BÀI ĐỌC.
 
          1. Sám hối vì Nước Trời đã gần đến (Mt 4,17).
 
          Lời đầu tiên Đức Giêsu dạy khi rao giảng Tin mừng là “Hãy sám hối”. Theo nguyên nghĩa của nó là trở lại (metanoia). Tại sao chúng ta phải quay trở lại ? Vì đã đi lạc đường, lạc hướng. Đời sống con người là một cuộc hành trình đi về quê trời. Cuộc hành trình nào cũng phải có đích đến và cuộc hành trình chỉ kết thúc khi đến đích. Trong cuộc hành trình có những người đi lạc hướng, mà nếu đã lạc hướng thì không bao giờ tới đích. Ai đã lạc hướng mà càng chạy nhanh thì càng xa đích đến. Thánh Augustinô khen họ là những người “bene currit, sed extra viam” : chạy nhanh đấy nhưng lạc đường.
 
          Đại triết gia thời cổ Hy lạp xưa, ông Platon, đã nói :”Người chạy thì bao giờ cũng phải tới đích. Nếu không tới đích  thì chạy mau lẹ đến đâu cũng bằng vứt đi”.
 
          Điều kiện sám hối là phải “biết mình”, xem mình đang ở trong tình trạng nào và phải chỉnh hướng cuộc đời làm sao cho đúng. Cổ nhân thường nói :”Khôn chết, dại chết, biết là sống”.  Chính vì thế ông Socrate đã mở đầu triết thuyết của ông bằng câu châm ngôn nổi tiếng :”Anh hãy tự biết mình” (Connais-toi, toi même).
 
          Chúng ta có thể biết được nhiều sự từ xa đến gần, biết được nhiều sự trong trời đất, nhưng có một điều gần nhất mà ta lại không biết, đó chính là con người của mình.
 
                                      Truyện : Hậu sinh khả úy.
          Người ta kể rằng : một hôm Khổng Tử và đồ đệ đang đi đường, thình lình một cậu bé chặn đường không cho đi và xin hỏi Khổng Tử một câu :
          - Nghe tin ngài hiểu biết nhiều lắm, nhìn xa thấy rộng, xứng đáng là bậc thầy của thiên hạ. Dám xin hỏi ngài một câu . Khổng Tử trả lời :
          - Cứ nói.
          Cậu bé hỏi ngay :
          - Trước mắt ngài có bao nhiêu cái lông mi ?
          Khổng Tử lắc đầu, trả lời :
          - Chịu, không biết được.
          Cậu bé trả lời :
          - Có một cái gần nhất mà ngài không thấy thì làm sao thấy được những cái ở xa.
          Khổng Tử tỏ vẻ cảm phục và khen :
          - Thật, hậu sinh khả úy.
 
          Biết mình là một điều rất khó, nên thánh Augustinô đã phải cầu nguyện để được biết Chúa hơn và hiểu rõ con người mình hơn “Noverim Te, noverim me”.
          - Biết con là tạo vật một kiếp đời sống kiếp con người.
          - Biết con không là gì chỉ là bụi cát mà thôi.
          - Biết con thân phận hèn mỏng dòn muôn vàn yếu đuối.
          - Biết con bao tội tình để lòng xao xuyến khôn nguôi.
                   (Bài hát : biết Chúa, biết con).
 
          Không ai biết khuôn mặt thật của mình, chỉ có thể biết qua trung gian một chiếc gương soi. Nhưng cũng chưa chắc, nhiều khi cái gương kém phẩm chất phản chiếu không trung thực, có khi làm méo mó khuôn mặt thật của mình. Cũng thế, không ai biết khuôn mặt thật của linh hồn mình nếu không có Chúa để soi, chỉ có Chúa mới phản ánh cho ta biết được khuôn mặt thật của linh hồn mình.
 
          Khởi đầu sứ vụ rao giảng Nước Trời, Đức Giêsu đã đưa ra câu châm ngôn hướng dẫn :”Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến”. Sách Tin mừng (hay Phúc âm) là cái gương cho ta soi vì Phúc âm là những lời dạy dỗ của Đức Giêsu được các thánh sử ghi lại, làm chỉ nam cho đời sống của ta. Hãy để cho Chúa hướng dẫn đời ta, chúng ta tin chắc rằng không bao giờ bị lạc hướng vì Ngài đã nói :”Chính Thầy là con đường, là sự thật và sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6). Nhờ đọc lời Chúa mà chúng ta được Chúa soi dẫn, vạch đường chỉ lối cho ta đi, ban cho ta sức mạnh thiêng liêng để kiên nhẫn thực hiện Lời Chúa.
                                      Truyện : Tướng cướp sám hối.
          Trong một khu rừng già miền núi Hắc sơn ở nước Đức, một bọn cướp đang chia nhau chiến lợi phẩm mà chúng lấy được hồi đêm. Bọn cướp này có thói quen bán đấu giá với nhau của cải chúng cướp được, rồi sau đó chúng mới đem bán lại cho người khác.
 
          Hôm ấy, món cuối cùng chúng đem ra đấu giá là một cuốn Thánh Kinh. Tên cướp đóng vai hộ giá viên giới thiệu món hàng này bằng những lời diễu cợt phạm thượng khiến cả bọn cười ồ lên. Một tên khác mở đại một trang  như kiểu bói tóan. Hắn chỉ vào một câu và đọc to lên rồi thêm những lời trào phúng làm cả bọn cười ngặt nghẹo.
 
          Nhưng tên cầm đầu trong bọn bỗng dưng trở nên nghiêm nghị, hai tay ôm đầu rồi gục xuống tỏ vẻ suy nghĩ. Ba mươi năm về trước, chính vào buổi sáng ngày hắn quyết định bỏ nhà ra đi, hắn đã nghe ông bố hắn  đọc những lời Thánh Kinh này trong giờ kinh sáng của gia đình. Lúc này đây hắn không thể ngờ được rằng hắn lại nghe vang lên những lời ấy.
 
          Tên tướng cướp còn đang chúi đầu về dĩ vãng thì một đồng bọn vỗ vai hắn và bảo :”Này, sao đàn anh có vẻ mơ mộng thế ? Đàn anh muốn mua nó không ? Đàn anh cần cuốn Thánh Kinh hơn đàn em đó,  vì điển mặt anh hùng phạm pháp trên thế giới thì đàn anh phải là vô địch mà”.
 
          Trước lời diễu cợt bạo gan đó, hắn chỉ chậm rải trả lời :”Mày nói đúng ! Tao chính là thằng phạm tội nặng nhất. Cứ để cuốn sách cho tao, bao nhiêu cũng được.
 
          Bọn cướp chia tay để đem các món hàng đi bán. Riêng tên tướng cướp thì cầm cuốn Thánh Kinh, đi tìm một chỗ vắng trong rừng ở lại đó đọc Lời Chúa và ăn năn sám hối về cuộc đời tội lỗi của mình (Mỗi ngày một tin vui, tr 7-8).
 
          Tên tướng cướp có được lòng sám hối vì anh ta tin vào Lời Chúa. Lời Chúa có sức giúp anh cải tà qui chính và có thể trở nên thánh. Bởi vì, thánh nhân không phải là lọai người phi thường không có tội lỗi, nhưng các ngài cũng như chúng ta, chỉ hơn ta ở chỗ các ngài sống thực với lòng mình, biết kiên trì sửa sai lỗi lầm, biết khiêm tốn cậy nhờ Chúa giúp sức, biết cố gắng làm thiện hơn điều ác. Chúng ta đâu có khác gì với các thánh, đâu có thua gì các ngài. Chúng ta sẽ làm được nếu chúng ta muốn.
          2. Đám dân đã thấy ánh sáng huy hòang (Mt 4,16).
 
          Trước khi Đức Giêsu giáng lâm, thế gian ở trong tình trạng tối tăm và đáng sợ. Nhưng giữa tình trạng hãi hùng này đã vọng lên tiếng nói trấn an của Isaia, là vị tiên tri đã hứa với dân chúng rằng chẳng bao lâu nữa  một ánh sáng vĩ đại sẽ xuất hiện để phá tan đêm tăm tối. Và lời hứa của tiên tri Isaia đã được thực hiện viên mãn khi Đức Giêsu giáng lâm.
 
          Matthêu so sánh Đức Giêsu đến và xuất hiện giữa cuộc đời như một ánh sáng huy hòang chiếu soi mọi người đang sống trong bóng đêm sâu thẳm. Matthêu thấy Đức Giêsu là sự hòan thành lời tiên tri cao cả của Isaia :”Đòan dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hòang, những kẻ ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu soi”. Đức Giêsu đã mô tả sứ vụ của Ngài bằng những lời tương tự khi Ngài nói :”Ta là ánh sáng thế gian”.
 
          Con người cũng như vạn vật cần có ánh sáng để sống, riêng với con người thì không những  ánh sáng cần cho sự sống của thân xác mà còn giúp cho con người khỏi cô đơn. Bóng tối thường làm cho con người cảm thấy cô đơn và sợ hãi. Có nhiều thứ bóng tối trong cuộc đời chúng ta : bóng tối của ích kỷ, của ganh ghét, của hận thù, của đam mê. Càng giam mình trong những bóng tối ấy, chúng ta càng cảm thấy cô đơn và càng trở nên bệnh họan. Người nào càng sống ích kỷ, và người nào càng nghiền ngẫm đắng cay hận thù, người đó càng hạ giảm nhân tính của mình. Vì thế, chúng ta cần có ánh sáng để sống, để lớn lên trong tình người như để chữa trị những băng họai trong tâm hồn (Phạm văn Phượng).
 
          Các nhà tu đức bảo chúng ta rằng điều đã xẩy đến với Israel trên bình diện một dân tộc thì cũng sẽ xẩy đến với mọi người chúng ta xét trên bình diện cá nhân. Nói cách khác, trong đời sống chúng ta có những lúc ánh sáng vụt tắt khiến chúng ta rơi vào tăm tối y hệt như dân chúng  phải sống trong tối tăm trước khi Đức Giêsu giáng lâm. Vậy trong bóng tối tăm của tội lỗi, ai có thể xua đuổi được bóng tối ấy ? Thưa, chỉ có ánh sáng của Đức Kitô. Ngài là ánh sáng được Chúa Cha sai đến chiếu soi mọi người sinh trong thế gian. Ngài đã tuyên bố :”Ta là ánh sáng thế gian”, và ánh sáng là một trong những đề tài nổi bật trong lời rao giảng của Ngài.  Ngài mời gọi mọi người đi trong ánh sáng của Ngài :”Các con là ánh sáng cho thế gian. Không ai đốt đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng để trên cao soi cho cả nhà”.
 
                                      Truyện : ánh lửa trong đêm tối
          Trong cuốn Justs for today người ta có kể lại : ông J. Keller, một nhà diễn thuyết nổi tiếng, đang nói truyện trước trăm ngàn thính giả tại vận động trường Los Angeles, Hoa kỳ, đang diễn thuyết, ông bỗng dừng lại và nói :”Bây giờ xin các bạn đừng sợ, tôi sắp cho tắt tất cả các đèn điện trong sân vận động này”. Ông vừa dứt lời  thì cả sân vận động chìm trong bóng tối. Nhà diễn thuyết nói tiếp :”Bây giờ tôi xin đốt một que diêm, những ai nhìn thấy que diêm tôi đốt, xin kêu lên : “Đã thấy”. Cả sân vận động vang dội tiếng :”Đã thấy”. Rồi tất cả đèn điện lại được bật sáng. Diễn giả giải thích : “Ánh sáng của một nghĩa cử sẽ chiếu sáng trong đêm đen của nhân lọai như thế.  Một lần nữa, tất cả đèn điện lại tắt. Một giọng nói vang lên ra lệnh :”Tất cả những ai ở đây có đem theo diêm quẹt hãy bật lửa, xin hãy đốt cháy lên”. Bỗng chốc, cả sân vận động rực sáng. Diễn giả kết luận như sau :”Nếu tất cả chúng ta cùng hiệp lực với nhau,  chúng ta có thể chiến thắng bóng tối của sự dữ, hận thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta”.
 
          3. Anh em hãy nhất trí với nhau (1Cr 1,10).
 
          Đức Giêsu đến trần gian không có mục đích gì khác hơn là khôi phục lại sự hiệp nhất hài hòa giữa Thiên Chúa và nhân lọai, giữa con ngưởi với nhau, và chính nơi tâm hồn mỗi người. Sự hiệp nhất trong tình yêu này chính là lý tưởng của Đức Giêsu và là điều Ngài hằng tha thiết cầu xin cùng Chúa Cha  để trở nên  hiện thực như lời cầu nguyện hiến tế của Ngài :”Xin cho chúng hiệp nhất nên một”(Ga 17,21).
 
          Trong bài đọc 2 của Thánh lễ hôm nay, thánh Phaolô, vị Tông đồ Dân ngọai,  đã kêu gọi các tín hữu tiên khởi sống tinh thần yêu thương hiệp nhất trong đời sống cộng đòan và tỏ dấu quan tâm về sự chia rẽ bè phái đang diễn ra nơi họ. Thánh Tông đồ đã viết :”Hỡi anh em, nhân danh Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, tôi nài xin anh em  hãy lo cho được đồng ý với nhau hết thảy, đừng để có sự chia rẽ trong anh em, nhưng hãy đòan kết trong cùng một tâm trí, cùng một quan điểm”(1Cr 1,10).
 
          Sở dĩ thánh Phaolô phải viết thư cho tín hữu Côrintô là vì ở đó đang có sự chia rẽ trầm trọng. Các tín hữu đã chia thành bốn nhóm dựa vào một thừa sai mà chống lại nhau :”Tôi thuộc về Phaolô, tôi về phe Apôlô, còn tôi về phe Phêrô, và tôi thuộc về phe Chúa Kitô. Vậy Chúa Kitô bị phân chia rồi sao”(1Cr 1,12)? Tuy nhiên, những vấn đề tranh chấp giữa họ không thuộc phạm vi tín lý hay luân lý, nhưng chỉ là những khác biệt về tính tình, sở thích. Khi đã đến lúc phải chặn đứng vấn đề phe nhóm trong giáo đòan, thánh Phaolô bảo họ :”Người lãnh đạo của anh chị em là Đức Kitô chứ không phải tôi hay Apôlô. Và anh chị em chịu phép rửa nhân danh Chúa Ba Ngôi, chứ không phải nhân danh Phaolô hay Apôlô”(1Cr 1,13-15).
                                      Truyện : Mầm mống chia rẽ.
          Chuyện kể một nhà buôn nọ. Mặc dầu vất vả làm ăn nhưng anh ta không bao giờ bỏ việc khấn vái với thần thánh. Gặp kỳ cạnh tranh gay gắt trong công việc, anh ta càng gia tăng lời khẩn cầu gấp bội.
          Động lòng trắc ẩn, một hôm thần tiên hiện ra với anh và nói :”Thấy nhà ngươi thành tâm cầu xin nên ta không nỡ từ chối. Thôi thì bây giờ  cứ cho ta biết ngươi muốn gì, ta sẽ ban cho… và đồng thời  để tỏ cho nhân gian biết lòng quảng đại của ta thì hễ ban cho ngươi điều chi, ta cũng ban cho đồng nghiệp hay hàng xóm của ngươi như thế… và có khi gấp đôi luôn”.
          Nghe thần phán, lòng anh thương gia chuyển từ vui mừng  hân hoan qua buồn sầu lo lắng. Anh tự nhủ :”Nếu bây giờ mình xin một chiếc Lexus thì mấy thằng bạn… chúng nó sẽ được hai chiếc. Ồ, thế thì không được !  Nhưng nếu mình xin cho đươc trúng số 5 triệu thì mấy nhà hàng xóm… họ sẽ được tới 10 triệu. Thế lại càng không được !  Còn nếu mình xin cho có vợ đẹp con khôn thì coi chừng  đồng nghiệp sẽ có vợ đẹp gấp đôi vợ mình, con khôn gấp đôi con mình. Đó là chưa nói tới chuyện chúng nó được hai vợ, trong khi mình chỉ có một… Thời buổi cạnh tranh như thế này thì phải làm sao cho hơn người chứ ? Nhưng xin như thế làm sao mà hơn được”.
          Chàng thương gia nhíu mày đắn đo. Một lát sau, chợt anh ta reo lên như vừa tìm ra điều gì thú vị. Anh đến qùi xuống và thưa với thần :”Lạy Ngài, xin vui lòng cho tôi đui một con mắt”.
         
          Đọc câu chuyện này, chúng ta thấy lời cầu xin của người thương gia này thật là quái gở !  Đáng lẽ anh ta phải cầu xin cho mình được giầu sang phú qúi, được mọi sư may mắn để bản thân mình, gia dình mình được hạnh phúc và cả xã hội cũng được hạnh phúc theo,  chứ tại sao lại cầu cho mình phải rủi ro để người khác phải gặp rủi ro hơn. Thật lòng con người quá nhỏ nhen, ích kỷ và dã tâm.
 
          Do đó, chúng ta có thể cho là chính cái tính ghen tương, đố kỵ, ích kỷ, dã tâm là mầm mống của bao chia rẽ, bè phái, tranh chấp, phân ly … trong cộng đồng xã hội.  Tình trạng hơn thua làm nảy sinh phe nhóm bè phái không những chỉ ra ngòai đời, trong các đòan thể chính trị xã hội, nhưng phải đau lòng mà nói : có khi nó còn xuất hiện trong những tổ chức của Giáo hội nữa. Trường hợp chia rẽ tại cộâng đòan Côrintô ngày xưa đã làm chứng điều đó.
 


 
CHÚA NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN A
BẢN HIẾN CHƯƠNG NƯỚC TRỜI
+++
A. DẪN NHẬP.
 
          Bất cứ một quốc gia nào cũng phải có hiến pháp  do quốc hội qui định mọi sinh họat trong nước. Là công dân của một nước, mọi người phải sống và làm việc theo pháp luật của quốc gia đó. Đức Giêsu đã đi rao giảng Nước Trời và khi rao giảng trên núi, Ngài đã tuyên bố bản “Hiến chương Nước Trời” cho tất cả những ai  muốn làm công dân nước đó. Bản hiến chương này là một bản luật kỳ lạ chẳng giống chi với luật lệ của bất cứ một dân tộc nào trên thế giới. Bản luật này không do nguồn gốc nhân lọai nhưng do bởi trời, không nhằm mục đích vật chất mà nhằm nâng cao con người lên những giá trị vĩnh hằng.
 
          Theo bản Hiến chương đó, những ai muốn được hạnh phúc thì phải tuân theo bản “Tám mối phúc thật”. Đối với những người không có đức tin thì bản hiến chương này thật là nghịch lý! Làm sao khó nghèo, buồn sầu, bị bách hại… lại là hạnh phúc ? Đối với người đời, hạnh phúc nằm trong tiền của, thú vui, danh vọng, quyền bính… Ai mà lại không đuổi theo những thứ đó ?  Nhưng thực ra, những thứ đó mới đưa con người đến những hạnh phúc pha tạp, bất tòan và ngắn hạn, còn một thứ hạnh phúc tuyệt đối vĩnh cửu nữa mà chỉ những ai sống theo bản Hiến chương đó thì mới đạt tới.
 
          “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó”(Mt 5,2). Khó nghèo đây không phải là khó nghèo vật chất mà là khó nghèo trong tinh thần, nghĩa là gỡ lòng ra  cho khỏi dính bén  quá nhiều vào của cải đến nỗi ngày đêm chỉ mải mê nghĩ đến nó mà bỏ quên những cái khác, kể cả lương tâm, công bình, bác ái và sự sống đời sau. Chỉ những ai có lòng khiêm nhường mới có thể có được tinh thần nghèo khó ấy và mới đáng được hưởng hạnh phúc Chúa hứa ban ở trên trời.
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
 
          + Bài đọc 1 : Xp 2,3; 3,12-13.
 
          Đế quốc Assyria đặt ách đô hộ trên dân Do thái. Họ bị đè nén, áp bức, mất tất cả không còn gì.. Họ trở nên bé nhỏ và yếu thế, không còn hy vọng có một tương lai sáng sủa nào nữa. Nhưng tiên tri Xôphônia lại cho đó là cơ hội tốt cho người Do thái còn lại để họ biết đặt niềm tin vào Thiên Chúa và trở thành dân của Ngài. Vì thế, tiên tri an ủi và khuyến khích họ hãy sống công chính  và khiêm nhu để chờ đợi Chúa đến giải thóat họ.
 
          + Bài đọc 2 : 1Cr 1,26-31.
 
          Thánh Phaolô cảnh cáo giáo đòan Côrintô về tính tự kiêu tự mãn của họ. Nhiều người tự phụ vì đã thành công do sự khôn ngoan và khéo léo của mình. Họ đã chia ra thành bốn nhóm chống lại nhau như bài đọc 2 tuần trước đã đọc, chỉ vì họ kiêu căng  cho mình là khôn ngoan hơn những người khác. Nhưng thánh Phaolô cho họ biết sự khôn ngoan của Thiên Chúa vượt trên tất cả, sự khôn ngoan của lòai người chẳng đi đến đâu : những gì thế gian cho là điên dại, yếu kém, hèn mạt thì Thiên Chúa đã chọn  để hạ nhục những kẻ khôn ngoan.
 
          + Bài Tin mừng : Mt 3,1-12a.
 
          Đức Giêsu mở đầu sứ mạng truyền giáo bằng câu :”Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 4,12). Ngài muốn rao giảng về Nước Trời hay Nước Thiên Chúa, nơi mà mọi người có thể tìm được hạnh phúc chân thật. Chính vì thế, Đức Giêsu mới rao giảng về Tám mối phúc thật hay Hiến chương Nước Trời. Tám mối phúc  thật này dành cho những ai biết khôn ngoan tìm kiếm. Khi nói  đến phúc thật thì phải hiểu là hạnh phúc con người được hưởng trên thiên đàng, sau khi đã kết thúc cuộc hành trình trên trần gian. Các mối phúc thật theo Tin mừng  do Đức Kitô công bố xác định thái độ con người phải có để mở rộng lòng ra đối với Chúa và sống trong tình thân mật đối với Ngài.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                Tìm hạnh phúc đích thực.
I. ĐỨC GIÊSU RAO GIẢNG TÁM MỐI PHÚC THẬT.
 
          1. Cơ hội rao giảng.
 
          Phụng vụ hôm nay đọc lại cho chúng ta  bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu mà ta quen gọi là Bài giảng trên núi hay Hiến chương Nước Trời, hay Tám mối phúc thật.
 
          Thọat xem, chúng ta coi bài giảng trên núi như một bài giảng duy nhất trong một cơ hội duy nhất. Nhưng thật ra, đây là một bài tóm tắt của Ngài đã từng giảng mà thánh Matthêu đã sắp xếp lại thành một bài giảng duy nhất. Có người gợi ý rằng, sau khi Đức Giêsu lựa chọn 12 Tông đồ, Ngài đưa họ ra một nơi yên tĩnh độ một tuần hay lâu hơn để dạy dỗ họ trong suốt thời gian đó. Bài giảng trên núi  là tóm lược sự dạy dỗ đó.
 
          2. Các thính giả tham dự.
 
          “Khi Đức Giêsu thấy đòan lũ đông đảo”. Đòan lũ đông đảo gồm các tông đồ, các môn đệ và dân chúng kéo đến từ Galilêa bên kia sông Giorđan, từ miền thập tỉnh, miền Giuđêa và Giêrusalem. Trong đám đông này có những người Do thái  thuộc tất cả mọi học thuyết khác nhau, lại có cả dân ngọai đến từ Tyr và Siđon, đủ mọi thành phần. Đòan lũ đông đảo ở đây là hình ảnh dân mới của Đức Giêsu tuyển chọn tức là Giáo hội vậy.
 
          3. Đức Giêsu đưa họ lên núi.
 
          “Đức Giêsu đưa họ lên núi, ngồi xuống và phán dạy các tông đồ”. “Ngồi” là tư thế giảng dạy của các bậc thầy thời ấy. Khi một rabbi ban huấn thị thì thường đứng, hoặc đi qua đi lại, nhưng khi thực sự dạy dỗ thì ngồi xuống. Việc Đức Giêsu ngồi xuống dạy dỗ các môn đệ chính là dấu hiệu cho thấy điều dạy này là trọng yếu  và chính thức.
 
          Danh từ “Núi” còn ám chỉ một điều quan trọng. Ngày xưa trong đạo cũ, ông Maisen đã lên núi Sinai để lãnh nhận 10 điều răn và các lề luật của đạo cũ, một Hiến chương Nước Trời. Lề luật mới thay thế lề luật cũ. Giao ước mới kiện tòan Giao ước cũ.
          4. Nội dung bài giảng.
 
          Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu tuyên bố Hiến chương Nước Trời trong đó có hạnh phúc thật và thứ hạnh phúc này chỉ dành cho những ai
          - có tâm hồn nghèo khó.
          - có tinh thần hiếu hòa.
          - lo phiền sầu khổ.
          - khát vọng đời sống công chính.
          - biết xót thương người.
          - có lòng trong sạch.
          - biết xây dựng hòa bình.
          - bị ngược đãi vì sống công chính.
 
          Tám mối phúc thật này xem ra có vẻ nghịch lý và ảo tưởng đối với người đời, nhưng chỉ những ai biết khôn ngoan và có tâm hồn khiêm nhu mới hiểu được và mới có thể đạt tới hạnh phúc Nước Trời.
 
II. MỌI NGƯỜI ĐỀU ĐI TÌM HẠNH PHÚC.
 
          1. Hạnh phúc, khát vọng của con người.
 
          Khát vọng sâu xa và thầm kín nhất của con người là hạnh phúc. Người ta sinh ra để được hạnh phúc, và cuộc đời của mỗi người trên trần gian này cũng là một cuộc tìm kiếm hạnh phúc không ngừng.  Quan niệm về hạnh phúc của mỗi người một khác, nhưng hạnh phúc vẫn là một mối bận tâm lớn của con người.
 
          Vì thế, có thể nói người ta sinh ra, lớn lên và ngay cả chết nữa cũng là để được hạnh phúc. Nhưng thử hỏi : mấy ai đã được hòan tòan hạnh phúc  trên cõi đời này ? Vậy hạnh phúc phải chăng  là một điều viển vông hay một giấc mơ không bao giờ đạt tới ? Như thế bàn về hạnh phúc có phải là một điều không tưởng và một cách thế ru ngủ lòng mình hay không ?
 
          Nếu hỏi hạnh phúc là gì, và làm thế nào để có được hạnh phúc ? Có lẽ không mấy ai có thể cắt nghĩa cho rõ ràng được ! Vì hạnh phúc không là điều đơn giản có thể thu tóm trong một định nghĩa hay một công thức, hay một bài viết. Hạnh phúc cũng không giống như chiếc áo, chiếc xe, hay cái nhà mà ta có thể vẽ ra thành hình hài có mầu sắc, hay có thể mua sắm làm ra được.
 
          Có thể nói  được là, ngòai những vị sáng lập tôn giáo, những nhà hiền triết chính danh đều giúp con người đi tìm hạnh phúc, vì tìm hạnh phúc là thuộc bản năng của con người, như mọi sinh vật đi tìm thức ăn… Blaise Pascal tiên sinh cũng nhấn mạnh :
Tất cả mọi người đều đit ìm hạnh phúc, không trừ ai… Tất cả đều hướng về mục đích ấy, mặc dù phương pháp họ dùng có khác nhau. Vì phương pháp khác nhau mà người này thì đi chinh chiến, người kia thì không, nhưng ý định vẫn như nhau cả, đôi bên với những lối nhìn khác nhau. Ý chí không bao giờ hành động mà không hướng về chủ đích ấy. Đó là nguyên nhân hành động của con người, của cả người tự đi thắt cổ nữa” (Blaise Pascal, Pensées, t.II, tr 143).
          2. Phân lọai hạnh phúc.
 
          Chúng ta có thể chia hạnh phúc thành hai lọai :
 
          a) Hạnh phúc khả giác : đó là tất cả những gì chúng ta có thể nếm thử, sờ mó, nhìn xem, rung động hay khóai cảm, ví dụ ăn bữa cơm ngon, ta thấy khóai cái lỗ miệng, nghe bản nhạc hay ta thấy thích thú… Phần đông khi nói đến hạnh phúc thì người ta đều hình dung và quan niệm dưới góc cạnh ấy.
          b) Hạnh phúc tinh thần hay luân lý : Hạnh phúc này vượt trên vật chất và không lệ thuộc vào vật chất , những ai làm việc thiện  hay có khả năng thắng vượt những khó khăn và chịu đựng hòan cảnh thì cảm thấy thỏai mái, tâm hồn thảnh thơi. Quả vậy, kinh nghiệm cho hay, mỗi khi làm một việc thiện, thường tự nhiên ta cảm thấy vui vui. Đó là hạnh phúc của hiền nhân quân tử, có thể chấp nhận cái nghèo mà vẫn lấy làm vui.
 
          3. Người ta tìm hạnh phúc ở đâu ?
 
          Người ta đi tìm hạnh phúc nơi tiền của, thú vui, danh vọng, quyền bính … nhưng những cái đó không đương nhiên mang lại cho con người hạnh phúc. Chúng ta có thể đưa ra một trường hợp cụ thể để làm chứng : Ai lại không biết ông Tonner, một nhân vật nổi tiếng của Mỹ hiện nay, nhà tỉ phú sáng lập hệ thống truyền hình CNN. Trong một phỏng vấn mới đây dành cho tạp chí The New York, nhà tỉ phú này cho biết rằng mình thất vọng đến nỗi đã có lúc nghĩ tới việc tự tử.
          Con người đã từng được xem là một trong những người quyền thế nhất nước Mỹ, nhất là sau khi ông đã tặng hàng tỉ Mỹ kim cho tổ chức Liên Hiệp Quốc, giờ đây tự nhận mình là nạn nhân của một cuộc chiến tranh đủ mọi mặt, từ công việc kinh doanh, đời sống gia đình và ngay cả niềm tin tôn giáo. Thất bại trong đời sống gia đình là điều thê thảm nhất đối với ông. Ông và nữ tài tử Folda đã ly dị nhau sau tám năm chung sống. Lý do chính khiến cho hai người chia tay nhau là vì Folda đã trở thành một tín hữu Kitô. Tonner đã có lần nói rằng Kitô giáo là tôn giáo  dành cho những người thua cuộc và gọi Đức Gioan Phaolô II là một tên ngu ngốc. Với tất cả những gì mình đang có trong tay, ông có lý khi gọi các tín hữu Kitô là những người thua cuộc. Nhưng cái nghịch lý nhất của Kitô giáo mà con người giầu có và quyền thế này không thể hiểu được chính là thua để thắng, mất để được, chết để sống. Lẽ ra, trong nỗi thất vọng ê chề khiến ông chỉ còn nghĩ tới một lối thóat duy nhất là tự tử, Tonner phải hiểu được lời nhắn nhủ của Chúa Giêsu :”Chiếm được cả thế gian mà đánh mất chính bản thân, nào được ích gì”?
 
III. ĐÂU LÀ HẠNH PHÚC THẬT ?
 
          1. Tinh thần khó nghèo và hạnh phúc.
 
          Người ta ai cũng đi tìm sự giầu có vì “Có tiền mua tiên cũng được” mà Đức Giêsu lại nói :”Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó”, phải chăng là một sự nghịch lý ? Đúng vậy, với những người không có niềm tin thì đó là một điều hết sức nghịch lý. Nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại… không thể mang lại hạnh phúc mà chỉ mang đến sự bất hạnh thiệt thòi, khinh bỉ mà thôi.
          Như vậy phải chăng Đức Giêsu ngăn cản nền văn minh tiến bộ của nhân lọai đang vươn tới hùng cường, thịnh vượng sao ? Phải chăng Ngài ủng hộ cho hành động bóc lột và đàn áp sao ? ?  Không phải thế, Đức Giêsu không bảo cứ nghèo là hạnh phúc, nhưng Ngài muốn nói đến tinh thần khó nghèo (Mt 5,3). Người có tinh thần khó nghèo theo Tin mừng  là người siêu thóat không để lòng dính bén của cải trần gian như tiền tài, thú vui, danh vọng…Nhất là biết ý thức về tình trạng bần cùng của mình trong mọi lãnh vực, thế nên họ tuyệt đối cần đến Chúa. Chỉ có đức khó nghèo này mới là giầu có phong phú, vì nó mở rộng tâm hồn đón nhận các ân huệ Thiên Chúa và các ích lợi do tình yêu Ngài.
 
          Hay nói một cách rõ ràng hơn : Nghèo khó theo Tin mừng là nhìn một cách sáng suốt là tình trạng bất lực nhỏ bé của chúng ta, là thành thật nhận rằng tự sức mình, chúng ta không có gì, chúng ta chẳng là gì, chúng ta chẳng làm được gì. Tất cả những cái chúng ta có được đều là của Chúa ban như lời thánh Phaolô :”Tấùt cả là hồng ân”. Nghèo là nhận rằng mình tùy thuộc, mình không thể tự mình tổ chức được đời mình mà không cần đến Chúa.
 
          Sự nghèo khó này đưa chúng ta đến cùng Chúa và mở lòng Chúa cho chúng ta. Ai biết mình khốn cùng nghèo khó thì chạy đến cùng Chúa; kẻ ấy đặt hết tin tưởng nơi Người. Ngòai ra, sự khó nghèo lại mở được lòng Chúa ra cho chúng ta, vì Người là Tình thương, Người không thể giả điếc làm ngơ trước những lời chúng ta kêu cầu.
 
          Sự nghèo khó còn làm cho chúng ta nhạy cảm với những sự khốn cùng của những người khác, tìm cách làm cho người khác được hạnh phúc.  Chân phước Têrêsa Calcutta, một người sống nghèo khó đã giúp đỡ những người nghèo khó đã viết :”Hạnh phúc có nghĩa là  yêu như Chúa đã yêu, giúp đỡ như Người đã giúp đỡ, hy sinh như Người đã hy sinh, phục vụ như Người đã phục vụ…” Đó là chương trình Tám mối phúc thật.
 
          Như vậy, người có tinh thần nghèo khó là người chỉ biết chọn lựa Thiên Chúa, đặt trọn niềm tin tưởng nơi Ngài, đó chính là người có phúc nhất. Thánh vịnh đã xác định điều đó khi nói :”Phúc thay người đặt niềm tin tưởng vào Chúa”. Vì sao ? Vì khi đặt tin tưởng như thế thì
 
Họ như cây trồng bên suối nước,
Trổ sinh hoa trái đúng mùa
Lá cây không bao giờ tàn úa
Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt”.
 
          Ngược lại, người chỉ biết tin tưởng vào nơi tạo vật mà bỏ quên Thiên Chúa, nhất là còn chống đối Thiên Chúa thì họ sẽ không được hạnh phúc. Hạnh phúc thế nào được khi tâm hồn còn bồn chồn lo lắng, khắc khỏai lo âu ? Thánh Augustinô đã có kinh nghiệm về vấn đề này khi ngài viết trong cuốn Tự thuật :”Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, linh hồn còn vẫn còn khắc khỏai lo âu cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa”.
 
                                      Truyện : Nữ minh tinh Demi Moore.
          Mới đây, làng điện ảnh Hollywood thường đề cập đến nữ minh tinh Demi Moore, người rất được khán giả Hoa kỳ ái mộ, và cũng là vợ của Bruce Willis, một tài tử danh tiếng khác.
          Nổi tiếng và giầu có, nhưng Demi lại đang sống trong tình trạng mặc cảm, lo sợ, hối hận dầy vò. Số là trước khi bước chân vào nghề điện ảnh, Demi đã làm một nghề tồi bại : cho chụp hình playboy thân xác của mình.
          Mặc dầu đã tốn khá nhiều tiền mua lại các phim gốc, hầu xóa bỏ dấu tích của một thời thiếu đoan trang, Demi vẫn mang trong mình nỗi bất an lo sợ. Vì hiện nay đang có dấu hiệu xuất hiện các hình ảnh xấu xa của cô trên Internet.
          Demi lo cho danh dự của mình một phần, nhưng nguy hiểm hơn, cô đang sợ một ngày kia, ba đứa con gái bé bỏng của cô là Rumer, Scout và Talluah sẽ nhìn thấy các hình ảnh “không nết na” của mẹ chúng trên Internet, hoặc bị bạn bè bắt gặp và đem ra trêu chọc. Demi không muốn chứng kiếân cảnh các con ngây thơ vô tội phải xấu hổ đau khổ vì mình. Cô tâm sự :”Giấc mơ lớn lao nhất của tôi là  tìm mọi cách thu hồi những tấm ảnh playboy đó và ném nó vào đống lửa cho cháy tiêu tan”. Demi cũng cho hay cô không kiêu hãnh chút nào khi có người khen cô đẹp vẹn tòan, bởi vì cô đã phạm một lỗi lầm rất lớn là để cho người ta chụp hình khỏa thân hầu sớm nổi danh và giầu có (Bùi quang Tuấn).
 
          2. Hạnh phúc đích thực chỉ ở trong Chúa.
 
          Khi con người đầu tiên đánh mất tình yêu tòan vẹn của Thiên Chúa, và tội lỗi đã nảy mầm trong nhân lọai, thì hạnh phúc thật và viên mãn đã rời xa con người. Thiên Chúa đã nói :”Các ngươi sẽ phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có của ăn”(St 3,19) và đương nhiên đã xa rời nguồn yêu thương là Thiên Chúa, thì chúng ta phải chấp nhận thiếu thốn, nhất là thiếu thốn hạnh phúc, và chúng ta chỉ còn một con đường  tìm cách trở về sống hòa mình với nguồn tình yêu và hạnh phúc đích thực nơi Người, chúng ta mới thực sự được thỏa mãn (x Tv 16,2).
 
                             Truyện : Thần đồng Pic de la Mirandole.
          Hồi thế kỷ 14 (thế kỷ của Michel Ange và Raphael) ở nước Italia, có một thần đồng tên là Pic de la Mirandole. Không giỏi thuật điêu khắc như Michel Ange, không biết họa pháp như Raphael, nhưng dám can đảm giải đáp tất cả mọi thắc mắc trong thiên hạ, biện luận với mọi triết gia, bác học trên thế giới.
          Cũng vào thời kỳ ấy, tại thành Florence, có một văn thi sĩ tiếng tăm như sấm động và sống xa hoa vương giả, trong một lâu đài tráng lệ nguy nga.
          Một hôm – Poliziano – tên nhà thi sĩ – phái người đến chúc mừng và phỏng vấn Pic de la Mirandole. Ông liền được họ Pic phúc đáp trong một miếng giấy không to hơn lòng bàn tay :
          “Tìm hạnh phúc nơi tạo vật là một điên khùng. Hạnh phúc thật chỉ có thể gặp thấy trong Thiên Chúa” (Vũ minh Ngiễm, Dừng, tr 125).
 
          3. Thực hành “Tám mối phúc thật”.
 
          Hạnh phúc là một khát vọng tự nhiên và chính đáng của con người. Tuy nhiên, mỗi người quan niệm và đi tìm nó một khác. Giữa hạnh phúc khả giác và tinh thần, đối tượng và mức độ đã khác nhau. Đi xa hơn, hạnh phúc và tinh thần của Tám mối phúc thật lại còn khác nhau hơn nữa, trong cả nội dung lẫn hình thức.
 
          Hạnh phúc phần đông của lòai người theo đuổi là hạnh phúc khả giác. Hạnh phúc này không phải là hòan tòan xấu và bị cấm đóan, vì đó là những niềm vui tự nhiên thông thường của con người. Chính Chúa Cứu thế cũng đã chia sẻ hạnh phúc này  với người trần  khi đi dự tiệc cưới Cana, và trả lại sự sống cho người góa phụ thành Naim.
 
          Nhưng cũng lại chính Ngài đã mở cho ta  con đường đi vào hạnh phúc trường cửu, phổ quát. Đó là con đường “Tám mối phúc thật”, dành cho mọi người thành tâm thiện chí không hạn định, với điều kiện duy nhất là chấp nhận lời mời sống theo “Hiến chương Nước Trời” đã được ban hành sau bài giảng trên núi.
 
          Chúng ta cũng nên nhớ rằng hạnh phúc trần gian chỉ là hình ảnh của hạnh phúc thiên đàng. Bức ảnh chỉ cho thấy một phần nào sự thật, nó không thể LÀ sự thật. Tất cả mọi hạnh phúc lý tưởng mà con người quan niệm hoặc kinh nghiệm được ở trần gian chỉ là những hình ảnh, những dấu chỉ của hạnh phúc thật, nó chỉ được vén mở khi ta được may mắn nghe lời mời gọi của Chúa :”Các con hãy vào trong hoan lạc của Chúa con”(x.Mt 25,21-23)
 
                                      Truyện : Erman Coen.
          Erman Coen được mệnh danh là Augustinô của thời đại chúng ta. Ngài là một người Do thái rất giầu có. Thời trai trẻ, ngài chỉ biết ăn chơi và chạy theo thế gian. Sự nhàm chán cứ đè nặng trên vai ngài. Ngày kia, ngài đã từ bỏ tất cả và xin vào tu viện…
 
          Trong buổi giảng Mùa Vọng tại nhà thờ Đức Bà Cả ở Paris, ngài nói :”
Tôi đã đi khắp mặt đất, tôi đã yêu thế gian, tôi đã biết  thế giới, và tôi đã học được một điều : không có hạnh phúc ở trên thế gian này. Nhưng tôi cũng như nhiều người khác đã vào tìm nó nơi không có. Tôi đã tìm nó ở những nơi tôi tưởng nó có, ở những nụ cười, ở nơi vàng bạc, ở nơi sắc đẹp…
Ôâi, lạy Chúa, điều con mơ ước mọi giờ, mọi ngày con đã tìm ở đâu ? Và con đã chỉ tìm được nó trong Chúa và tình yêu Chúa”.
 
          Tóm lại, theo quan niệm Thiên Chúa giáo, hạnh phúc của con người chính là Thiên Chúa, nguyên lý và cứu cánh của vạn sự. Hạnh phúc viên mãn của con người hệ tại ở sự sống kết hiệp, trong sự tham dự, chia sẻ viên mãn, sự sống và tình yêu Thiên Chúa.

 


CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN A
MUỐI VÀ ÁNH SÁNG
+++
 
A. DẪN NHẬP
 
          Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu muốn nói đến sứ mạng của người môn đệ và người Kitô hữu. Ngài dùng một biểu tượng rất quen thuộc để nói lên vai trò của họ trong thế giới hôm nay : “muối đất và ánh sáng trần gian”.  Một bữa ăn mà không có muối thì lạt lẽo làm sao ! Một ngôi nhà dù sang trọng mà thiếu ánh sáng thì cũng không có giá trị.
 
          Trong một xã hội hoàn toàn tập trung vào tiến bộ kỹ thuật và tiện nghi, một xã hội chỉ biết hưởng thụ tối đa đời sống vật chất mà quên đi đời sống tâm linh, chúng ta có thể trở nên muối để tinh luyện và đem mùi vị đạo đức vào trong cuộc sống hiện tại không ?  Chúng ta có thể trở nên ánh sáng để xua tan bóng tối  của tội lỗi và đem niềm vui, an bình đến cho xã hội không ?
 
          Vai trò của người môn đệ là phải thấm nhuần tinh thần Đức Kitô để nên nhân chứng của Ngài trong cuộc sống, để có thể nói như thánh Phaolô :”Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Với gươngsáng và đời sống đạo đức, chúng ta  có thể phô diễn Chúa Kitô cho người khác và có thể lôi kéo họ trở về với Ngài.  “Muối cho đời, ánh sáng cho trần gian”. Ôi, ơn gọi tuyệt vời của các môn đệ Đức Kitô Giêsu !
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
 
          + Bài đọc 1 : Is 58,7-10 
 
          Khi bị lưu đầy bên Babylon, dân Do thái không còn Đền thờ, không còn các lễ nghi thì các tư tế và luật sĩ khuyến khích dân chúng giữ tinh thần đạo đức bằng viêc ăn chay, cầu nguyện và bố thí.  Nhưng rất tiếc, họ quá nhấn mạnh đến hình thức mà sao nhãng phương diện tinh thần..
 
          Khi được giải phóng trở về quê hương, dân Do thái vẫn thực hiện cách sống đạo đức theo hình thức cũ, nghĩa là họ chấp nhận một giá trị tuyệt đối cho việc chay tịnh.
 
          Tiên tri Isaia nói với họ rằng chay tịnh hợp ý Thiên Chúa và đồng thời giúp làm tròn nhiệm vụ nhân chứng cho ánh sáng là căn cứ vào việc chia sẻ với tha nhân, tạo lập sự công chính và bình an trong xã hội.
 
          + Bài đọc 2 : 1Cr 2,1-5
 
          Khi rao giảng Tin mừng cho giáo đoàn Corintô, thánh Phaolô cho biết mình chẳng có tài cán gì, không có tài hùng biện, không có những lời quyến rũ mà chỉ dùng lời nói đơn sơ rao giảng về thập giá Chúa Kitô.
 
          Theo ngài, thập giá đối với dân ngoại là một sự điên rồ và đối với người Do thái là một sự sỉ nhục, nhưng đối với ngài, thập giá là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, là vinh dự và là sức mạnh vượt trên sức mạnh của loài người.
          Bài Tin mừng : Mt 5,13-16
 
          Để nói về vai trò làm chứng cho Chúa, Đức Giêsu đưa ra hai hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống : muối và ánh sáng.  Ngài nhắc lại cho các môn đệ là  họ phải trở nên “muối cho đời và ánh sáng cho trần gian”. Họ sẽ được như vậy trong mức độ họ sống các mối phúc của Tin mừng.
 
-Là muối, các môn đệ Đức Kitô sẽ ngăn ngừa xã hội loài người  khỏi cảnh luân lý suy đồi,  và các ông sẽ đem lại hương vị cho các thực tại trần thế mà thường thường tự bản chất chúng rất lạt lẽo và giả dối.
 
- Là ánh sáng, các ông phản chiếu ánh sáng của Chúa Kitô ra cho những người chung quanh để họ nhận biết Chúa, theo Chúa và sẽ tìm được ơn cứu độ.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
 
Muối đất và ánh sáng cho trần gian
 
I. GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC GIÊSU.
 
          Trước mặt đám đông dân chúng đang nghe giảng, Đức Giêsu đã đưa ra Hiến chương Nước Trời mà ta thường gọi là bài giảng trên núi hay tám mối phúc thật.  Đoạn Tin mừng này tiếp nối với đoạn nói về những mối phúc thật, nên ở đây Đức Giêsu có ý nói với một cử tọa đông đảo chứ không có ý nói riêng với nhóm môn đệ. Vì thế,  kiểu nói “các môn đệ” ở đây đước hiểu là chung cho tất cả những ai biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
 
          Trong đoạn Tin mừng này Đức Giêsu nói về muối và ánh sáng. Đó là hai hình ảnh xác định rõ ràng và đúng bản chất cũng như sứ mạng của người môn đệ Đức Giêsu là chúng ta. Chúng ta phải là muối cho đời và ánh sáng cho trần gian.
 
          1. Các con là muối đất (Mt 5,13) 
 
a)   Muối và cuộc sống.  
 
Từ cổ chí kim, muối là một loại vật chất cần thiết cho mọi người trong nhiều lãnh vực. Muối bảo quản thức ăn, cũng là một gia vị cho thức ăn – thức uống. Muối còn được dùng để trị bệnh : đắp vào chỗ trặc gân, bong gân; muối sát trùng, để giúp tiêu hóa, để lưu giữ và chuyển tải i-ốt, ngăn ngừa bệnh tật… Muối cũng có nhiều công dụng khác nữa, kể cả các loài động vật và thực vật.
 
          Nhờ vào tính chất nào mà nó hữu ích cho đời sống chúng ta như vậy ?  Chắc chắn câu trả lời _ ai cũng biết  - là vị mặn của muối.  Nhưng giả như muối mà không mặn, thì chắc là không còn hữu dụng nữa.  Những hạt muối không mặn, người ta không ướp cá mắm gì được, không sát trùng được… và có thể nói : người ta cũng không muốn trải trên đường đi – vì giẵm lên làm đau chân.
 
          Dựa vào bản chất của muối là mặn, Đức Giêsu muốn nói về bản chất của người môn đệ Chúa Kitô là phải có đời sống mặn mà trong cuộc sống là làm chứng cho Chúa.
 
b)   Muối và Kitô hữu.   
 
Câu mở đầu bài Tin mừng hôm nay bắt đầu bằng năm chữ :”Các con là muối đất” (Mt 5,13). Tiếp liền vào đấy, Đức Giêsu nói ngay đến đặc tính của muối tức là chất mặn : nếu muối không mặn thì không thể ướp được gì hết, mà chỉ còn vất ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân.
 
          Chúa bảo các Tông đồ nói riêng và thính giả nói chung là muối đất, ngụ ý bảo các ông cũng như giáo dân lúc ấy phải mặn, cốt để ướp chính mình và để ướp thêm người khác.
 
* ĐỂ ƯỚP CHÍNH MÌNH.
 
Muối không thối bởi vì muối có chất mặn nên để ướp được chính mình. Ngày nào muối thối tức là ngày ấy muối đã hết mặn.  Muối hết mặn thì chỉ còn vất đi, dù ướp chính mình cũng không được nữa. Điều đó rất dễ hiểu.
 
          Chúng ta cũng vậy, dù là Linh mục, tu sĩ hay giáo dân, nếu không thánh thiện tự đáy lòng thì làm sao có thể thánh hóa bản thân, cũng như muối đã không mặn thì làm sao ướp được chính mình.  Vậy sự thánh thiện là một điều tối cần để thánh hóa bản thân, cũng như muối phải mặn để khỏi thối.
 
          Nếu ta là một Kitô hữu, ta cũng phải có “vị mặn Kitô”. Nếu ta không có “vị mặn Kitô” thì ta không giúp gì cho bản thân và cho người khác :
 
                                      Cá không ăn muối cá ươn,
                                Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.
 
          Đức Giêsu cũng khuyến khích chúng ta :”Các con hãy giữ muối trong lòng các con” (Mc 9,50). Ngài khuyên chúng ta  phải có “vị mặm Kitô” trong lời ăn tiếng nói, việc làm, cuộc sống ta phải mặn mà hấp dẫn để ướp trần gian, làm cho trần gian khỏi hư thối  :
 
                                      Một thương mái tóc đuôi gà
                                Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
 
* ĐỂ ƯỚP NGƯỜI KHÁC
 
Muối để ướp chính mình là truyện dĩ nhiên, nhưng còn phải ướp thêm vật khác nữa mới là công tác của nó.
 
          Người tu sĩ và giáo dân  thánh hóa bản thân để rồi không tham dự vào việc thánh hóa người khác, thì đó chỉ là việc THÁNH mà không HÓA : “Sự sáng của các con phải chiếu dọi để thiên hạ nhìn thấy việc lành các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5,16). Đó là một câu dạy chúng ta  phải thánh hóa chính mình để rồi thánh hóa người khác.
 
Truyện : Rao giảng bằng gương sáng
 
          Một hôm thánh Phanxicô Assisi gọi một thầy dòng lên dặn :
- Con lo sửa soạn chiều nay chúng ta phải đi giảng.
Đến giờ phải đi, hai cha con ra khỏi nhà đi một vòng quanh thành phố rồi trở về nhà.  Thầy dòng lấy làm lạ hỏi :
- Cha bảo cha đi giảng, sao chưa giảng mà cha đã về ?
Thánh Phanxicô nghiêm trang đáp :
- Như vậy là đã giảng rồi đó.
Thánh Phanxicô có ý nói : đi một vòng nghiêm trang nết na cho người ta thấy, đó cũng là một bài giảng bằng cách làm gương sáng. Gương sáng là một cách thuyết phục và thánh hóa người khác mau lẹ nhất :
                             Lời nói như gió lung lay
                             Gương bày như tay lôi kéo.
 
* NẾU MUỐI MẤT VỊ MẶN
 
          Đức Giêsu cánh cáo :”Nếu muối mà nhạt đi, thì lấy gì mà muối cho nó mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc đổ ra ngoài cho thiên hạ chà đạp lên thôi” )Mt 5,13).
 
          Nhưng  làm sao muối có thể trở nên nhạt được ?  Trong tác phẩm “Chúa Giêsu của Palestine”, Bishop kể lại một lời giải thích của cô Newton : tại Palestine bếp lò thường ở ngoài trời và làm bằng đá trên nền (đế) bằng ngói. Trong các lò lộ thiên như vậy, muốn giữ sức nóng, người ta đổ một lớp muối dầy ở dưới nền ngói. Sau một thời gian, muối mất mặn, người ta lật những miếng ngói lên, lấy muối ra, đổ trên đường vào cửa lò. Nó đã mất năng lực làm cho tấm ngói nóng lên bị quăng ra ngoài. Đó chắc hẳn là hình ảnh nói ở đây.
 
          Còn một điều đáng lưu ý là  đôi khi Hội thánh đầu tiên áp dụng câu này cách rất lạ :”Bị vứt ra ngoài cho người ta chà đạp dưới chân”.
 
          Trong hội đường, người Do thái có tục lạ : nếu một người Do thái bỏ đạo, rồi lại trở về với đức tin, trước khi được thâu nhận lại, người ấy phải ăn năn bằng cách nằm ngang cửa nhà hội và mời mọi người bước lên mình mà bước vào.
 
          Ở một số nơi, Hội thánh cũng theo tục lệ đó. Một Kitô hữu bị đuổi ra khỏi Hội thánh vì bị kỷ luật, trước khi được thâu nhận lại, buộc phải nằm trước cửa nhà thờ và mời mọi người bước vào :”Hãy dẵm lên tôi là muối mất vị mặn”.
 
          Muối bị nhạt đi là hình ảnh những Kitô hữu biến chất. Hình ảnh muối đất mà Đức Giêsu đưa ra làm ví dụ cho biết chúng ta bị biến chất khi chúng ta không còn mặn, nghĩa là trở thành vô dụng. Nói khác đi, người công giáo bị biến chất khi bên trong lẫn bên ngoài của người đó hoặc phai nhạt hoặc mất hẳn những tính chất biểu hiện con cái, môn đệ của Chúa.  Sụ biến chất này bắt nguồn từ nơi thâm sâu của cõi lòng khi chạm trán với những đòi hỏi gắt gao của Tin mừng, của giới răn bằng việc  hoặc dễ dàng chấp nhận sự đầu hàng buông xuôi, hoặc thỏa hiệp theo chủ trương mong ước trần tục của mình. Từ đó, chúng ta dần dần bằng lòng với cuộc sống tầm thường và chiếu theo những thói quen kiểu đạo đức dễ chịu. Tất nhiên hậu quả là  chúng ta không còn là muối nữa.
 
Truyện : Bình đựng muối trống rỗng.
 
          Sưu tầm mọi thứ đủ loại là môn chơi phổ biến ngày nay. Người ta sưu tầm tem thư, cúc áo, vỏ chai, sách hiếm, tiền cũ… Nghĩa là tất cả những thứ bạn có. Một nhóm những người sưu tầm đã tổ chức triển lãm ở một nhà hội Công giáo. Một người khách viếng thăm phòng triển lãm cầm ly cà phê và thịt quay, ông vừa đi vòng quanh vừa ăn.  Khi người khách đi qua chỗ trưng bầy sưu tập cả hàng trăm cặp bình đựng muối và hạt tiêu, ông ta thấy thịt quay của ông cần muối, ông liền đặt ly cà phê xuống và với lấy một bình đựng muối, nhưng không có muối.  Ông mở cả một tá bình đựng muối, nhưng cũng không có một hạt muối nào. Cuối cùng, ông trở lại gian hàng đồ ăn để kiếm muối.
 
          Hàng trăm cặp bình đựng muối mà không có muối. Đó là bức họa đời sống ! Rất nhiều người được coi là “có muối” mà thực ra lại không có muối. Sự kiện này giúp chúng ta hiểu điều Chúa Giêsu nói hôm nay :”Các con là muối đất” (Arthur Tonne, Bài giảng Tin mừng A, tr 37).
 
          2. Các con là ánh sáng thế gian (Mt 5,14). 
 
          Đức Giêsu còn khuyên chúng ta phải trở nên ánh sáng thế gian để soi sáng cho những người đang lần mò trong đêm tối của tội lỗi để đem ánh sáng đức tin đến cho họ.
 
a)   Ánh sáng và cuộc sống
 
Ánh sáng là loại vật chất mà nhờ đó, người ta nhận thấy các vật chung quanh mình.  Ở những nơi tối, người ta càng cần tới ánh sáng và càng nhận thức rằng ánh sáng rất cần cho sự sống. Có thể nói : không có ánh sáng không thể có sự sống.  Ánh sáng kích thích cây cối hoa mầu sống phát triển mạnh mẽ. Thiếu ánh sáng chúng bị úa, bị chết yểu.  Thế kỷ 20 mệnh danh là “thế kỷ ánh sáng”. Biết bao nhiêu phát minh tân kỳ từ đèn điện, bếp điện đến những phát thanh truyền hình, rada, quang tuyến, siêu âm, vi tính, cáp quang…
 
          Khi có ánh sáng, người ta không thể che giấu được vật gì, tốt cũng như xấu. Để diễn tả điều này, Đức Giêsu đã nói :”Một thành phố xây dựng trên núi, không tài nào che giấu được”(Mt 5,14).
 
          Các thành phố Do thái xưa thường được xây trên núi như Nazareth, Giêrusalem… nên từ xa  đã nhìn rõ toàn thể thành phố.
 
          Từ bờ hồ Tibériade, người ta thấy thành Saphed, ở trên cao với cao độ hơn 1000 mét, thành được xây trên những núi  nằm ngang của dẫy núi Galilê, chiếu ánh sáng của nó ra chung quanh. Đức Giêsu đã thường thấy những căn nhà mầu trắng của thành  được mặt trời chiếu sáng.
 
          b) Kitô hữu và ánh sáng.    
 
          Ngôi Lời là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta như Người đã xác nhận :”Ta là ánh sáng thế gian, ai theo Ta sẽ không mất đi trong đêm tối tăm, nhưng sẽ được ánh sáng ban sự sống”(Ga 8,12) và ban cho chúng ta ánh sáng.  Ngài nói :”Chính các con là ánh sáng cho trần gian”(Mt 5,14). Dĩ nhiên, chúng ta không phải là nguồn ánh sáng mà chỉ là ánh sáng phản chiếu của Chúa Kitô.
 
          Vậy bản chất của ánh sáng  là chiếu ra ngoài hay chiếu vào trong nó ?  Đương nhiên là chiếu ra. Cây đèn có sức chiếu sáng, nhưng không phải chiếu cho nó mà cho chung quanh nó. Chính Đức Giêsu đã nói :”Người ta không thắp đèn rồi để dưới đáy thùng, nhưng đặt trên giá hầu soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời”
 
          Ánh sáng phải chiếu tỏa ra, nhưng tỏa ra như thế nào đây ?  Chắc chắn không phải chỉ bằng những lời kêu gọi trống rỗng, vô hồn vì chẳng mấy ăn nhập với đời sống của người lên tiếng.  Nhưng tốt hơn là để cho lời kêu gọi hoán cải, thánh hóa dính kèm với những biểu tỏ cụ thể, sống động, hoặc để cho lời mời gọi ấy tiềm tàng trong những gương mẫu tích cực của đời sống.  Điều này chính Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Phaolô VI cũng đã phát biểu cách mạnh mẽ răng :”Con ngưởi thời nay tin vào các nhân chứng hơn là thầy dạy”.
 
          Năm 1937, Gandhi, một lãnh tụ vĩ đại của Ấn độ, đã nói với các nhà truyền giáo :”Hãy để cho đời sống của các ngài nói với chúng tôi như đóa hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ cần đơn sơ để cho hương thơm lan tỏa. Cả người mù không xem thấy hoa hồng, vẫn nhận ra được mùi thơm của nó. Hãy để chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của người Kitô hữu khi họ tỏa hương thơm đời sống. Đối với tôi đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời Kitô hữu, chứ không phải là chú giải nó”.
 
          Quả thật, chính khi nỗ lực đáp lại lời mời nên muối và ánh sáng cho trần gian, là chúng ta tự làm cho mình nên cao cả và hạnh phúc.  Chúng ta phải xác tín rằng lời kêu gọi của Chúa Kitô qua sứ điệp Tin mừng hôm nay không phải đến từ bên ngoài, nhưng nó đã được khắc sâu từ trong tâm khảm của mọi người chúng ta, và nó vẫn hằng thống thiết kêu gọi chúng ta phải tích cực đáp lại để kiến tạo niềm vinh phúc cho mình và những người chung quanh. Chớ gì chúng ta sẽ không bao giờ còn ngập ngừng hoặc bịt tai lại nữa.
 
II. SỨ MẠNG CỦA KITÔ HỮU
 
1.    Phải có tinh thần truyền giáo. 
 
          Với hai hình ảnh của muối và ánh sáng đã được Đức Giêsu phát biểu theo chiều hướng truyền giáo rõ rệt, khó có thể hiểu khác đi. Chúng ta chứng minh mình là môn đệ Đức Giêsu qua cuộc sống đức tin, lối yêu thương, tinh  thần Tin mừng.
 
          Giáo hội lúc nào cũng nỗ lực truyền giáo, bỏ ra biết bao nhiêu nhân lực và tài lực vào công việc này.  Nhưng… hiện nay, dân số Kitô giáo trên thế giới  tuy có tăng theo đà tăng của dân số thế giới, nhưng tỷ lệ người Kitô hữu đang càng ngày càng giảm khoảng từ 50 năm nay, nhất là tại Âu châu. Tại châu Âu, nơi trước đây số Kitô hữu đã lên tới 70%, thì nay tỷ lệ người Kitô hữu thực hành đạo thực sự (pratiquants) chỉ cò chưa tới 5% (có người cho biết chỉ còn 2,5 hoặc 3%). Tại châu Á, tỷ lệ người Kitô hữu hiện nay – theo thống kê của Tòa thánh     tính đến cuối năm 1998 – chỉ được 2,7%.  Số Kitô hữu gia tăng chủ yếu là do trẻ con vừa lọt lòng mẹ thì đã thành Kitô hữu do được rửa tội sớm, và số người lớn trở lại Kitô giáo chủ yếu là do việc kết hôn với người Kitô hữu đòi buộc. Số người giác ngộ Kitô giáo tự nguyện theo thì rất ít. Thực trạng đó quả không đáng tự hào chút nào.
 
2.    Truyền giáo bằng chứng tá
 
Qua bài  Tin mừng hôm nay, Giáo hội nhắc nhở chúng ta về bổn phận tông đồ truyền giáo của người Kitô hữu trong môi trường sống. Bổn phận này đòi hỏi theo bản chất, nghĩa là người Kitô hữu không thể sống mà không làm việc truyền giáo trong môi trường mình sống.
 
Là ánh sáng, chúng ta phải chiếu soi cho thế gian bằng đời sống gương sáng và đem tinh thần Chúa Kitô thấm nhiễm vào môi trường sống của mình. Chúa bảo chúng ta :”Các con hãy là chứng nhân của Thầy”, nhưng nhiều khi chúng ta vô tình hay hữu ý đã trở thành phản chứng, làm méo mó khuôn mặt của Đức Kitô, khiến người ta không muốn theo Chúa.
 
          Ta hãy nghe Mahatma Gandhi – được Ấn độ xem như là một vị thánh – nói về cách sống đạo của những Kitô hữu trong xã hội của ông.  Ông đã lên tiếng, có vẻ như thách thức người Kitô hữu, cụ thể là những người Anh đô hộ họ : Nếu những người Kitô hữu ở Ấn độ thật sự sống đúng tinh thần của Đức Kitô, thì họ chẳng cần mất công rao giảng, toàn Ấn  độ sẽ trở thành Kitô hữu hết.
 
Trước mắt ông, người Kitô hữu, cụ thể là người Anh đang đô hộ dân tộc ông – cũng tham lam, bất công và tàn bạo không kém gì những kẻ xâm lăng khác.  Ông rất say mê Đức Kitô, nhưng ông không thể trở nên Kitô hữu, vì những người đem Kitô giáo đến với dân tộc ông – người Anh – lại chính là những người  đang nô lệ hóa dân tộc ông, đàn áp dân tộc ông một cách dã man.  Ông không thể tin rằng dân Ấn độ hiền lành của ông cứ phải gia nhập cái đạo của những người đang quàng ách nô lệ lên dân tộc ông thì mới được cứu rỗi.  Nếu những kẻ nô lệ hóa dân tộc ông một cách bỉ ổi mà được Thượng Đế thưởng công chỉ vì họ là người Kitô hữu, đang khi dân tộc hiền hòa của ông lại bị phạt chỉ vì không phải là Kitô hữu, thì một vị Thượng Đế như thế không thể chấp nhận được.
 
Đức Giêsu dùng hai hình ảnh “muối và ánh sáng” là có ý nhắm tới bản chất của các môn đệ, của người Kitô hữu hơn là nói tới việc làm của họ. Muối tốt không thể không ướp mặn. Ánh sáng không thể không chiếu sáng. Người môn đệ, Kitô hữu sống các mối phúc thật không thể không gây tác động và ảnh hưởng ra chung quanh. Đúng là “hữu xạ tự nhiên hương”.
 
Truyện : Ánh hào quang
 
          Lobsang Rampa là một thiền sư Tây tạng nổi tiếng trên thế giới với tác phẩm “Con mắt thứ ba” (Le troisème oeil).  Viện văn hóa nghệ thuật Việt nam đã dịch nó thành “Các Lạt Ma hóa thân”. Ở trang 11-12 (Bản Việt ngữ) viết rằng : “Theo khoa học huyền môn, thể xác con người chỉ là một lớp vỏ, một áo khoác bên ngoài của một linh hồn hay “Chân ngã”… Quanh con người có một vầng hào quang thô thiển phản ánh nguồn sinh lực bên trong.  Một người thánh thện hay khỏe mạnh thì hào quang sáng rõ, vươn ra cách thể xác vài phân. Một người tội lỗi hay yếu đuối thì hào quang mờ tối, thu sát vào thể xác.  Khai mở Thần nhãn để quan sát vầng hào quang này, ta có thể biết được chân tướng mọi người mọi vật hay tình trạng sức khỏe của một người để chữa bệnh.
 
          Đúng thời kỳ sinh nhật thứ 9 của tôi, tôi được đưa vào một căn phòng đặc biệt. Bốn vị Lạt ma Trưởng Lão trong đó có sư phụ tôi cũng đến đó truyền dạy cho tôi những phép bí truyền để khai mở Thần Nhãn… Sau 9 tháng công phu luyện tập, tôi đã thành công… Lần đầu tiên tôi mở mắt ra sát chung quanh, một kinh nghiệm lạ lùng xẩy ra khiến tôi xúc động.  Tôi thấy có 4 vị Lạt Ma Trưởng Lão đều được bao phủ quanh mình bởi một hào quang chói lọi như ánh lửa. Về sau tôi hiểu rằng các vị Trưởng Lão có một đời sống rất tinh khiết mới có được hào quang như vậy.
 
          Khi tôi khai mở Thần Nhãn, tôi phát hiện những rung động khác nữa, xuất phát từ cái trung tâm hào quang đó.  Nhờ đó tôi có thể đoán biết tình trạng sức khỏe của một người ra sao. Cũng như thế, bằng cách xem sự thay đổi mầu sắc của hào quang, tôi có thể đoán biết kẻ đó nói dối hay nói thật.
 
          Albert Camus nói :”Ngày nay, thế giới cần những Kitô hữu vẫn luôn là Kitô hữu”.
 

CHÚA NHẬT 6 THƯỜNG NIÊN A
SỐNG THEO TINH THẦN MỚI
+++
 
 
A. DẪN NHẬP  
 
          Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu tuyên bố với đám đông dân chúng :”Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Maisen hoặc giáo huấn của các tiên tri. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn… Dù một chấm một phết trong sách Luật cũng không bỏ đi được” (Mt 5,17-18).  Chỗ khác Ngài lại nói như người có quyền hơn cả Maisen :”Anh em đã nghe dạy người xưa rằng… Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”(Mt 5,21-22). Phải chăng hai lời tuyên bố này có một sự mâu thuẫn ? Và làm thế nào để giải quyết điều xem ra mâu thuẫn đó ?
 
          Thực ra, Đức Giêsu không nhằm phá bỏ luật Maisen và giáo huấn của các tiên tri, Ngài chỉ kiện toàn và làm cho nó mới mẻ hơn thôi ! “Kiện toàn” vì nó đòi hỏi cao hơn, hoàn hảo hơn, nhân bản hơn, đạo đức hơn, nghĩa là nó thấm nhuần tinh thần bác ái, yêu thương. “Mới” vì từ nay tuân giữ luật lệ, không chỉ làm theo hình thức bề ngoài, mà phải tỏ thiện chí bên trong với một ý hướng ngay lành tuyệt đối, một tình mến chân thành.
 
          Theo lời Chúa dạy, từ nay chúng ta phải sống công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, nghĩa là giữ đạo, tuân giữ luật không vì luật mà vì lòng mến Chúa. Chúng ta không giữ luật như người tôi tớ phải làm theo ý chủ, nhưng sống như những người con thảo muốn làm theo ý Cha mình. Đó là bản chất của luật tình thương.
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
 
          Bài đọc 1 : Hc 15, 15-20
 
          Bài đọc 1 trích trong sách Đức Huấn Ca cùa Ben Sira. Đức Huấn Ca là một sưu tập  những ý tưởng khôn ngoan của các bậc tiền bối trong thiên hạ cách chung  và trong dân Do thái cách riêng.
 
          Theo tác giả, con người được tự do chấp nhận hay khước từ các điều răn của Thiên Chúa, nhưng ai nấy phải chịu trách nhiệm về quyền tự do của mình.
 
          Đứng trước hai con đường, con người có quyền tự do lựa chọn : điều tốt hay điều xấu, sự sống hay sự chết.  Chúa để cho con người được tự do là có ý cho nó  biết dùng tự do cách ý thức và trưởng thành, nhờ đó mà được ân thưởng hay bị trừng phạt.
 
          Bài đọc 2 : 1Cr 2,6-10
 
          Trong Hội thánh tại Corintô, có một số người tự phụ kể mình là người khôn ngoan, nhưng thánh Phaolô cho biết  sự khôn ngoan đó chỉ là ảo mộng của con người. Chỉ có một sự khôn ngoan đích thực , đó là sự khôn ngoan của Tin Mừng.
 
          Và ngài giải thích về hai sự khôn ngoan đó : khôn ngoan của thế gian chỉ dẫn tới hư vong; còn khôn ngoan của Thiên Chúa , tuy có bị thế gian cho là ngu dại (khôn ngoan Thập giá) nhưng đưa đến vinh quang.
 
          Bài Tin Mừng : Mt 5,17-37
 
          Đức Kitô loan báo rằng Ngài đến không phải để bãi bỏ lề luật cũ mà thay vào bằng lề luật mới,  nhưng đến để kiện toàn luật cũ bằng cách giảm bớt các trói buộc quá nặng nề và nhất là nhấn mạnh trên các lý do giữ luật dựa trên tình yêu tinh ròng.
 
          Thực ra, luật mới ở đây là luật cũ  đã được làm cho nên hoàn hảo. Sự hoàn hảo mà Đức Kitô đòi hỏi nơi các môn đệ làm thay đổi hẳn  ý nghĩa của lề luật, dù việc thi hành bên ngoài vẫn như cũ.
 
          Nói khác đi, người ta giữ luật không phải dựa vào hình thức bên ngoài mà giữ luật, mà giữ luật vì lòng yêu mến Chúa.  Người ta không vâng lệnh Chúa như kẻ làm công tuân theo ý chủ, nhưng như người con thảo hiền vì yêu quí  mà hết lòng làm theo lệnh của cha mình.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
 
                                                Sống theo tinh thần mới
 
          Trước đám đông dân chúng, Đức Giêsu tuyên bố :”Anh em đừng tưởng rằng Thầy đến để bãi bỏ luật Maisen hoặc giáo huấn của các tiên tri. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn… Một chấm một phết trong sách luật cũng không thể bỏ đi được” (Mt  5,17-18).
 
          Câu tuyên bố này làm cho người ta thắc mắc bởi vì câu nói và việc làm của Ngài xem ra trái nghịch nhau.  Phải chăng Đức Giêsu là một người cấp tiến, đến để hủy bỏ hết các sách Luật và các tiên tri để thay thế vào một luật mới; hay Ngài là một người bảo thủ, giữ nguyên vẹn luật cũ, không thay đổi một chút nào, dù rất nhỏ mọn ?
 
I. LỀ LUẬT TRONG ĐẠO CŨ
 
1.    Các sách Lê Luật cũ.
 
Dân Do thái giữ luật ông Maisen, luật mà Thiên Chúa đã truyền cho dân chúng qua ông Maisen.  Các luật ấy được gọi chung là Lề Luật hay Pháp Luật.
 
Người ta có thể hiểu chữ Lề Luật ấy theo 4 ý nghĩa khác nhau :  
a) Họ dùng để chỉ Mười Điều Răn.     
b) Chỉ 5 sách đầu của Kinh Thánh : Ngũ Kinh Maisen : 5 cuốn sách đầu của Kinh thánh  được người Do thái gọi là Luật Pháp ưu tú, tuyệt hảo và là tầm quan trọng nhất của Thánh kinh.
c) Họ cũng dùng Luật Pháp và lời tiên tri để chỉ cả Kinh Thánh, là phần Cựu Ước của chúng ta đang có.
d) Họ dùng từ ngữ đó để chỉ Luật Pháp truyền khẩu hoặc Luật Pháp của các luật sĩ.
 
Trong thời Đức Giêsu, nghĩa thứ bốn thông dụng nhất.  Cả Đức Giêsu và Phaolô đều lên án Luật Pháp của các thầy luật sĩ.
 
2.    Luật Pháp của các luật sĩ.
 
Trong Cựu Ước chúng ta thấy rất ít luật lệ, chỉ có các nguyên tắc bao quát, mỗi người phải biết  và giải thích dưới sự soi dẫn của Thánh Thần để áp dụng cho những hoàn cảnh cá nhân. Chúng ta không thấy luật lệ trong Mười Điều Răn. Vì mỗi điều răn hàm chứa một nguyên tắc lớn, từ đó mỗi người phải tìm ra luật lệ riêng cho đời sống.
 
          Đối với những người Do thái về sau những nguyên tắc lớn này dường như không đủ. Họ xem luật pháp là thiêng liêng  trong đó Đức Giêsu phán những lời chung quyết,  bởi vậy mọi sự phải gồm tóm trong đó.
 
          Nếu một sự việc không được nói tỏ tường trong Luập Pháp thì cũng phải hàm ngụ ở trong đó. Bởi vậy, họ tranh luận rằng Luật Pháp có thể suy diễn ra luật lệ cho mỗi người trong mỗi hoàn cảnh của cuộc đời. Do đó, nảy sinh ra hạng người gọi là “rabbi” : luật sĩ, suốt đời chuyên suy luận những nguyên tắc lớn lao của Pháp Luật để lập ra hang ngàn, hang vạn luật lệ khác.
 
          Chúng ta hãy đưa ra một ví dụ.:
 
          Luật pháp dạy rằng hãy giữ ngày sabbat để làm nên ngày thánh và trong ngày đó không được làm công việc gì.  Đó là nguyên tắc lớn. Những người duy luật Do thái rất say mê định nghĩa, nên họ hỏi rằng : công việc là gì ? Tất cả mọi thứ sự việc  đều có thể định nghĩa là công việc. Thí dụ : mang một gánh nặng trong ngày sabbat là làm việc, nhưng kế đó phải định nghĩa gánh nặng.  Vậy luật pháp của các thầy luật sĩ qui định rằng : gánh nặng là lượng thức ăn bằng sức nặng của một trái vả khô, rượu đủ để pha một ly, sữa đủ cho một ngụm, dầu đủ để xức cho một chi thể nhỏ, giấy đủ để viết một báo cáo của thương chánh, mực đủ để viết hai chữ trong bảng mẫu tự, sậy đủ để làm cây viết… và cứ như thế không bao giờ hết.
 
          Chúng ta nên lưu ý rằng trải qua nhiều thế hệ, luật lệ của các luật sĩ không được chép ra, nó chỉ là luật truyền khẩu được truyền lại trong ký ức của nhiều thế hệ giới luật sĩ. Đối với người Do thái chính thống trong thời Đức Giêsu  thì phục vụ Thiên Chúa chính là giữ tất cả hàng ngàn các luật lệ này, họ coi đó là những vấn đề sống chết với số phận đời đời.
 
II. ĐỨC GIÊSU KIỆN TOÀN LUẬT CŨ
 
1.    Đức Giêsu không phá bỏ luật cũ
 
Đốí với luật truyền khẩu tức là luật của các luật sĩ đặt ra, rõ ràng là Đức Giêsu không có ý nói  không một điểm nào trong thứ luật này phải qua đi, vì Ngài đã nhiều lần phá bỏ, nhiều lần lên án chúng, và chắc chắn đó không phải là  luật pháp chỉ bằng từ ngữ “Luật Pháp” vì chính Ngài và Phaolô đều lên án.
 
          Đức Giêsu đã phán :”Ta không đến để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn” (Mt 5,17). Ngài kiện toàn bằng cách  thực hiện các lời tiên tri đã báo trước (Mt 3,2) và làm cho tinh thần luật của Cựu Ước được hoàn hảo hơn, vì chữ viết thì giết chết, tinh thần mới giải thoát.
 
          Ngài còn nói thêm :”Một chấm một phết trong Sách Luật cũng không thể bỏ đi được”(Mt 5,15).  Trong văn tự luật nói chung và nói riêng tiếng Do thái, thêm bớt một dấu chấm, dấu phết sẽ làm cho ý nghĩa của luật thành khác hẳn. ví dụ :
 
                                      “Nàng có ba người anh đi bộ
                                      Đội những em nàng…”
 
          Cũng thế, nguyên văn là một chữ, một vạch nhỏ, tức là chữ và dấu nhỏ nhất trong bộ mẫu tự Hy lạp.  Do đó cho dù một chi tiết nhỏ nhất trong luật cũng được tôn trọng. Không phải là tôn trọng luật tỉ mỉ do các luật sĩ và biệt phái thêm vào, nhưng là tôn trong luật Maisen sau khi luật này  đã được kiện toàn và đã đước Đức Giêsu phá bỏ những gì lỗi thời và được kiện toàn  nhờ có động lực tinh thần bác ái (Mt 9,17).
 
2.    Đức Giêsu kiện toàn luật cũ
 
Trước hết, Đức Giêsu đưa ra nguyên tắc tổng quát là Ngài không đến  để phá hủy lời dạy của Maisen và các tiên tri mà là để hoàn tất nó.  Nói cách khác, giáo huấn của Đức Giêsu không phá hủy giáo huấn Maisen và các tiên tri giống như tuổi trưởng thành không tiêu diệt thời thơ ấu. Đúng hơn cái này bổ túc cho cái kia.
 
          Sau  khi xác định rõ nguyên tắc tổng quát này, Đức Giêsu tiếp tục đưa ra những lời dạy rõ ràng. Chúng ta thử xem một vài ví dụ :
 
          Maisen dạy rằng phạm tội ngoại tình là một điều sai quấy, giờ đây Đức Giêsu nói thêm là chỉ cần nghĩ đến và đồng ý đến tư tưởng ngoại tình là đã sai quấy rồi. Giáo huấn của Đức Giêsu nhìn nhận một sự kiện đơn giản thuộc lãnh vực con người : Tư tưởng ngoại tình là “mầm giống” để “cây non” ngoại tình mọc lên. Chận đứng cái này tức là chận đứng cái kia.
 
          Luật cũ dạy :”Chớ giết người”, còn Đức Giêsu dạy :”Ai giận anh em mình” thì như đã phạm tội giết người. Vì thù oán anh em  là đã tiêu diệt họ ngay trong lòng mình.  Tuy chưa giết họ thực sự, nhưng đã giết chết họ trong trái tim mình rồi. Thánh Gioan viết :”Phàm ai ghét anh em mình thì là kẻ sát nhân”(1Ga 3,15).
 
          Luật cũ cho phép thề, nhưng “chớ bội thề”, còn Đức Giêsu bảo :”Đừng thề chi cả”. Lời nói tự nó phải có giá trị. Vì thế, “hễ có thì phải nói có, hễ không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,37).
 
          Như vậy, Đức Giêsu đã kiện toàn luật và làm cho nó trở nên mới mẻ hơn :
 
- “Kiện toàn”  vì nó đòi hỏi cao hơn, hoàn hảo hơn, nhân bản hơn và đạo đức hơn.  Nói khác đi, vì nó thấm nhuần tinh thần bác ái, yêu thương.
 
          - “Mới” vì từ nay tuân giữ luật lệ, không chỉ làm theo hình thức bên ngoài, mà phải tỏ thiện chí từ bên trong với một ý hướng ngay lành tuyệt đối, một tình mến chân thành.
 
          Muốn kiện toàn lề luật, muốn con người sống hoàn hảo, phải thanh tẩy nội tâm con người. Cái “tâm chân chính” sẽ hướng dẫn con người sống chân chính. Nguyễn Du, một thi sĩ vào bậc nhất Việt nam, đã thấy rõ điều đó :
 
                                      Thiện căn ở tại lòng ta,
                                Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
 
          Khổng Tử đã huấn luyện các đồ đệ trở thành người quân tử đã lấy “chính tâm thành ý” làm nền tảng, vì “Tâm quảng, thể bàn”, tâm quảng đại cho thân xác vững mạnh như bàn thạch (Đại học, chương 4).
 
          Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết mà Thiên Chúa muốn là lề luật, không phải để ngăn cấm, răn đe những tiêu cực, những điều xấu  như luật loài người; luật Thiên Chúa chính là  thực thi những điều tích cực, nhưng điều tốt, tạo niềm tin vào Thiên Chúa tốt lành vô cùng để dẫn đưa con người trở về với Thiên Chúa. Đó là mục đích kiện toàn giới luật : Đấng ban bố giới luật thiện hảo.
 
III. THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA
 
1.    Phải sống công chính đích thực.
 
Đức Giêsu phán : “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 5,20).   Chúa đòi chúng ta phải ăn ở công chính hơn nữa. Sự công chính mà Đức Giêsu nói đây không phải do tuân giữ một số luật theo hình thức (mà Ngài từng đả kích) như người biệt phái – Nhưng là sống hiệp thông với Thiên Chúa tức là thực thi ý Chúa.
 
          Sự “công chính” là một từ ngữ Kinh Thánh rất phong phú mà Matthêu ưa thích một cách rất đặc biệt.  Từ ngữ “công chính” này không chỉ có nghĩa hạn hẹp mà ngôn ngữ hiện đại gán cho nó : sự công bằng xã hội điều hành những tương quan giữa con người với nhau. Sự “công chính” theo nghĩa Kinh Thánh chủ yếu là “theo đúng điều mà Thiên Chúa muốn chúng ta trở thành”.
 
          Một người công chính là một người hoàn toàn  đồng ý cộng sinh, liên minh, hòa hợp với Thiên Chúa, Đấng suy nghĩ và thiết lập vũ trụ và điều hành nó với sự thông minh kỳ diệu.  Người công chính, bởi “sự tương ứng” của đời sống người ấy với ý muốn của Thiên Chúa, sẽ tham dự vào Thiên Chúa và đi đến hạnh phúc, nghĩa là đến “mục đích vì đó mà người ấy được sinh ra”.
 
          Vả lại, Đức Giêsu đề nghị một sự “công chính mới”, một sự hoàn thiện con người mới. Đức Giêsu nói phải vượt qua sự công chính… vậy sự công chính của ai ? Thưa :
         
          - Các “luật sĩ”, những nhà thần học của thời đại ấy, những nhà chú giải Kinh Thánh, những vị thấy có chức vị, những giáo trưởng dạy đạo một cách chính thức.
 
- Các người “biệt phái”, những giáo dân dấn thân của thời đại ấy, liên kết với nhau trong một “phong trào” của những người nhiệt thành, cố gắng sống mọi yêu sách của đức tin thuần túy nhất không để thanh danh bị tổn hại (Noel Quesson, Lời Chúa cho mỗi Chúa nhật, năm A, tr 251-252).
 
          Vì thế, từ nay sự “công chính mới” hệ tại không phải ở chỗ khép mình một cách bề ngoài vào các tập tục, nhưng la “khuôn mình” theo thánh ý Cha như Đức Giêsu. Sống trong cộng đoàn với tình yêu và tình yêu của con cái, có thế, mới “công chính”hơn các luật sĩ và biệt phái được.
 
2.    Giữ luật với tình con thảo 
 
Suốt 30 năm sống tại Nazareth, Đức Giêsu đã thi hành Luật pháp như mọi người Do thái. Khi đi rao giang Tin mừng, Ngài không chỉ trích Pháp Luật mà Ngài đang tuân giữ. Nhưng cách giả thích và áp dụng luật của các nhà lãnh đạo tôn giáo thời ấy khiến Ngài phải đặt vấn đề.
 
          Đối với họ, vấn đề quan trọng là giữ luật theo mặt chữ. Một khi làm trọn luật theo mặt chữ, bạn được đánh giá là người tốt.  Nhưng đối với Đức Kitô tinh thần của luật mới là quan trọng. Điếu quan trọng không phải là  tuân giữ bao nhiêu điều răn nhưng là chúng ta tuân giữ chúng trong tinh thần nào.
          Ngài cũng thấy rằng  sự vâng lời thường có nguồn gốc là sự sợ hãi. Ngài muốn vâng lời cắm rễ trong tình yêu. Toàn bộ mối quan hệ của Ngài với Cha trên trời, có nền tảng là tình yêu. Khi bạn yêu một người nào, bạn tránh làmm điều gì tổn hại đến người ấy. Nơi nào có tình yêu nơi ấy không cần luật.
 
          Nhưng điều có ý nghĩa nhất mà Đức Giêsu đã làm là điều này : Ngài đem đến một luật mới chính xác hơn, đó là luật tình yêu. Không mâu thuẫn và phá hủy luật cũ, luật mới vượt xa hơn luật cũ và đưa luật cũ đến chỗ hoàn thiện.  Đức Giêsu nói mọi luật của Thiên Chúa có thể giản lược vào hai điều : mến Chúa và yêu người. Quả thật, chỉ có một luật mà thôi, đó là luật của tình yêu (McCarthy).
 
Truyện : Chiếc nhẫn kỳ diệu
 
          Truyện cổ Đông phương kể rằng : ngày xưa, có vị đạo sĩ dâng cho vua một chiếc nhẫn kỳ diệu và vô giá. Nó vô giá vì được làm bằng thứ kim loại quí hiếm và gắn nhiều kim cương long lánh. Nó kỳ diệu ở chỗ : nếu người đeo nó làm điều lành, thì nó rất vừa văn và chiếu sáng. Nhưng nều người đó làm điều ác, thì nó sẽ biến thành một cái máy xiết rất mạnh, ngón tay rất đau đớn.
 
          Mỗi người chúng ta cũng có một chiếc nhẫn là lề luật của Chúa. Chớ gì khi chúng ta làm điều gì sai quấy, chiếc nhẫn lương tâm chúng ta phải khiển trách, và chúng ta kịp thời biết quay về với Chúa để sống trong tình con thảo.
 
          Qua các bài đọc Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy rút ra được bài học để áp dụng vào đời sống cụ thể.  Người luật sĩ và biệt phái thường bị Đức Giêsu quở trách, gọi họ là giả hình, vì họ giữ luật câu nệ vào hình thứv bên ngoài, mà long họ xa Chúa. Vậy nếu luật sĩ và biệt phái trong Cượu ước đã làm sai lạc ý nghĩa của đạo giáo, bằng cách giữ luật theo hình thức bề ngoài, thì người tin hữu ngày nay cũng có thể tự lừa dối mình bằng cách giữ những điều kiện tối thiểu của đạo giáo.
 
          Sau Công đồng Vatican II, những luật lệ của Giáo hội được đơn giản hóa. Điều đó khiến nhiều người lầm tưởng rằng việc giữ đạo đã trở nên lỏng lẻo. Thực sự những thay đổi sau công đồng Vatican II là nhằm khuyến khích người công igóa tự nguyện sống  đạo một cáqch chân tình, vì long yêu Chúa chứ không phải vì những luật lệ rang buộc.
 

 
 

 
 


CHÚA NHẬT 9 THƯỜNG NIÊN A
TRI HÀNH ĐỒNG NHẤT
+++
A. DẪN NHẬP.
 
          Người đời thường chê những người chỉ biết nói mà không làm bằng câu tục ngữ :”Mồm miệng đỡ chân tay” hay câu khác :”Nói thì có, mó thì không”, nghĩa là lười biếng mà khôn ranh, chỉ dẻo mồm để trốn việc.  Người ta đánh giá cao người biết làm cho “tri hành đồng nhất’ cũng như “ngôn hành đồng nhất”. Chính Đức Giêsu cũng nghĩ như vậy, nên Ngài đã chỉ trích lối hành xử của những người biệt phái và luật sĩ, họ chỉ nói mà không làm, họ đặt những gánh nặng trên vai người dân mà họ không thèm mó tay vào.
 
            Khi kết thúc Bài giảng trên núi, Đức Giêsu cũng nhắc nhở và khuyến cáo các thính giả đã nghe Ngài giảng : chỉ nghe mà thôi thì chưa đủ, còn phải đem những lời Ngài dạy ra thực hiện trong đời sống hằng ngày :”Phúc cho những ai nghe lời Chúa và đem ra thực hành”(Lc 11,28). Muốn vào Nước Trời điều kiện phải có là phải làm chứ không phải là nói:”Không phải chỉ kêu : Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời, nhưng chỉ kẻ thực thi ý Cha ở trên trời mớùi được vào”(Mt 7,21).
 
          Chúng ta được nghe lời Chúa hằng ngày, có khi còn vui thích nghe lời Chúa là đàng khác, nhưng ít khi đem lời Chúa áp dụng vào đời sống thực tế. Giá trị của mỗi người là ở chỗ làm cho “tri hành đồng nhất” cũng như “ngôn hành đồng nhất”. Biết nhiều, có nhiều tư tưởng hay, có nhiều dự án tốt đẹp mà không đem ra thực hiện được thì cũng chẳng có giá trị gì. Chúng ta hãy nỗ lực trở nên người khôn ngoan biết xây dựng đời sống mình trên lời Chúa để lời Chúa được sinh hoa kết quả trong đời sống chúng ta.
 
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
 
          + Bài đọc 1 : Đnl 11,18,26-28.
 
          Trước khi chết, và lúc dân Israel sắp vượt qua sông Giorđan vào Đất Hứa, ông Maisen căn dặn dân hơi  mang tính cách trưng cầu ý kiến. Ông nhắc lại Lời Thiên Chúa phán : nếu các ngươi vâng lời Ta, Ta sẽ chúc lành cho, nghĩa là Ta sẽ ban hạnh phúc và thịnh vượng; ngược lại, nếu các ngươi không vâng lời, các ngươi sẽ bị chúc dữ và sẽ nên cảnh hoang tàn.
 
          Ông Maisen coi việc thi hành lệnh Chúa truyền  là con đường sống cho dân nên căn dặn dân phải cố gắng thi hành những điều Thiên Chúa đã truyền cho họ. Dĩ nhiên, đây là một sự lựa chọn tự do, dân có thể tuân theo hay không, nhưng hậu quả tốt hay xấu hòan tòan lệ thuộc  sự tự do lựa chọn của họ. Cánh cửa hạnh phúc đã được mở ra để chờ đón họ.
 
          + Bài đọc 2 : Rm 3,21-25a.28.
 
          Thánh Phaolô viết thư cho tín hữu Rôma nói về một đề tài rất quan trọng, đó là sự công chính. Sự “công chính” của Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô và thực hiện bởi sự “cứu chuộc” trên thập giá. Còn con người được “công chính hóa” là nhờ sự công chính của Thiên Chúa, nghĩa là con người được trở nên công chính không phải nhờ những việc làm, mà nhờ tin vào Thiên Chúa.
 
          Về vấn đề này, chúng ta thấy có sự khác biệt giữa quan niệm của người biệt phái và Đức Giêsu :
          - Người biệt phái cho rằng con người được trở nên công chính do việc lành mình làm. Càng làm nhiều việc lành càng được công chính.
          - Còn quan niệm của Đức Giêsu thì cho rằng con người được công chính hóa không do việc lành mình làm mà do lòng nhân từ Thiên Chúa ban. Vì thế, con người phải biết đón nhận ơn công chính với tinh thần khiêm tốn trước mặt Chúa.
 
          + Bài Tin mừng : Mt 7,21-27.
 
          Đọan Tin mừng này là phần kết của Bài giảng trên núi. Đức Giêsu đã dạy dỗ nhiều điều, người ta đã vui lòng lắng nghe, nhưng Ngài kêu gọi họ phải thực hành Thánh Ý của Thiên Chúa như là trọng tâm trên hết của các điều Ngài truyền dạy. Đức Giêsu nói tới ba điều :
          - Điều quan trọng là không phải nghe và ghi nhớ mọi điều giảng dạy mà phải đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày.
          - Ngài đưa ra một so sánh : kẻ nào nghe mà không đem ra thực hành thì giống như người ngu  xây nhà trên cát; mà người nghe mà còn đưa ra thực hành thì giống như người khôn xây nhà trên đá, trên nền tảng vững chắc.
          - Có những người đã từng đi rao giảng nhân danh Chúa, làm cả phép lạ nữa, nhưng họ cũng không được vào Nước Trời vì tuy họ làm nhiều nhưng lại không thi hành thánh ý Chúa.
 
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
                                                Phải đem ra thi hành.
I. KẾT THÚC BÀI GIẢNG TRÊN NÚI.
 
          Đọan Tin mừng hôm nay là phần kết thúc Bài giảng trên núi. Đức Giêsu kêu gọi mọi người  phải thực thi thánh ý của Thiên Chúa như là trọng tâm của những điều Ngài đã giảng dạy.  Đọan Tin mừng chia làm hai phần :
 
          + Phần một : Trong phần này, Đức Giêsu nhắc nhở thính giả phải tránh cái ảo tưởng của kẻ nói mà không làm. Ai muốn đẹp lòng Chúa thì phải thi hành những lời Chúa dạy, chứ  chỉ nghe để tin mà không thực hành thì không có giá trị. Làm đã đủ mà không cần nói.
 
          Trong Tân ước, biết bao lần Đức Giêsu đã nói đến tư tưởng này mà chúng ta có thể tóm gọn trong một câu nổi bật :”Phúc cho ai nghe lời Chúa và đem ra thực hành”(Lc 11,28). Thánh Phaolô cũng nói :”Nước Thiên Chúa không cốt nơi ngôn ngữ song cốt chỗ họat động mạnh” (1Cr 4,20; x.Gc 11,28).
 
          + Phần hai, Đức Giêsu báo trước số phận khác nhau giữa người nghe và thực hành với người nghe mà không thực hành điều mình tin, bởi vì “Đức tin không có việc làm là đức tin chết. Ngài ví người không thực hành Lời Chúa giống như người xây nhà trên cát, mưa sa gió lớn nhà sẽ bị  sụp đổ.
          Đức Giêsu nhấn mạnh việc thi hành Lời Chúa vì chính Ngài cũng là con người đến chỉ vì mục đích ấy :”Lúc vào trần gian, Ngài nói, hy sinh cùng lễ vật, Người đã chẳng màng, nhưng Người đã nắn nên thân xác con. Các lễ tòan thiêu cùng tạ tội, Người đã chẳng đóai . Bây giờ con nói : Này con đây, con đến để thi hành ý muốn Người, lạy Thiên Chúa”(Dt 10,5-7) Ngài vẫn nói với các môn đệ :”Ta không tìm ý muốn của Ta, nhưng là ý muốn của Đấng đã sai Ta”(Ga 5,30). Và cho đến cảnh vườn Giệtsimani, cho đến hình ảnh thập giá Ngài vẫn nói :”Lạy Cha, không phải theo ý Con mà theo ý Cha”(Mt 26.39). Đấy là tất cả đời sống của Đức Giêsu : đến để thi hành thánh ý Chúa Cha. Chính vì sự hy sinh, vâng lời của Ngài mà nhân lọai được ơn cứu chuộc.
 
          Do đó, Đức Giêsu nhắn nhủ và khuyến cáo người nghe :”Không phải chỉ kêu : lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời, nhưng chỉ kẻ thực thi ý Cha ở trên trời mới được vào”(Mt 7,21).
Đúng vậy, muốn thi hành thánh ý Cha trên trời đòi buộc chúng ta phải hy sinh rất nhiều, phải từ bỏ ý riêng mình, phải từ bỏ tất cả như Đức Giêsu đã làm.
 
                                      Truyện : dụ ngôn cây tre.
          Có một cây tre được trồng trong một khu vườn rộng lớn. Đó là niềm vui của ông chủ. Năm tháng trôi nhanh, cây tre mọc lên xanh tốt. Ngày kia, chủ vườn nói với cây tre :
          - Này cây tre yêu dấu, ta cần đến ngươi.
          - Tôi sẵng sàng theo ý ông.
          - Nhưng để sử dụng ngươi, ta sẽ phải đốn ngươi !
          - Tôi van ông, ông có thể sử dụng tôi cách nào tùy ý, nhưng xin đừng đốn tôi.
          - Nếu ta không đốn ngươi, ta không thể sử dụng được ngươi.
          Khu vườn bỗng lặng như tờ, chim thôi hót và gió cũng ngừng thổi, cây tre từ từ gục đầu khẽ nói :
          - Thưa ông, nếu không còn cách nào khác, xin ông hãy đốn tôi đi.
          - Không phải chỉ đốn thân ngươi, mà ta còn phải chặt ngọn tỉa lá ngươi nữa.
          - Xin ông đừng phá hủy hòan tòan vẻ đẹp của tôi, xin giữ lá và ngọn trên thân tôi.
          - Rất tiếc đó là phương thế duy nhất để ta có thể sử dụng ngươi.
          Vầng kim ô như ẩn mặt sau lùm cây, một con bướm vội tung cánh bay xa, cây tre như bị rúng động cả tâm can, nhưng cố thì thầm trả lời :
          - Thưa ông, xin cứ đốn và chặt ngọn tỉa lá.
          Thinh lặng trong giây lát, ông chủ tiếp tục thông báo :
          - Không chỉ có thế, ta còn phải chẻ đôi, và móc cả tim ngươi ra, có như thế, ta mới sử dụng ngươi theo ý muốn ta.
          Cây tre nghiêng đầu sát đất thưa :
          - Thưa ông, hãy đốn, hãy chặt tỉa, hãy chẻ đôi, hãy mổ tim tôi.
          Ông chủ vườn làm theo lời cây tre. Rồi vác cây tre đã được chẻ đôi và đục các mắt tre. Ra đến đồng ruộng, ông tìm cách nối hai nửa cây tre lại để làm một chiếc máng xối chuyển nước từ một con suối vào tưới cánh đồng khô cằn, làm bừng lên niềm hy vọng cho một mùa lúa bội thu (Thiên Phúc).
 
II. TRI VÀ HÀNH PHẢI ĐỒNG NHẤT.
 
          1. Người khôn và người dại xây nhà.
 
          Qua địa dư với nhiều khe suối và đất lồi lõm của vùng Palestine, Đức Giêsu đưa ra hai hình ảnh đối nghịch nhau về việc xây nhà : hình ảnh xây nhà trên đá  cứng và xây nhà trên cát.
          - Người khôn xây nhà trên đá cứng, nghĩa là người đồ đệ chân chính không những chỉ nghe lời Chúa mà còn đem ra thực hành trong đời sống. Họ coi lời Chúa là đèn sáng soi dẫn đường, là lương thực thần thiêng nuôi linh hồn, là bảo đảm phúc trường sinh, dù có bị gian nan khốn khó, có bị chết cũng không rời xa lời Chúa.
 
          Người Việt nam chúng ta có ý tưởng giống như Chúa nói về việc xây nhà vững chắc trên nền cứng để ngôi nhà khỏi bị sụp đổ :
 
                                      Người có chí ắt phải nên,
                                      Nhà có nền ắt phải vững.
                                                (Tục ngữ)
 
          “Chí” tức là ý chí, cái quyết tâm làm kỳ được một việc gì.
          “Nên” tức là thành sự, là nên việc, là thành công, là thu được kết quả theo ý muốn.
          “Nềân” tức là khỏang đất  đắp cao để làm nhà cửa lên trốc. Nhà không có nền, là nhà làm ngay lên trên mặt đất tự nhiên, mặt đất không được đắp cao lên thành nền nhà.
 
          Làm nhà không có nền thì không vững, vì mặt đất tự nhiên thường thấp ngang với mặt đường, mặt vườn, mặt ruộng, những khi trời mưa to tất nước chảy qua nhà hoặc đọng lại trong nhà, nhà bị ẩm ướt, như vậy không mấy chốc mà đổ sập. Nền ở đây lại hàm ý là nền móng khi đắp nền nhà người ta thường vẽ móng nhà và nện móng, nhà kỹ hơn là nền nhà; móng là chỗ xây tường lên trên, phải nện kỹ, vì sợ đất lún, tường sẽ xiêu đổ (Văn Hòe, Tục ngữ lược giải,
tr. 56).
          Trái lại, người ta nghe lời Chúa mà không đem ra thực hành là người thiếu khôn ngoan, là người  “xây nhà trên cát”. Ai lại xây nhà trên bãi cát, chỉ cần một cơn gió lốc, một trận mưa lũ thì nhà sẽ sập, trở nên một đống hoamg tàn.
 
          Chúa nói thế có lẽ chúng ta ngạc nhiên vì ta thấy người ta vẫn xây nhà trên bãi biển có sao đâu ? Nhưng nếu chúng ta nhìn vào địa thế lồi lõm của vùng Palestine thì ta mới thấy Đức Giêsu là một con người rất thực tiễn. Ngài biết dùng những hình ảnh trước mắt để nói lên những ý tưởng trừu tượng, cao sâu.
 
          Đây là câu chuyện thường xẩy ra ở quê hương của Đức Giêsu. Ở Palestine, muốn xây cất phải suy tính trước vì có nhiều con lạch, đường nước cạn, mùa hè là một bãi cát trống nhưng đến mùa đông  thì trở thành một dòng thác lũ. Đi tìm một chỗ xây nhà thì có lẽ lòng lạch  là một quang cảnh đẹp mắt phẳng phiu, nhưng nếu một người thiển cận xây nhà trên bãi cát đó thì khi mùa đông đến, nước lũ sẽ càn cuốn đi hết. Người ta thường bị cám dỗ cất nhà trên một thửa đất bằng phẳng, không bận tâm đào móng sâu xuống lớp đã bên dưới. Nhưng như vậy là giang tay  chờ đón tai họa. Chỉ ngôi nhà có nền móng vững chắc mới chịu nổi phong ba và chỉ cuộc sống có nền tảng mới chịu được thử thách.
 
          2. Người Kitô hữu phải xây nhà trên đá.
 
          Phải xây nhà trên đá là phải xây trên Lời Chúa. Ngày nay một trong những khó khăn lớn phải đương đầu  là có người không biết điều Chúa phán hay là điều Hội thánh rao truyền. Thực tế, có khi còn tệ hơn vì có người không những không biết mà còn hiểu lầm những điều Chúa dạy. Ngòai ra, người ta không dựa vào lời Chúa mà lại dựa vào học thuyết này, học thuyết nọ để bác bỏ lời Chúa hoặc cắt nghĩa sai lời Chúa  để phục vụ cho ý đồ đen tối của họ.  Thật ra, không có một hệ thống tư tưởng nào hay một học thuyết nào có thể trường tồn trong thời gian, chỉ có lời Chúa là vững bền, không bao giờ bị phai lạt :”Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”(Mt 24,35; Mc 13,31; Lc 21,33) vì “ Lời Thầy nói là Thần Khí và là sử sống”(Ga 6,63)
 
          Người Việt chúng ta rất trân trọng chữ nghĩa của thánh hiền. Lời của thánh hiền được coi như trân châu bảo ngọc, phải giữ lấy và coi như kim chỉ nam cho cuộc sống con người :
 
                                      “Một chữ thánh, một gánh vàng
                                                      (Tục ngữ)
 
          “Chữ thánh” là chữ của ông thánh, đây là chữ của đức thánh Khổng, tổ sư đạo Nho. “Gánh vàng” là quí giá như một gánh vàng.
          Một chữ thánh, một gánh vàng là một lời của ông thánh quí giá bằng cả một gánh vàng; hoặc phải tốn kém đến một gánh vàng mới học được một chữ của ông thánh (Văn Hòe, sđd, tr 143).
         
          3. Tin chưa đủ, còn phải thực hành.
 
          Đã là người Kitô hữu, ai cũng có đức tin như chúngta đã đọc trong kinh Tin Kính ngày Chúa nhật. Cái nền đá vững chắc mà Đức Giêsu nói không phải là “tin suông” mà là một “đức tin thể hiện ra bằng việc làm” vì “Đức tin không có việc làm là một đức tin chết’ một đức tin èo uột, một đức tin trống rỗng (x. Gc 1,22).
 
          Dân chúng nghe bài giảng trên núi vô cùng cảm kích. Nhưng Đức Giêsu đã nói với họ rằng họ chỉ nghe lời Ngài thôi chưa đủ, họ còn phải làm theo lời Ngài  nếu họ muốn có được ơn ích từ những lời nói ấy.
 
          Đức Giêsu nói với các môn đệ của Ngài, họ không bị phán xét theo lời nói nhưng theo việc họ làm. Cách thức duy nhất để một người có thể chứng tỏ sự thành thật của mình chính là bằng việc thực hành những lời của Chúa. Những lời hay ý đẹp có thể không bao giờ có chỗ trong việc làm, khổ nỗi có những người tuyên xưng Thiên Chúa bằng môi miệng, nhưng lại chối từ Ngài bằng đời sống của họ.
 
          Vì thế trong đời sống có những người nói lên lời Chúa rất hay, rất hấp dẫn. Họ có sức hô hào cho người khác làm theo lời Chúa, họ có sức kích thích người khác hy sinh mạng sống mình cho Chúa, nhưng nơi con người họ không có một chút nào lòng mến Chúa, họ chỉ tuyên xưng Chúa bằng môi miệng, đúng như lời tiên tri Isaia đã nói :”Dân này thờ kính Ta bằng môi miệng, mà lòng nó thì xa Ta”.
 
                                      Truyện : Anh chàng Aristogiton.
          Aristogiton hồi ấy lúc thanh bình, là một nhà ái quốc thượng thặng. Thở ra lửa trận, nói ra sấm sét. Chàng lợi dụng mọi hòan cảnh để cổ võ những đức tính anh dũng kiêu hùng của người chiến sĩ yêu nước. Nghe chàng nói, thính giả có ấn tượng như chàng đang tuyên chiến  với tất cả các cường quốc trên thế giới.
 
          Nhưng đến khi phải thi hành lệnh quân dịch, người ta thấy chàng đột nhiên bước đi khấp khểnh, tay chống gậy, chân thì băng bó, trông thảm não vô cùng.
 
          Biết rõ những bí ẩn của chàng, ông Photion trợn mắt nói :”Aristogiton đã làm anh què, lại còn hèn nhát”.
 
          Phải rồi. Khi tính mạng, tài sản chưa bị trực tiếp đe dọa, người đời còn có thể lừng khừng hay giả tốt, còn có thể che đậy mặt trái của mình được. Nhưng khi một cơn tai biến kinh hòang xẩy tới dưới con mắt, tính mạng bị trực tiếp lâm nguy, mặt thật con người ta sẽ nổi bật lên(Vũ minh Nghiễm, Vươn, 1966, tr 181).
 
          Người ta thường chê trách những người “ngôn hành bất nhất”, chỉ có cái vẻ bên ngòai, còn lòng họ thì chẳng ra cái gì, chỉ là giả dối như khi người ta nói :
 
                                      Tôi yêu anh vạn, tôi mến anh nghìn,
                                      Anh có ăn thuốc, đưa tiền tôi mua.
                                                          (Ca dao)
 
          4. Thực hành lời Chúa trong cuộc sống.
 
          Nghe lời Chúa thì dễ, còn đem lời Chúa ra thi hành thì khó, nhưng đó là điều kiện để đi vào Nước Trời, vì Chúa phán :”Không phải những ai nói với Ta : lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời nhưng chỉ người nào thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào”. Và kẻ thực hành lời Chúa là kẻ khôn ngoan biết xây nhà mình trên đá.
 
          Là người Kitô hữu, không phải chỉ là người tin Chúa. Ma qủi còn tin Chúa hơn ta nữa, nhưng ma quỉ đâu có được vào Nước Trời. Là Kitô hữu không phải là được bảo hiểm mọi khó khăn gian khổ, có khi còn gặp khó khăn gian khổ hơn nhiều người khác nữa.Nhưng Chúa hứa sẽ cho đứng vững trước những gian khổ ấy, nếu họ sống thực hiện ý Chúa.
 
          Muốn thực hành lời Chúa, chúng ta hãy làm hai bước trong việc chuyển đổi lời Chúa thành hành động.
          - Trước hết, chúng ta phải ghi tạc lời ấy vào lòng rồi suy niệm và quyết định cách thức áp dụng lời ấy cho mình và cho cuộc sống của mình.
          - Thứ đến, chúng ta phải thực hành những bước cụ thể để chu tòan việc áp dụng trong cuộc sống mình. Chúng ta phải biến đổi quyết định ấy thành hành động cụ thể tức khắc.
 
          Tóm lại, việc nghe và thực hành lời Chúa được tóm gọn trong hai chữ “Vâng lời”. Vâng lời chính là tuân theo thánh ý Chúa trong mọi sự. Chính Đức Giêsu đã thực hiện trước, khi Ngài nói:”Này con xin đến để thi hành thánh ý Cha”(Dt 10,7). Chính nhờ sự vâng lời này mà Đức Kitô đã đem ơn cứu chuộc đến cho mọi người .
 
                                      Truyện : “Xuống tức khắc” !
          Cách đây ít lâu có một báo cáo về trường hợp một thủy thủ thuộc hải quân hòang gia Anh bị nghiêm phạt vì vi phạm kỷ luật. Hình phạt quá nặng đến độ bên ngành dân chính cho rằng qúa khắt khe.  Nhưng một người đã từng phục vụ nhiều năm trong hải quân đã trả lời rằng theo quan điểm của ông ta, đó không phải là hình phạt quá nặng. Ông cho rằng kỷ luật là biện pháp tối cần thiết, vì mục đích của kỷ luật là khiến con người tự động vâng phục không thắc mắc, và sự sống tùy thuộc sự vâng lời này.
 
          Ôâng kể lại một kinh nghiệm riêng, trong một hải vụ, tầu của ông phải câu một chiếc tầu rất nặng đang khi biển động. Chiếc tầu hư được cặp vào tầu của ông bằng một sợi cáp. Thình lình giữa cơn gió bão có lệnh của thuyền trưởng “xuống”. Tức khắc tòan thể thủy thủ phóng xuống hầm tầu. Ngay lúc đó, sợi dây cáp cột tầu bị đứt, quất xuống như một con rắn thép điên cuồng, trúng người nào thì chắc chắn người ấy chết tại chỗ, nhưng thủy thủ đòan đã vâng lệnh nên tất cả đã thóat hiểm. Nếu có ai dừng lại tranh luận hay hỏi lý do, chắc chắên người ấy đã chết. Sự vâng lời cứu mạng người.
 
          Đó là vâng lời Đức Giêsu đòi hỏi, Ngài tuyên bố lời Ngài là nền đá vững chắc duy nhất cho đời sống. Ngài cũng hứa rằng cuộc sống vâng phục sẽ an tòan dù phong ba bão tố đến đâu.
 
          Để kết thúc, chúng ta hãy suy niệm lời của ông Maisen trong bài đọc 1 hôm nay :”Các ngươi hãy nhớ những huấn lệnh này và hãy quí chuộng chúng. Hãy cột chúng vào tay các ngươi, và mang chúng trên trán các ngươi để mà nhắc nhớ…”
 
          “Hôm nay ta cho các ngươi sự lựa chọn giữa việc chúc phúc và sự nguyền rủa. Ta cho các ngươi được lựa chọn giữa sự sống và sự chết. Các ngươi hãy chọn lựa sự sống”.
Sưu tầm
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn