1
23:04 ICT Thứ hai, 22/01/2018
1Chính anh em  là  Muối cho đời,  là Ánh sáng cho trần gian. (Mt 5, 13-14)

MENU

Giáo lý cho người trẻ

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 20


Hôm nayHôm nay : 6814

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 98358

Tổng cộngTổng cộng : 11117127

Nhạc Giáng sinh

Thông tin Online

Hãy kết bạn với


Trang nhất » Tin tức » SUY NIỆM LỜI CHÚA

Các bài suy niệm về lễ Các Thánh và Cầu Hồn

Thứ ba - 31/10/2017 10:33-Đã xem: 1393
Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.
SUY NIỆM VỀ LỄ CÁC THÁNH VÀ LỄ CẦU HỒN
 
Suy niệm về Sự Thánh Thiện 

1. Trong phạm vi tự nhiên, nếu có ai bắt tay xây dựng một công trình nào, người đó phải cố gắng theo đuổi công việc, không bao giờ ngừng, cho đến khi hoàn tất, mới an tâm. Cũng vậy, trong phạm vi siêu nhiên, chúng ta đã bắt tay vào việc xây nhà linh hồn chúng ta trong ơn nghĩa thánh Chúa, trong sự trọn lành thánh thiện, thì chúng ta hằng ngày phải luôn luôn cố gắng thi hành cho trọn lành điều chúng ta đã bắt đầu, cho đến khi hoàn tất, nghĩa là cho đến khi chúng ta chết.
2. Thiên Chúa truyền dạy chúng ta hằng ngày phải luôn luôn hướng về sự trọn lành thánh thiện: “Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành” (Mt 5,48).
3. Thánh Gioan tông đồ thúc giục chúng ta mỗi ngày mỗi  sống thánh thiện hơn: “Kẻ gian ác cứ  làm điều gian ác nữa đi, kẻ ô uế cứ ra ô uế nữa đi, người công chính cứ hành động công chính nữa đi, và người thánh thiện cứ sống thánh thiện nữa đi. Đây, chẳng  bao lâu nữa Ta sẽ đến, và Ta đem theo lương bỗng để trả cho mỗi người tùy theo việc người ấy làm. Ta là Anpha và Ômêga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng. Phúc thay những kẻ giặt sạch áo mình,  để được quyền hưởng dùng cây Sự Sống và qua cửa mà vào Thành” (Kh 22,11-14).
4. Thánh Phaolô khuyên chúng ta mỗi ngày mỗi sống tấn tới hơn trên con đường thánh thiện: “Anh em đã được chúng tôi dạy phải  sống thế nào cho đẹp lòng Thiên Chúa, và anh em cũng đang sống như vậy; vậy nhân danh Chúa Giêsu, chúng tôi xin, chúng tôi khuyên nhủ anh em hãy tấn tới nhiều hơn nữa... Ý muốn của Thiên Chúa là anh em hãy nên thánh... Thật vậy, Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện... Vậy ai khinh thường những điều dạy trên, thì không khinh thường một người phàm, nhưng khinh thường Thiên Chúa, Đấng hằng ban cho anh em Thánh Thần của Người” (1 Tx 4,1;3;7-8).
5. Các thánh luôn nhắc nhủ chúng ta cố gắng sống thánh thiện hằng ngày: “Khi bạn dừng lại, tức là đi bạn đi thụt lùi. Khi bạn tự mãn về mình và nói rằng: “Bây giờ, đủ rồi!”, thì chính lúc nầy, bạn thiệt mất” (Thánh Augustinô). / “Ai không tiến lên, tức là đi lùi lại. Trên con đường nhân đức, không có lừng chừng được đâu” (Thánh Bênađô). / “Chúng ta phải nhắm vào cái mức  độ cao nhất của sự thánh thiện, như người buôn bán nói giá thật cao về đồ mình bán, như người thợ săn nhắm cao hơn con chim bay, thì mới hy vọng bắn trúng nó” (Thánh  Anphôngsô).
6. Khi thấy người nào không ao ước sống thánh thiện và không hướng tới sự trọn lành mỗi ngày một hơn, chúng ta có lý mà nói rằng kẻ đó đang sống trong sự nguy hiểm dễ mất linh hồn đời đời. / Chúng ta hãy nhìn xem cây cối, súc vật, và ngay cả con người chúng ta cũng vậy, hễ một khi không còn lớn lên nữa, không còn phát triển nữa, thì thế nào cũng khô héo, tàn rụi và chết.
7. Gương mẫu cao siêu tuyệt vời của sự trọn lành thánh thiện để chúng ta hằng ngày noi theo, đó là Chúa Giêsu Kitô. Chúa Giêsu nói rõ: “Ta là Con Đường, là Sự Thật, là Sự Sống” (Ga  14,6). / Khi thấy người thanh niên muốn sống trọn lành thánh thiện, Chúa Giêsu liền đưa ra điều kiện là hãy theo Ngài: “Người thanh niên ấy nói: “Tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ, tôi còn thiếu điều gì nữa?” Đức Giêsu đáp: “Nếu anh muốn nên trọn lành, thì  hãy  đi bán tài  sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,20-22). / Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô: “Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô” (Rm 13,14). /  Như một người học trò luôn luôn nhìn vào ông thầy để xem ông làm gì mà bắt  chước làm theo, chúng ta cũng phải luôn luôn  hướng về Chúa Giêsu Kitô. / Mỗi người chúng ta phải luôn luôn có Chúa Giêsu Kitô trong quả tim, để luôn yêu mến ngài, trong trí khôn, để luôn suy gẫm về ngài; trong đôi tay, để luôn nắm lấy ngài; trước con mắt để luôn yêu mến ngài. / Chúa Giêsu Kitô là gương mẫu thánh thiện cho tất cả mọi người, cho  tất cả mọi hạng người. Mọi người, không trừ ai, đều có thể bắt chước Chúa Giêsu Kitô theo đấng bậc mình, trong hoàn  cảnh  sống của mình.
8. Các thánh là những đấng đã bắt chước Chúa Giêsu Kitô thật đúng, thật sát, thật  hay. / Đời sống các thánh là bản phôtôcôpi đời sống của Chúa Giêsu Kitô.
9. Chúa Giêsu Kitô là gương thánh thiện toàn hảo, vượt quá tất cả các thánh. Nhưng Giáo Hội vẫn thúc giục chúng ta bắt chước gương các thánh vì việc nầy có thể là dễ dàng hơn cho chúng ta.
10. Chúng ta thấy có những vị thánh đã từng là những người yếu đuối như chúng ta. / Chúng ta thấy có những vị thánh đã luôn luôn chiến đấu như chúng ta. / Chúng ta thấy có những vị thánh cũng có ơn gọi như chúng  ta, cũng làm một nghề như chúng ta, cũng có một tính khí như chúng ta, v.v..., nên chúng ta dễ bắt chước các ngài để nên giống Chúa Giêsu Kitô hơn.
11. Trong suốt cuộc đời của mình, các thánh đã phải luôn luôn hết sức cố gắng, chiến đấu liên lĩ, vì các ngài cũng là những người như chúng ta, chứ không phải là các thiên thần thiêng liêng sáng láng, hay các thánh nam nữ sống trên thiên đàng. / Khi còn sống, các thánh cũng đã mang phải lắm tật, nhứt là bảy tật kinh niên, là bảy mối tội đầu, thường trú trong con người của các ngài: kiêu ngạo, cứng đầu, tức giận, hà tiện, ham ăn, mê dâm, biếng nhác. Bảy tật xấu kinh niên nầy, chỉ chấm dứt với cái chết của các ngài. Vì thế, các ngài đã phải luôn luôn chiến đấu với các tật xấu của mình cho đến chết.
12. Sự trọn lành thánh thiện không chủ tại  làm nhiều việc nhân đức như ăn chay, đánh tội, đi nhà thờ, dự thánh lễ, bố thí,v.v... Những việc nhân đức nầy chỉ là những phương thế giúp chúng ta đạt đến sự trọn lành thánh thiện. Thánh Phaolinô khuyên một người kia rằng: “Khi làm các việc lành phước đức, ta chưa phải là nhân đức đâu, bởi vì những việc nầy chỉ là những phương thế giúp chúng ta đạt đến nhân đức.”
13. Sự trọn lành thánh thiện không chủ tại ta không phạm tội bởi vì ai cũng luôn luôn chiến đấu để xa lánh tội lỗi. Nhiều vị thánh lớn đã phạm tội, như thánh Phêrô. Có thể Chúa để như vậy để cho các vị nầy khỏi tâng mình kiêu ngạo.
14. Sự trọn lành thánh thiện cũng không chủ tại làm những công việc gì lạ lùng, lớn lao. Đức Mẹ Maria, Thánh cả Giuse, và biết bao nhiêu vị thánh lớn, không có làm gì lạ lùng trong đời mình. Đời sống của họ “được dấu ẩn với Đức Kitô trong Thiên Chúa” mà thôi (Cl 3,3).
15. Tình mến Chúa yêu người là sự trọn lành của lề luật, là giây của sự  toàn thiện: “Yêu là chu toàn Lề Luật ” (Rm 13,10). / “Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng yêu: đó là mối giây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14).
16. Để trả lời cho người kia hỏi sự trọn lành thánh thiện chủ tại đâu, thánh Augistinô trả lời một câu danh tiếng:  “Hãy yêu Chúa, rồi muốn làm gì tùy ý”. / Thánh Phanxicô Salêxiô dạy: “Không có sự trọn lành nào khác, ngoài sự trọn lành yêu Chúa hết lòng và yêu tha nhân như chính mình: mọi sự trọn lành khác đều giả  dối.”

Lm Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang

1. Tôi phải nên thánh (Lễ các Thánh Nam Nữ 2013) 
Khi tôi còn ở quê, lúc đó là một chú giúp lễ trong nhà thờ. Vào một buổi chiều, tôi đang ngồi chuẩn bị cho chương trình rước kiệu các thánh tử đạo Việt Nam. Có một ông trùm ở giáo xứ bên cạnh, là người đã quen biết tôi trước đó đến để gặp cha xứ. Trong lúc chờ đợi cha xứ đi kẻ liệt về, ông trùm kể cho tôi nghe chuyện giáo dân của làng ông bị bách hại trong thời kỳ cấm đạo, ông nói: lúc đó, quân lính bao vây làng, sau đó quan quân bắt hết mọi người ra đình làng trình diện và  bắt phải bỏ đạo. Giáo dân trung thành với Chúa đã cương quyết không bỏ đạo, vì thế, họ bắt đi đầy, một số thì bị ghép sống với những người ngoài Công Giáo (phân sáp), số còn lại họ chôn tập thể, nhà của dân thì bị đốt sạch... Tôi nghe đến đây thì rất cảm phục. Điều mà tôi nghĩ trong đầu lúc này là những người giáo dân can trường đó, các ngài chấp nhận chết vì đạo Chúa cách trung thành như vậy, họ cũng là các thánh tử đạo. Thế nhưng, nếu rà soát trong danh sách 118 thánh tử đạo Việt Nam được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong thánh chính thức vào ngày 19/6/1988 thì hoàn toàn không có các ngài.

1. Các Thánh là ai?
Hôm nay, Giáo Hội mừng kính trọng thể các thánh Nam Nữ. Lý do có ngày lễ này là vì trong Giáo Hội có rất nhiều những vị thánh không được phong và có ngày lễ mừng. Các ngày trong năm phụng vụ, Giáo Hội chỉ mừng những vị thánh đã được tôn phong cụ thể và rõ ràng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, có biết bao vị thánh vô danh, nhưng thực sự các ngài cũng là những vị thánh như các đấng được mừng trong lịch phụng vụ. Vì thế, Giáo Hội dành riêng một ngày để mừng kính chung các ngài.
Việc mừng kính các thánh hay không thì cũng chẳng thêm gì cho các ngài, bởi vì các ngài đã là thánh. Nhưng việc mừng kính các ngài là để tôn vinh, cảm tạ Thiên Chúa đã làm những điều kỳ diệu nơi cuộc sống của các ngài. Đồng thời, tôn kính các ngài như là những mẫu gương cho chúng ta noi theo. Vậy con đường nên thánh của các ngài là gì? Cuộc sống của các ngài có phải là siêu quần bạt chúng, là phi thường  không? Thưa là không! Con đường nên thánh của các ngài là một con đường hướng thiện, yêu thương, tha thứ và rất bình dân. Cuộc sống của các ngài cũng bình thường như ai, các ngài chính là những người cha, người mẹ gương mẫu, là người hàng xóm tốt bụng, là người chủ nhà sẵn sàng cho khách trú chân khi lỡ đường, các ngài là những người thợ mộc, thợ nề, thợ thủ công, là công nhân, nông dân, cũng có thể các ngài là những kỹ sư, bác sĩ.... lại có những vị thánh xuất thân từ một hoàng tộc, lại có những đấng sinh ra không ai biết, chết không ai hay, có những vị thánh trong hàng ngũ Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ. Tất cả họ là những bậc tổ tiên, cô bác, anh chị em với chúng ta lúc còn tại thế.
Tuy xuất phát điểm khác nhau, nhưng đều chung một mẫu số là các ngài làm mọi việc bình thường cách phi thường vì lòng mến Chúa và yêu người. Tất cả cuộc sống của các thánh được trở nên tốt lành và đẹp lòng Chúa là vì các ngài sống những giá trị Tin Mừng cách trung thành. Các ngài đã rập đời sống của mình theo gương mẫu Chúa Giêsu, đã để cuộc đời của mình cho ánh sáng Mặt Trời Công Chính chiếu qua. Các ngài thật giống chúng ta ở điểm khởi đầu, nhưng khác ở chỗ là đi đến cùng. Các ngài sống tinh thần thánh cách trọn vẹn chứ không như kiểu làm thánh “lâm thời” như chúng ta. Thật vậy, thánh “lâm thời” là khi  phong ba dồn dập, nước sơn sẽ phai nhạt và tượng thánh sẽ hiện nguyên hình quỉ. (x. ĐHV, số 44). Các ngài là những người đã dám sống triệt để chân lý đã tin thay vì nửa vời. Và các ngài là những người: " từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong máu Con Chiên". Các ngài chính là những người tin vào Đức Kitô Giêsu, và là những người sống tinh thần bản “Hiến Chương Nước Trời” cách trọn vẹn và suất sắc.
Thật vậy, các ngài là những người thuộc nằm lòng và sống trọn vẹn lời mời gọi của Đức Giêsu:  “Anh em hãy mang lấy ách của Tôi và hãy học cùng Tôi vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường vì ách của Tôi thì êm ái, gánh của Tôi thì nhẹ nhàng” ; hay:  “Hãy nên hoàn thiện như Cha Trên Trời” (Mt 5, 48), rồi cả cuộc đời của các ngài là những người đi theo Chúa trên con đường khổ giá vì lòng yêu mến Chúa và yêu thương con người tha thiết. Đây chính là con đường Chân Phúc.
Có nhiều con đường để nên thánh, và có nhiều cách nên thánh. Hôm nay, Chúa Giêsu đã vạch ra con đường Chân Phúc để như một lời mời gọi những ai muốn trở nên giống Chúa cách trọn vẹn hơn... Con đường đó được gọi là con đường hoàn thiện, hay một bản “Hiến Chương Nước Trời”.
Quả thật, các ngài là những người yêu mến tinh thần nghèo khó, sống hiền lành, biết thương cảm, vui với người vui, khóc với người khóc, luôn thương xót những người cơ bần, khao khát sống công chính, trong sạch, luôn xây dựng hòa bình, kiến tạo sự hiệp nhất và, các ngài là những người sẵn sàng vì Chúa mà quên thân mình. Sẵn sàng noi gương Chúa để sống và chết vì yêu. Các ngài là những người xứng đáng được Chúa ghi sổ vàng và hưởng lời chúc phúc của Chúa: “ Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.  Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước;  Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm" (Mt 25, 35).

2. Sống thánh trong đời thường
Khi mừng lễ các thánh Nam Nữ như vậy, trước tiên, Mẹ Giáo Hội muốn nhắc nhở cho con cái biết rằng có một sự hiệp thông rất mật thiết giữa ba thành phần trong Giáo Hội: Giáo Hội Lữ Hành, Giáo Hội Thanh Luyện và Giáo Hội Chiến Thắng. Nói cách khác, có một mối liên hệ thiêng liêng hỗ tương giữa những người còn đang sống ở trên dương thế này với những linh hồn đang chịu thanh luyện trong Luyện Tội và với các thánh đang hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng (x. GLTYGHCG, số 195 & Lumen Gentium, số 49).
Thứ đến, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì ân sủng của Chúa tràn ngập trên cuộc đời các thánh, để từ ân sủng của Chúa, các ngài đón nhận và tỏa hương nhân đức trong cuộc sống, đồng thời lưu truyền lại cho con cháu hôm nay. Thật vậy, khi nói về sự ảnh hưởng của các thánh Tử Đạo, Tertuliano nhận xét: "Máu các vị Tử Ðạo là hạt giống trổ sinh nhiều tín hữu". Chúng ta có được đời sống đức tin như ngày hôm nay là do ơn Chúa ban và biết bao hy sinh của các bậc tiền nhân.
Tiếp theo là: noi gương các ngài để ngày càng tiến tới sự trọn lành. Thánh Augustino đã nói một câu thời danh: “Ông nọ bà kia nên thánh được, còn tôi, tại sao không?”. Sống thánh và làm thánh là bổn phận, trách nhiệm của chúng ta. Thánh Giêrađô đã nhất quyết phải làm thánh khi từ giã người mẹ của mình để lên đường theo các cha dòng Chúa Cứu Thế đi tu, ngài đã viết một mảnh giấy để lại rằng: "Mẹ ở lại, con đi làm thánh!”. Như vậy, việc nên thánh là trách nhiệm của chúng ta, và cũng là đòi hỏi của Thiên Chúa: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta  là Đấng Thánh” ( Lêvi  19,2; 1 Tx 4,3 ; 1 Pr 1, 16…).
Cuối cùng, trong một xã hội đang chạy đua với kinh tế thị trường, coi thường đạo lý; một xã hội bất công lan tràn; thượng tôn hưởng thụ và khoái lạc dẫn đến tình trạng vô cảm, vô tâm, vô tình... Nên thánh trong thời đại của chúng ta ngày hôm nay chính là khẳng khái triệt để không sống theo lối sống sa hoa hưởng thụ, lối sống dẫm đạp lên nhau, lối sống nín thở qua cầu, nói chung lối sống chỉ biết lo cho cái bụng mà quên đi trái tim. Các thánh khi xưa là những người hoàn toàn khước từ những gì là mau qua chóng hết để tìm cho mình một kho tàng vĩnh cửu trên Trời là niềm vui, bình an và hạnh phúc vĩnh cửu.
Mừng lễ các thánh hôm nay, chúng ta hãy xin với các thánh là những bậc tổ tiên của chúng ta, xin các ngài nâng đỡ, bầu cử cho chúng ta để chúng ta cũng được hạnh phúc như các ngài trên Thiên Quốc. Và có lẽ không gì làm cho các ngài vui và Chúa được tôn vinh cho bằng chúng ta noi gương các ngài để nên thánh. Vì thế, trong việc giáo dục con em của mình, mong thay trong mỗi giáo xứ hay gia đình nên có những sách truyện, cuốn phim, tranh ảnh của các thánh, đây là những phương tiện bổ trợ rất hữu ích cho việc giáo dục Kitô giáo và cho đời sống đức tin nơi thế hệ mai sau.
Mong thay lời dốc quyết của thánh Giêrađô khi xưa: “Mẹ ở lại, con đi làm thánh!” cũng là sự quyết tâm của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta không ngừng xin Chúa ban ơn trợ lực để chúng ta vượt qua được những cám dỗ hầu tiến tới sự trọn lành như các thánh trên Trời.
Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa vì quyền năng và tình thương của Chúa trên các thánh. Vì lời chuyển cầu của Mẹ Maria và các thánh, chúng con xin Chúa ban cho chúng con cũng được dồi dào ân sủng như các thánh mà hôm nay chúng con mừng kính, hầu mai ngày, chúng con được cùng các ngài xum họp để tôn vinh, thờ lạy và chúc tụng Chúa không ngừng. Amen.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

+++++++++++++++++++++++++++++++

2. 
Bài học của sinh tồn

Có một người đã hỏi một chuyên gia leo núi như sau:
- Nếu chúng ta ở lưng chừng núi đột nhiên gặp mưa lớn thì phải làm sao?
- Anh phải cố leo lên đỉnh núi!
- Tại sao không chạy xuống dưới? Gió mưa ở đỉnh núi chẳng phải lớn hơn sao?
- Đi lên đỉnh núi, cố nhiên mưa gió có thể lớn hơn, nhưng không đủ uy hiếp mạng sống của người. Còn chạy xuống dưới núi, xem ra khá an toàn, nhưng có thể gặp tuyết trượt bộc phát  chôn sống.
Anh nói thêm:
-... đối với mưa gió, chạy trốn nó, thì anh sẽ bị lũ cuốn trôi; đương đầu với nó, thì anh lại có cơ may sống sót!
Xem ra để sống sót trước khó khăn không phải là an phận“sống chung với lũ” mà phải “chiến đấu với lũ” để tồn tại. Và như vậy,  quy luật chung để tồn tại là phải đối diện với khó khăn, với thử thách để vươn lên. Không lẩn tránh khó khăn. Không trốn chạy sự dữ. Nhưng phải tìm cách tồn tại trong những hoàn cảnh đầy khó khăn nhất.
Trong đời sống luân lý, lẽ thường cũng rất nhiều cám dỗ bủa vây. Cám dỗ như những cơn lũ muốn nhậm chìm chúng ta. An phận sống chung với chúng e rằng sẽ có ngày “mưa lâu thấm đất” khiến chúng ta cũng sa vào cám dỗ. Sự khôn ngoan nhắc nhở chúng ta phải chiến đấu với cám dỗ, phải chiến thắng cám dỗ và xua tan cám dỗ. Điều này chính Chúa Giê-su đã làm và đã chiến thắng trong cuộc cám dỗ 40 đêm ngày. Ma quỹ cũng đã bầy ra trước mặt Chúa những nhu cầu hưởng thụ rất đỗi bình thường của con người, nhưng chỉ với điều kiện là quay lưng lại với Thiên Chúa. Chúa đã Giê-su nhắc ma quỷ quy tắc là phải vâng lời Thiên Chúa, và điều quan yếu trong cuộc sống, không phải là sự đói khát thể xác mà còn tìm kiếm thỏa mãn cái đói của tâm hồn là chính Thiên Chúa.
Hôm nay chúng ta mừng kính các thánh nam nữ, họ là những người con ưu tú của Giáo hội. Họ đã chiến thắng cám dỗ. Họ đã vượt qua thử thách để hôm nay cùng nhau cầm cành lá vạn tuế tung hô Chúa cửu trùng chí thánh. Họ đã đi qua những dòng đời vấn đục khác nhau nhưng lòng họ giống nhau ở chỗ luôn giữ lòng thanh khiết không chiều theo cám dỗ xác thịt. Họ sống giữa dòng đời đầy thị phi cùa sự bất công gian dối nhưng họ vẫn tỏa lan hương thơm của lòng bác ái, vị tha dấn thân phục vụ mọi người. Họ không để lòng tham trỗi dậy để rồi sống tham lam bất chính. Họ không để dục vọng thống trị để sống đam mê trụy lạc. Họ đã sống một đời yêu và yêu cho đến cùng, một tình yêu không toan tính thiệt hơn. Một tình yêu cho đi và cho đi mãi. Họ đã đối đầu với nghi nan, bách hại, tù đầy, tra tấn . . . nhưng vẫn một lòng trung thành sống theo thánh ý Chúa.
Điều quan yếu là họ đã chiến thắng cám dỗ, chiến thắng những nghịch cảnh đời sống không bằng sức mình mà bằng cách cậy dựa vào ơn Chúa. Chỉ với ơn Chúa mới đủ sức cho họ vượt thắng nghi nan. Chỉ với ơn Chúa họ mới chiến thắng được những cám dỗ nằm sâu trong bản tính con người như tính kiêu căng, thói hưởng thụ . . . Họ đã biết cậy dựa vào ơn Chúa để làm chủ chính mình, để chiến thắng cám dỗ và dấn thân xây dựng Nước Chúa trên trần gian. Hôm nay họ đang được ân thưởng hạnh phúc Nước trời nhờ một đời sống để ý Chúa thể hiện trong cuộc đời họ. Họ đã đạt được hạnh phúc viên mãn vì đã chiến thắng thế gian đầy cám dỗ bon chen này.
Cuộc sống luôn có rất nhiều cám dỗ. Cám dỗ hưởng thụ vật chất, hưởng thụ xác thịt. Cám dỗ ở ngay trong lòng mình khi tìm kiếm sự dễ dãi bản thân, tìm kiếm sự đồng lõa của dục vọng, của tính tham lam . . . Đôi khi chúng ta cảm thấy bất lực trước biết bao cám dỗ lôi kéo. Chúng ta cũng từng đứng dậy sau rất nhiều lần vấp ngã nhưng rồi vẫn ngã quỵ trước cám dỗ.
Mừng kính các thánh nam nữ là một dịp khơi lên trong chúng ta một niềm hy vọng về cuộc sống. Dầu cuộc sống có cám dỗ nhưng không đánh gục chúng ta nếu biết cậy dựa vào ơn Chúa. Dầu có những lần thất bại trước cám dỗ nhưng vẫn có thể đứng dậy để canh tân, để sửa đổi nhờ ơn Chúa. Chính nhờ sức mạnh và quyền năng của Chúa chúng ta sẽ mãi đứng vững và chiến thắng trong trận chiến nhiều cam go cám dỗ này.
Ước gì chúng ta luôn biết noi gương các thánh biết bám vào Chúa như cành liền cây để sức sống của Chúa mãi tuôn chảy trên chúng ta. Xin Chúa giúp chúng ta đừng bao giờ thất vọng về mình nhưng luôn biết đứng dậy làm lại cuộc đời nhờ ơn Chúa. Và xin cho chúng ta luôn biết hoàn thiện mình mỗi ngày tốt hơn trong ơn thánh của Chúa. Amen

Lm Jos Tạ Duy Tuyền

+++++++++++++++++++++++++++

3. Chiều rộng của Ơn Cứu Độ

Năm phụng vụ có năm mùa nhưng tựu trung chỉ mừng một mầu nhiệm duy nhất, mầu nhiệm cứu độ: Chúa Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta.
Năm mùa phụng vụ đều quy về chính Chúa Kitô là Đấng Cứu độ. Ngài là Con Thiên Chúa nhập thể, đã sinh ra, đã chết, đã sống lại, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha,và gởi Thánh Thần đến với Giáo hội.
Các ngày lễ về các Thánh nói lên thành quả của ơn cứu độ. Mỗi vị Thánh được tôn phong hàng ngày là một bằng chứng sống động về sự thành công của ơn cứu độ.
Các ngày lễ này có hai cao điểm :
- Lễ Đức Maria hồn xác lên trời là chiều cao và chiều sâu của ơn cứu độ.Thiên Chúa cứu độ là cứu cả hồn xác,toàn diện con người “Người đã đoái thương nhìn đến phận hèn tớ nữ…Người đã làm những điều cao cả”.
- Lễ các Thánh Nam Nữ là chiều rộng của ơn cứu độ “Lòng thương xót của Chúa trải rộng từ đời nọ đến đời kia”.
Chúng ta mững lễ các Thánh Nam Nữ là mừng Nhà Cha rộng lớn như lòng Thiên Chúa, đủ chổ cho mọi chi tộc trong Israel.Bài đọc 2 trong sách Khải huyền, Thánh Gioan viết: “đã nghe nói số những kẻ được niêm ấn là 144 ngàn thuộc mọi chi tộc con cái Israel”. 144 ngàn không phải là nhiều. Giáo phận Phan thiết có 166 ngàn giáo dân. Nhưng 144 ngàn trong Khải huyền là một con số tượng trưng, một con số tràn đầy (12 x 12 = 144). Số kẻ được niêm ấn là tròn đầy. Và điều tuyệt diệu là trong thị kiến Khải huyền chi tộc nào cũng có số người được niêm ấn như nhau: 12 ngàn thuộc chi tộc Giuđa,12 ngàn thuộc chi tộc Ruben,12 ngàn thuộc chi tộc Gad… không tên họ nào lấn lướt, không tên họ bị loại trừ. Các chi tộc đều được Thiên Chúa kêu mời đầy đủ.
Không chỉ Israel được thương mời mà “Sau đó tôi còn mãi nhìn,thì này một đoàn lũ không biết cơ man nào mà kể,thuộc mọi nòi giống,dòng họ ,dân tộc,tiếng nói”. Quả là đang trở thành hiện thực nơi Lời Chúa Giêsu đã thốt lên khi gặp được lòng tin của viên bách quản: “Ta bảo thật các ngươi,nhiều kẻ tự phương đông,phương đoài mà đến và được dự tiệc cùng Abraham,Isaac và Giacop trong nước trời”.
Trong ngày lễ Các Thánh, Giáo hội nhìn lên trời có thể vui ca như cô gái Sion “Vui ca lên nào thiếu nữ Sion… Hãy đưa mắt tư bề, muôn dân đông tây đang tập trung tới ngươi.Con cháu người đang từ đàng xa đổ về”. Các Thánh đông đảo trong Nhà Cha. Vì vậy, mừng lễ Các Thánh, người Kitô hữu vui tươi trong một nhãn giới lạc quan căn bản là có thể tin rằng Thiên đàng có nhiều chỗ hơn Hoả ngục. Niềm tin tưởng lạc quan của chúng ta lại có vẻ nghịch thường: con đường đi tới phải là con đường hẹp nhưng cửa nước trời lại được Thiên Chúa mở rộng thênh thang.
Ngày lễ hôm nay là lễ tưởng nhớ, vui mừng hiệp thông với các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, tất cả những người thân của chúng ta đã ra đi trước chúng ta mà chỉ một mình Chúa biết lòng tin của họ ( Kinh Tạ Ơn IV) khi chúng ta có thể hy vọng họ được gia nhập vào hàng ngũ Các Thánh trên trời. Giáo hội vẫn mừng lễ các Thánh trước lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, các linh hồn đang ở luyện ngục. Luyện ngục dẫu sao chỉ là một thời gian tạm trú. Không ai có hộ khẩu thường trú ở đó cả. Nói cách khác, luyện ngục chỉ là một chuyến đò ngang.Thiên đàng mới là bờ bến. Giáo hội dành tháng 11 để cầu nguyện cho các linh hồn, dâng thánh lễ, làm việc lành chuyển cầu cho các linh hồn, nói lên mối hiệp thông huyền nhiệm giữa người sống và kẻ chết trong lòng tin.Giáo hội thâm tín rằng: Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Ơn tha thứ của Chúa cũng là ơn thành hoá, thăng hoa con cái Chúa trở về Nhà Cha, không chỉ được ơn tha thứ mà còn dự tiệc muôn đời.
Thiên Chúa đã dựng nên muôn loài.Trong muôn loài, có loài hoa, trong loài hoa Thiên Chúa đã tạo ra muôn loại, muôn giống khác nhau. Có thể nói, mỗi vị Thánh là một loài hoa khoe sắc trong vườn hoa thiêng liêng. Có nhiều vị thánh rao giảng tin mừng. Có thánh tử đạo, có thánh lo bác ái từ thiện, có thánh lo dạy học, có thánh chuyên sống đời cầu nguyện chay tịnh… Nhưng có một điểm chung nơi Các Thánh, đó là các Ngài đã bắt chước Chúa Kitô, sống cho hạnh phúc của người khác, it khi tìm hạnh phúc hay thú vui cho riêng mình.
Các Thánh không phải là những con người hoàn hảo, thánh thiện,tinh tuyền, không vướng mắc lỗi lầm thiếu sót hay tật xấu nào. Không ai bẩm sinh đã là Thánh. Các Thánh cũng không phải là những siêu nhân, những con người phi thường vượt trên đám đông nhân loại. Các Thánh càng không phải là những người bất thường kỳ dị. Các Thánh là những con người bình thường như mọi người, nhưng các Ngài đã “sống những điều tầm thường một cách phi thường”. Nhờ Ơn Chúa trợ lực, các Ngài đã cố gắng tiến tới mẫu mực của mình là Chúa Kitô. Bí quyết nên thánh của các Ngài là sống tám mối phúc thật, là đón nhận ân sủng của Chúa vô điều kiện, hợp tác với ân sủng đó, vâng theo ý Chúa, chọn điều thiện, luyện tập nhân đức.
Mọi cuộc đời, mọi con người đều có thể nên thánh. Có những vị thánh không có tên trong lịch, nhưng vẫn được gần Chúa. Có những vị thánh nông dân chân lấm tay bùn, vất vả nuôi con. Có những vị thánh nội trợ âm thầm, quét nhà nấu bếp mà lòng lúc nào cũng vui. Có những vị thánh là những người con ngoan trong gia đình, hiếu thảo với cha mẹ, yêu thương quảng đại đối với anh chị em. Có những vị thánh là nữ tu, là tu sĩ, là linh mục, là giám mục. Có những vị thánh là những con người đam mê chân lý, như những nhà khoa học, những triết gia. Có những vị thánh là những nghệ sĩ làm đẹp cuộc đời bằng nhiều cách khác nhau, mang lại niềm vui cho mọi người.
Mừng lễ Các Thánh Nam Nữ, chúng ta  hân hoan chúc tụng Các Thánh là những người bạn của chúng ta và xin các Ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng ta, để chúng ta nhận ra mình cũng được Chúa mời gọi nên thánh như các Ngài, và cố gắng vươn lên giống như các Ngài .
Nguyện xin các Thánh Nam Nữ giúp chúng con tập sống mỗi ngày,thăng tiến trên con đường trọn lành như lời mời gọi của Chúa Giêsu : các con hãy nên Thánh như Cha trên trời là Đấng Thánh.
Xin cho chúng con luôn ghi nhớ lời Thánh Augustinô: Ông nọ bà kia nên Thánh được, còn tôi, tại sao lại không?
Linh mục Giuse Nguyễn Hữu An

 

NGHĨ VỀ SỰ CHẾT

Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào.

Chắc chắn tôi phải chết. Đó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Chân lý này, không ai đã dạy tôi. Nó nằm ngay trong con người của tôi.

Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người. Nó là một vấn đề chung. Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng. Bởi vì nó đặt ra câu hỏi: Đâu là ý nghĩa cuộc sống? Cuộc đời đi về đâu? Bên kia sự chết có gì không?

Câu trả lời theo lý thuyết có thể tìm được trong nhiều sách, nhất là sách đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập tử nhất sinh.

Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lý. Nhưng sẽ là cái gì linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập rình sát tới.

Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hãi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nhìn xa xăm. Cũng có thể là những bất bình tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cõi đời đời.

Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Đã tới lúc vĩnh biệt. Đã tới lúc ra đi. Đã tới lúc phải bỏ lại tất cả. Đã tới lúc phải trực diện với lương tâm. Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.

Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm. Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình diện rất nghiêm túc.

Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của mình là một quà tặng Chúa ban. Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không. Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để mình phát triển mình và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định. Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.

Thực tế cho thấy là đã có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi. Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đã phần nào hoàn thành.

Trái lại nếu thấy những phát triển của mình là xấu, nhiệm vụ được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hãi. Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng. Vì chết là bước sang cõi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục. Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.

Vì thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.

Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như tiến tới một quãng phải vượt qua, để về với Cha trên trời.

Một khi nhìn sự chết của mình như thế, thì cuộc sống của mình cũng được hiểu theo hướng đó.

Để đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6). Đón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người. Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Điều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Đấng sai mình.

Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo. Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này. Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt. Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Đức Kitô. Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu. Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng. Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?

  1. Hãy tiến về sự chết của mình như người khắc khoải trở về với Đấng đã trao cho mình điều răn mới.

Điều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34).

Để hiểu thấm thía hành trình tình yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:

“Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa” (1Ga 3,14-19).

“Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,19-21)

Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ.

Nhiệm vụ được chấm dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó. Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết tôi đã lỗi phạm nhiều.

Biết lo là điều tốt. Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ. Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình, đổi mới mình nên tốt hơn. Coi như bắt đầu lại.

Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ còn lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất. Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và tin mến khiêm cung.

Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.



LỄ CẦU HỒN

LỄ CÁC LINH HỒN

Ông bà anh chị em thân mến.  Tháng Mười Một được Giáo hội dành riêng để kêu gọi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội, và cũng là dịp tốt để chúng ta thể hiện đức bác ái Ki-tô giáo với những người đã qua đời, trong tình liên kết với “Các Thánh Thông Công.” Và cũng trong Tháng Các Linh Hồn này, chúng ta cũng có cơ hội tưởng nhớ, và đặc biệt thể hiện lòng hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã qua đời.  Đây là giới răn Chúa dạy và cũng là bổn phận phải thảo hiếu với cha mẹ còn sống và đã qua đời. Tuy trong một bầu khí u sầu và thương nhớ, nhưng chúng ta hãy suy nghĩ, trong tháng này có biết bao nhiêu linh hồn được thanh luyện, và được hợp cùng các thánh hưởng hạnh phúc thật trên Thiên đàng, diện kiến tôn nhan và ca tụng Thiên Chúa.

Sách giáo lý của Giáo hội nhấn mạnh đến sự thanh luyện của các linh hồn và tôi xin tóm lại và chia sẻ một số điểm như sau.  Thứ nhất, các linh hồn cần được thanh luyện để trở nên hoàn toàn thánh thiện để được vào Thiên đàng. Thứ hai, chúng ta chú trọng vào sự thanh luyện, được hiểu là sự thay đổi trạng thái, hơn là vào “nơi chốn”, và càng không thể hạn định chắc chắn “thời gian” bao lâu. Nơi luyện tội không phải là một hoả ngục ngắn hạn, luyện tội hoàn toàn khác xa hoả ngục. Và thứ ba, sách giáo lý đề cập đến “lửa thanh luyện” có nghĩa là các linh hồn được thanh tẩy bằng lửa, nhưng là “lửa tình yêu” hay “lửa bác ái.”

Ông bà anh chị em thân mến. Sự thanh luyện của các linh hồn nói lên lòng lân tuất và nhân từ của Thiên Chúa. Ngài muốn linh hồn của chúng ta nên hoàn thiện, hoàn toàn thanh sạch để xứng đáng chiêm ngắm thánh nhan Ngài. Sự thanh luyện cũng nói lên tình yêu cao quí của Thiên Chúa. Thật vậy, khi còn sống ở trần gian, Thiên Chúa ban cho chúng ta một chân lý, đó là giới răn Mến Chúa Yêu Người, và Chúa muốn chúng ta yêu mến Thiên Chúa hết sức, hết tâm hồn, hết trí khôn và thương yêu tha nhân như chính mình. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su muốn chúng ta sống giới răn Yêu Thương “để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa.”  Và “Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con.”  Chúng ta ý thức sống trọn vẹn, hoàn tòan giới răn yêu thương của Chúa rất khó, vì sự yếu đuối và giới hạn của con người.  Chính thánh Phaolô cũng phải thú nhận rằng trở thành giống hình ảnh Thiên Chúa nơi trần gian thật khó khăn. Thật vậy, chúng ta nhận định rằng không mấy ai trong chúng ta có thể thực hiện được điều răn thương yêu này một cách trọn vẹn được trước khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay.  Và do đó, chốn luyện hình là nơi linh hồn của những người đã qua đời sẽ được thanh luyện nhờ sự giúp đỡ của những người còn sống, qua những việc tốt lành, bác ái, quảng đại và nhất là lời cầu nguyện, đặc biệt là Thánh lễ. Qua những việc tốt lành này, linh hồn của những người đã qua đời được thanh luyện trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa.

Ông bà anh chị em thân mến. Tất cả chúng ta tin vào lời Chúa dạy về ơn cứu độ, về sự phán xét, về sự sống vĩnh cửu, và về hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên đàng. Nếu không tin vào lời Chúa và những điều Chúa dạy thì chẳng ai cầu nguyện cho các linh hồn làm gì, và cũng chẳng có lễ cầu hồn, như Thánh lễ ngày hôm nay. Nếu chúng ta không tin vào lời Chúa về sự phán xét và thưởng hay phạt sau khi chết, và những lời nhắn nhủ của thánh Phaolô với chúng ta trong bài đọc 2 hôm nay là cuộc sống này là tạm bợ, Quê Trời mới là chỗ vĩnh viễn, thì chúng ta không cần phải có đức tin, không cần phải sống yêu thương, hy sinh, bác ái, không cần phải cầu nguyện, không phải thờ phượng, kính mến Chúa, và những việc bác ái cùng những lời cầu nguyện chúng ta dâng cho cho người đã qua đời đều trở nên vô nghĩa. Là những Ki-tô hữu, tin vào Chúa và Lời của Người, chúng ta được kêu gọi sống Lời Chúa, sống thánh ý Chúa và đẹp lòng Chúa để được hưởng hạnh phúc phúc Quê trời.

Chúng ta biết anh chị em bên giáo phái Tin lành không tin về sự thanh luyện và cũng không cầu nguyện cho các linh hồn của những người đã qua đời.  Có những anh chị em Tin lành cũng không tin vào sự phán xét và sự thưởng hay phạt ngay sau khi chết như Lời Chúa đã dạy. Còn chúng ta, chúng ta tin vào Lời Chúa dạy và khi dâng các việc lành phúc đức và cầu nguyện cho những người đã qua đời là chúng ta gián tiếp tuyên xưng niềm tin vào sự sống, sự thưởng và phạt sau khi chết.

Ông bà anh chị em thân mến. Tuyên xưng niềm tin vào mầu nhiệm của Giáo hội, là Giáo hội của “Các Thánh Thông Công” là chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, qua cái chết và phục sinh của Chúa, đã nối kết các thánh, các linh hồn và chúng ta bằng mầu nhiệm tình yêu của Ngài. Chính mầu nhiệm tình yêu thập giá và sự phục sinh của Chúa Kitô đã nối kết các thánh đang hưởng hạnh phúc Nước Trời với các linh hồn nơi luyện hình và những người Ki-tô hữu còn sống lại với nhau. Chính vì thế mà lời cầu bầu của các thánh cho chúng ta, cũng như lời cầu nguyện và việc việc hy sinh, bác ái của những người còn sống trở nên có giá trị vô cùng.

Tóm lại, khi dâng các việc lành phúc đức và lời cầu nguyện cho những người thân thuộc đã qua đời là chúng ta sống Lời Chúa, là trực tiếp bày tỏ lòng biết ơn, lòng thảo hiếu, và lòng bác ái đối với các ngài, đồng thời cũng là cách thế chúng ta gián tiếp tuyên xưng niềm tin vào mầu nhiệm các thánh cùng thông công, vào lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, và vào sự sống lại và sự sống vĩnh cửu.

Trong ngày lễ Các Linh Hồn hôm nay, chúng ta xin tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa thanh tẩy những tội lỗi của các linh hồn những người thân thuộc, những người đã sống trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, còn đang trong chốn luyện hình, và đưa các linh hồn vào hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên đàng, được “chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa Cha.”  Và chúng ta cũng cầu xin Chúa, qua lời cầu bầu của các thánh, nhất là cả Thánh Giuse bổn mạng giáo xứ, và các thánh tử đạo Việt Nam, giúp chúng ta cố gắng và thành tâm sống chân lý, giới răn “Mến Chúa Yêu Người”, và cũng luôn ý thức và sống hiếu thảo với những người đã qua đời là tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những người thân thuộc đã qua đời.  Xin cho ánh sáng tình yêu của Chúa chiếu soi vào các linh hồn. Amen.

 

NHỚ ĐẾN CỘI NGUỒN

Con người có tổ có tông, như cây có cội như nước có nguồn, đó là câu ca dao mà từ tấm bé ai cũng đã nghe, còn sống tâm tình uống nước nhớ nguồn hay làm con phải hiếu, thì cả thế giới luôn được mời gọi để cùng nhau sống đạo hiếu ấy. Không ai thờ cha kính mẹ bằng môi miệng, vì thế mà khi các ngài còn sống, con cháu thăm hỏi, lúc qua đời có bàn thờ tổ tiên, có di ảnh ông bà hoặc cha mẹ. Tới nghĩa trang mộ phần của các ngài sạch đẹp lại còn có hoa tươi nhất là những ngày đầu tháng 11 này…… Đó có phải là tình cha nghĩa mẹ đong đầy trong con không ? Dĩ nhiên lòng biết ơn đâu thể tính tháng tính ngày, hoặc bằng hình thức phô trương ra bên ngoài.

Họp nhau tại nghĩa trang đây, cầu nguyện trong thánh lễ này có phải là sự hiệp thông của những người làm con đang sống tinh thần “nhớ đến cội nguồn” hay không ? Tổ tiên dòng tộc, người thân thì ai ai cũng có, truyền thống sống đạo hiếu tuy khác nhau, nhưng ca dao vẫn nhắc đến một tình yêu thương thật đẹp giống nhau hoàn toàn : cha là núi mẹ là sông, dù ở hoàn cảnh nào, cha mẹ vẫn là bóng mát che chở đời con. Nhiều người vẫn thắc mắc không biết tại sao Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe, Ngài cầu nguyện sốt sắng như thế ? Khi được dân chúng tung hô, khi vừa thực hiện phép lạ Chúa cầu nguyện sốt sáng thì đã đành…?

Và nhiều người chúng ta không khỏi thắc mắc, tại sao có rất nhiều các bậc cha mẹ khi còn sống con cái chẳng cho ăn, khi mất mới làm ma cúng tế ! thật đau lòng ! Người xưa nói rằng : bạc tình bạc nghĩa, bạc luôn lối đi…., đó là dấu hiệu của bất hạnh, là hậu quả khổ đau mất mát, sẽ không gì bù lấp nổi, nếu điều ấy xảy ra ngay trong gia đình mình. Kinh nghiệm cho thấy ai chập chững tập đi mà lại không té lên té xuống, ai đạt đến thành công mà lại không từng nếm mùi thất bại ? ai có tình, có hiếu mà lại không nhớ về tổ tiên, đấng bậc sinh thành.

Khi nhớ người yêu, lẽ nào người ta lại không sắp xếp công việc để đến gặp gỡ nói chuyện, và hôm nay kính nhớ cha mẹ ông bà lại không đến nghĩa trang linh thiêng này để thắp nhang dâng lễ cầu nguyện cho người thân của mình…. Biết ơn tổ tiên, là dịp để ta sống đức thảo hiếu, cũng là dịp để ta nhớ về mầu nhiệm các thánh cùng thông công, trước ơn gọi Chúa Giêsu là TRUNG TÂM của lịch sử ơn cứu độ.

Vì nhờ lời cầu nguyện của Đức Giêsu, mà chúng ta mới biết cầu nguyện là đi sâu vào tâm tình hiệp thông với Thiên Chúa là Cội Nguồn, được Chúa Giêsu hé mở đôi chút cảm nghiệm về hạnh phúc thiên đàng. Đức Giêsu khởi đầu kinh nguyện ấy, với tư cách là Con trong Cha, vừa là Thày dạy, là anh Cả của chúng ta, và cũng là Chúa của kẻ sống và kẻ chết. Nhờ tình yêu chúng ta biết rằng Chúa không chỉ yêu thương trong phạm vi nhỏ hẹp khi xưa dành cho các tông đồ, cho người Do Thái, mà là tất cả chúng ta hôm nay.

Chúa cầu nguyện cho những ai đang liên đới tình yêu mến, có thao thức làm môn đệ theo Chúa Giêsu, cho đến tận thế Chúa Giêsu vẫn làm công việc hiệp thông, kêu cầu Chúa Cha cho chúng ta được ở với Ngài. “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con, thì Con muốn rằng : Con ở đâu, chúng cũng ở đấy với Con”. Dù vui sướng hay đau khổ, dù ưu tư hay vô tư, mỗi chúng ta đều được mời gọi duy trì tinh thần uống nước nhớ về cội nguồn, vì chúng ta thuộc về Đức Kitô.

Làm sao mà kể hết được công ơn sinh thành của tổ tiên…., tất cả những gì mà ông bà cha mẹ làm cho con cái đều miễn phí, không tính bằng tiền, các ngài chỉ mong sao con cháu tiếp tục duy trì được tình yêu thương. Có kính nhớ, có liên đới với bậc sinh thành thì người ta cũng liên đới và hiệp thông được với Chúa Giêsu là Thầy là Chúa trong Đại gia đình yêu thương. Đạo làm người luôn ý thức chúng ta : “tận cùng của thiện không bằng có hiếu, tận cùng của ác không bằng bất hiếu” ! có hiếu là có đạo, có hiếu người ta mới hiểu được câu ca dao : thờ cha kính mẹ con nào dám quên !

Người xưa cũng có câu : “không thể lấy bụng dạ tiểu nhân để đo tấm lòng người quân tử”, và sống phận làm con, người ta không thể biết ơn các ngài bằng môi miệng, lại không thể báo đáp công ơn sinh thành bằng sự hời hợt giả tạo. “Tháng 11 được gọi là tháng để người Tín hữu sống phận làm con, biết dành thời giờ, công sức, tình yêu thương để kính nhớ tới CÁC LINH HỒN”. Ai trong chúng ta mà chẳng có CỘI NGUỒN, hãy biết tận dụng tháng 11 như là tháng báo hiếu cho TỔ TIÊN, tháng làm việc bác ái cho người đã khuất. Sống chữ hiếu là biết đến chữ đạo của Chúa Giêsu, là nhớ tới lời cầu nguyện mà Chúa đã thưa với Chúa Cha khi xưa, “để Con ở đâu thì chúng cũng ở đó với Con, để tình Cha yêu Con ở trong chúng và Con cũng ở trong chúng nữa”. Vì của lễ, vì tấm lòng thành, hy vọng lời cầu nguyện lúc này, là món quà quý giá nhất mà chúng ta cùng tiến dâng lên Chúa, kính nhớ tới ông bà cha mẹ và người thân yêu của chúng ta. Amen.

 Về mục lục

.

XIN NHỚ ĐẾN TÔI

Nếu giả như chúng ta phải ra đi vội vàng, tức tưởi, chúng ta sẽ trăn trối lại điều gì? Điều gì khiến chúng ta quan tâm nếu phải dứt bỏ cuộc đời một cách vội vàng?

Trong tai nạn máy bay boeing 747 của hãng hàng không Nhật bản vào ngày 12-8-1985 đã khiến 520 người thiệt mạng. Điều đáng nói là phi hành đoàn cũng như hành khách trên chiếc Boeing 747 này biết họ gặp nạn, máy bay của họ không thể điều khiển được và họ còn một ít thời giờ trước khi chết, nên mấy người đã lấy viết ghi lại các lời trăn trối của họ.

Trong số này có ông Kawaguchi đã viết được vài điều trăn trở trên cuốn lịch nhỏ như cuốn sổ bỏ túi. Ông viết cho vợ: Thôi, vĩnh biệt! Em hãy thay anh lo lắng săn sóc con cái.

Ông khuyên 3 người con, hai gái một trai rằng: Các con phải hòa thuận với nhau, phải cố gắng làm việc và giúp đỡ mẹ.

Riêng với cậu con trai út tên Tsuyoshi, ông viết: Cha đặt nhiều hy vọng nơi con.

Người thứ hai là kiến trúc sư Kazuo Yoshimura chỉ viết được mấy chữ trên một tấm giấy: Tôi muốn cả gia đình được mạnh khỏe.

Người thứ ba là một nhà kinh doanh tên là Masakazu Tamguchi đã viết cho tỉnh Osaka, cho thành phố Min và cho vợ tên là Machiko như sau: Xin nuôi nấng, săn sóc mấy đứa con tôi.

Xem điều mà con người quan tâm trước khi chết chính là lo cho người còn sống. Có thể là cha mẹ, là vợ con, là đồng nghiệp, . . . những con người mà họ đang có bổn phận che chở giữ gìn mà nay cái chết đến, họ không còn khả năng bảo vệ người thân yêu. Họ mong rằng những người thân của họ vẫn tiếp tục sống, vẫn tiếp tục được yêu thương, được hạnh phúc. Người ta bảo rằng có người đã không thể nhắm mắt vì họ còn có quá nhiều bổn phận với gia đình và xã hội, và chắc chắn họ không thể nhắm mắt vì còn lo lắng nhiều cho người thân.

Hôm nay chúng ta quây quần bên nghĩa trang, nơi những người thân đang an nghĩ. Họ là người đã từng có trách nhiệm với chúng ta. Họ là người đã từng yêu thương chúng ta. Nhưng họ cũng là người đã từng mang đến cho chúng ta vui buồn, hạnh phúc và khổ đau. Dầu khi sống họ đối xử với chúng ta như thế nào thì chắc chắn một điều, trước khi nhắm mắt xuôi tay điều họ quan tâm vẫn là lo lắng cho hạnh phúc của chúng ta. Họ vẫn mong chúng ta được bình yên. Họ vẫn không yên lòng ra đi vì chúng ta vẫn còn đang ở lại.

Họ có thể là một người người cha, người mẹ đã từng vỗ về chúng ta, từng ao ước cho chúng ta được sống hạnh phúc. Họ đã từng chung nỗi niềm lo lắng cho con cái cái ăn, cái học, và cả niềm vui trong cuộc sống. Họ dám đánh đổi cả mạng sống mình cho con cái niềm vui.

Họ có thể là một người bạn tri kỷ hay trăm năm đã từng cùng với chúng ta chia vui sẻ buồn. Họ cũng từng nuôi ước vọng đi với chúng ta đến tận chân trời để che chở, bảo vệ chúng ta. Họ đã hiến dâng cuộc đời mình cho hạnh phúc của chúng ta.

Họ có thể là cha mẹ, anh em vì yếu đuối mà sa vào tội lỗi nên bê tha bổn phận, gây phiền toái cho chúng ta, nhưng có lẽ họ vẫn từng ăn năn sám hối vì đã phụ bạc với chúng ta.

Dù là người đã làm chúng ta vui hay buồn thì hôm nay họ vẫn đang cần chúng ta “xin hãy nhớ đến họ”. Nhớ đến họ như xưa khi còn sống chúng ta nhớ đến nhau: có cái ăn, có niềm vui, có nỗi buồn cũng chia sẻ cho nhau, thì hôm nay họ càng cần chúng ta nhớ đến họ để giúp họ vượt qua biển lửa luyện tội để bước vào thiên đàng. Nhớ đến họ để van xin lòng thương xót của Chúa cứu họ khỏi nơi tối tăm luyện tội mà đưa vào ánh sáng tình thương.

Tháng 11 thật quý giá. Quý giá vì nó giúp chúng ta nhớ đến nhau. Nhớ đến người quá cố mà lâu nay vì mải miết làm ăn mà ta đã bỏ quên họ. Nhớ đến họ để làm điều gì đó cho họ. Thiết tưởng điều họ cần chính là cầu nguyện cho họ khỏi sự công thẳng của Thiên Chúa và nhất là đền tạ những thiếu sót trong thân phận con người của họ qua những hy sinh, những việc lành phúc đức mà khi xưa họ đã không làm. Họ đang cần những việc lành của chúng ta để đền bù cho những thiếu sót trong bổn phận của họ.

Xin cho chúng ta biết dùng tháng 11 như là dịp để làm việc phúc đức thay cho các linh hồn tiên nhân và bạn hữu của chúng ta. Xin nhờ những lời kinh, những việc lành của chúng ta mà Chúa nhân lành xót thương cứu vớt họ. Amen


MỌI SỰ RỒI SẼ QUA ĐI

Có ai đó đã  viết rằng:

“Mọi thứ rồi cũng qua
Cái loa rồi cũng hỏng
Nước sôi rồi hết nóng
Đắm say rồi thờ ơ

Thờ ơ rồi cũng qua
Để bắt đầu say đắm
Nước lại đun để tắm
Loa này thay loa kia

Nhớ ngày nào mình còn rất nhỏ bé, thế mà nay đã đi qua nửa đời người. Nhìn những người đi trước họ đã và đang lần lượt từ bỏ dương gian để về cõi trăm năm cuối trời. Nhìn vào biết bao người nổi danh, nổi tiếng thế mà nay cũng vào cõi vĩnh hằng, vì:

“Trăm năm còn cò gi đâu

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”

Ôi cuộc đời thật phù du như hoa sớm nở rồi tàn!

Có một câu chuyện kể rằng: có một ông vua muốn làm bẽ mặt một vị cận thần của mình vốn nổi tiếng thông thái và tài trí. Ông bảo vị quan nhân lễ hội này hãy mang về một vật mà người đang vui nhìn vào sẽ buồn và người đang buồn nhìn vào chắc chắn sẽ vui. Thời gian cận kề, vị quan buồn bã vì chưa tìm được một món vật như thế, ông liền quyết định đi đến nơi nghèo nhất kinh thành, khi đi ngang qua một lão già bán hàng rong, ông dừng lại và hỏi lão có biết một vật như thế không, ông lão bèn đưa cho vị quan ấy một cái vòng.

Vị quan nhìn vào thấy một dòng chữ liền mỉm cười vui sướng. Lễ hội đến, nhà vua hào hứng chắc mẩm rằng tên quan kia sẽ bị một vố bẽ mặc ra trò. Thế nhưng vị quan thông thái ấy ung dung bước vào, cầm theo cái vòng đưa cho nhà vua trước sự ngơ ngác của hết thảy mọi người. Nhà vua hồ nghi, cầm cái vòng lên, nụ cười trên môi, sự hào hứng lập tức tan biến. Thật sự trên đời có tồn tại thứ ấy. Thứ mà người đang vui nhìn vào sẽ buồn và người đang buồn nhìn vào sẽ vui. Chiếc vòng với dòng chữ “Mọi việc rồi sẽ qua.”

Mọi sự rồi sẽ qua đi. Nghe qua sao bẽ bàng! Thế mà nó lại là một sự thật, một chân lý về cuộc sống. Sum họp rồi tan. Như hơi nước kết thành mây rồi cũng rã tan thành cơn mưa giông hòa biến trong không gian. Như cánh hoa rực rỡ mấy rồi cũng khô héo tàn lụi. Cuộc đời con người rồi cũng sẽ qua đi. Không ai ở mãi dương gian. Có sinh, có tử. Có hiện hữu có tan đi. Cho dẫu con người đã cất công tìm kiếm cây thuốc trường sinh nhưng cho đến hôm nay vẫn hão huyền, vô vọng!

Nếu cuộc đời này rồi sẽ qua đi, vậy ta sống ở đời này để làm gì?

Chắc chắn Thiên Chúa không dựng chúng ta hiện hữu một cách vô tình như cây cỏ. Thiên Chúa càng không dựng chúng ta nên một vật sớm nở rồi tàn như vạn vật. Ngài dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài. Ngài cho chúng ta tham dự vào sự sống vĩnh hằng như Ngài. Thế nên, cuộc sống của chúng ta phải là cuộc sống tìm kiếm Ngài và ở trong Ngài. Đừng đánh mất Ngài trong cuộc sống. Đừng quay lưng lại với Ngài chỉ vì những vinh hoa phú quý trần gian.

Nhìn vào những người đang nằm dưới các nấm mồ cho chúng ta hiểu rằng: “mọi sự rồi sẽ qua đi”, nhưng sự qua đi này lại dẫn chúng ta về với Đấng tạo thành, về với Đấng trường sinh bất tử, về với cội nguồn sự sống của chúng ta. Thế nên, điều quan yếu là chúng ta phải tìm kiếm Ngài trong cuộc đời. Đừng tìm kiếm những danh lợi thú mau qua mà đánh mất Ngài. Hãy ở lại trong Ngài nơi cuộc sống dương gian để Ngài cho chúng ta ở với Ngài nơi thiên quốc sau cuộc sống tạm bợ nơi dương gian.

Nhưng đáng tiếc có rất nhiều người đã cố tình đánh mất Ngài để bám vào đồng tiền, vào danh vọng, vào lạc thú. Họ đã vì tiền mà bỏ đạo. Vì danh vọng mà quay lưng lại với Đấng tạo thành. Vì lạc thú mà phản bội với tình yêu của Ngài. Họ quên rằng “mọi sự rồi cũng qua đi” nên vẫn cố bám vào những cái phù du mau qua. Danh lợi thú chỉ như áng mây bay qua cuộc đời, rồi tan biến chỉ còn lại mình phải đối diện với Đấng tạo thành.

Hôm nay ngày lễ các đẳng linh hồn, là dịp để chúng ta nghĩ về thân phận mỏng dòn của mình để sống cho có ý nghĩa. Đồng thời cũng là dịp để chúng ta làm một nghĩa cử cao đẹp cho những người đã khuất. Nghĩa cử mà họ đang cần chúng ta không phải là mâm cao cỗ đầy mà là những lời kinh nguyện, những hy sinh, những việc bác ái mà khi còn sống họ đã thiếu sót với Thiên Chúa và với tha nhân. Hôm nay họ đã bị phiến đá ngàn năm đè bẹp khiến họ không thể làm điều mà họ muốn làm. Họ cần đến chúng ta hãy vì yêu thương mà làm thay cho họ. Hãy cứu độ họ bằng hiến tế mà chúng ta tham dự hằng ngày. Vì:

  • Cuộc sống bon chen họ đã quên thờ phượng Chúa thì nay nhờ thánh lễ chuộc tội của Chúa Giê-su, chúng ta xin đền bù những thiếu sót của họ.
  • Cuộc sống mưu sinh mà họ đã từng lỗi công bình bác ái với tha nhân, thì nay chúng ta hãy làm một việc bác ái nào đó để đền bù lỗi lầm cho họ.
  • Những cuốn hút của danh lợi thú đã khiến họ lao vào vòng xoáy của tiền, tình, quyền mà thiếu sót bổn phận với gia đình, thì nay chúng ta dâng hy sinh việc lành phúc đức để đền bù cho họ.

Mỗi người chúng ta đều có những người thân đã khuất. Mỗi người chúng ta đều cảm thấy những người thân của chúng ta đang cần chúng ta cứu vớt họ. Xin cho chúng ta biết dùng tháng các linh hồn này để cứu độ các linh hồn. Ước gì đây là dịp để chúng ta báo hiếu ông bà tổ tiên và quảng đại với anh em qua cầu nguyện, dâng lễ và thực thi bác ái cho các đẳng linh hồn. Amen


CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI

Trong bài hát “Nối vòng tay lớn”, Trịnh Công Sơn nói lên niềm vui của ngày gặp gỡ những người thân xa cách nhau lâu năm nay được gặp lại. Theo cái nhìn của tác giả, niềm vui gặp gỡ này không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa những con người, mà còn là cuộc nối kết hồn thiêng sông núi, cuộc nối kết giữa người chết với người sống , ông viết rằng : “Người chết nối linh thiêng vào đời và mụ cười nở trên môi”. Quan điểm của tác giả họ Trịnh phát xuất từ một niềm tin nằm sâu trong mỗi con người, đặc biệt người Việt Nam tin rằng : Thác là thể phách còn là tinh anh. Phần chết chỉ là thể phách, là cái xác bên ngoài, phần tinh anh chính là phần còn tồn tại mãi mãi. Cái tinh anh ấy chính là phần hồn trong mỗi con người.

Thưa quý OBACE, chỉ có những người vô thần, vô đạo mới là những người tuyên bố rằng chết là hết, họ là những kẻ không tin sự hiện diện của phần thiêng liêng trong con người mà chúng ta gọi là linh hồn. Nếu chết là dấu chấm hết theo như người vô thần, thì cuộc sống của con người chẳng khác chi con vật, chỉ biết ăn, tranh giành, rồi chết. Nếu con người chỉ có như thế thì việc tưởng nhớ cầu nguyện cho người đã qua đời sẽ chẳng có ý nghĩa gì.

Họp nhau nơi đây trong ngày cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, chúng ta cùng với Giáo Hội tuyên xưng niềm tin của chúng ta về sự sống đời sau, về sự liên đới hiệp thông của các thành phần trong Giáo Hội, gồm các thánh, những người đã hoàn tất tốt đẹp cuộc đời, các linh hồn còn đang phải thanh luyện và những người còn đang chiến đấu trên hành trinh trần thế ; đồng thời nhắc mỗi chúng ta bổn phận thảo hiếu, biết ơn đối với các bậc tiền nhân, những người đã ra đi trước chúng ta.

Niềm tin vào sự sống đời sau là niềm tin đã được Thiên Chúa đặt để trong con người. Từ những dân tộc thiểu số trên núi, trên rừng hoặc những người thổ dân vùng rừng sâu nước độc tại Châu Phi, Nam Mỹ cho đến những người văn minh, đều tin rằng con người có một phần linh thiêng bất tử mà người ta gọi là hồn. Khi hồn không còn kết hợp với xác, thì xác chỉ còn là xác chết. Đối với người Kitô hữu, chúng ta được dạy rằng : Con người là do Thiên Chúa tạo dựng, xác được tạo dựng từ vật chất, còn linh hồn thì do Thiên Chúa trực tiếp dựng nên và trao ban cho mỗi người. Xác là vật chất, nên phải theo quy luật của vật chất, tức là quy luật sinh tử, còn linh hồn là phần thiêng do Thiên Chúa trao ban, nên linh hồn là bất tử.

Con người được Thiên Chúa đưa vào trần gian, và đến một ngày Thiên Chúa muốn, con người sẽ phải từ giã trần gian để trở về với cội nguồn của mình là Thiên Chúa qua ngưỡng cửa của sự chết. Vì thế, chết là một cuộc trở về với Thiên Chúa. Cuộc trở về này là một cuộc trở về trong hân hoan hay trong sợ hãi, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào sự chọn lựa của con người khi còn sống. Nếu hôm nay chúng ta chọn lựa Thiên Chúa, thì ngày trở về, chúng ta sẽ được gặp Thiên Chúa ; trái lại, nếu hôm nay chúng ta từ chối Thiên Chúa, thì ngày trở về, chúng ta không thể gặp được Ngài. Hơn thế nữa, giáo lý Công Giáo cũng chỉ cho chúng ta thấy : Cái chết cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời và nó không phải là điểm cuối cùng, mà sự sống mới là điểm cuối cùng. Chết là thời gian thanh luyện chuẩn bị cho ngày tất cả chúng ta sẽ được sống lại để trình diện Thiên Chúa. Người lành sẽ được hạnh phúc, còn kẻ dữ thì bị án phạt đời đời. Đó cũng là niềm tin mà ông Gióp tuyên xưng một cách chắc chắn : Tôi biết rằng Đấng Cứu độ tôi hằng sống, và ngày sau hết tôi sẽ từ bụi đất sống lại và trong xác thịt tôi, tôi sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa của tôi, và chính mắt tôi sẽ được nhìn ngắm Ngài.

Sự chết có thể lấy đi tất cả mọi sự của con người, nhưng có một điều nó không thể lấy mất của con người, đó là tình yêu và sự hiệp thông. Chính tình yêu và sự hiệp thông làm cho người chết và người sống trở nên gần gũi, gắn bó với nhau. Trong Giáo Hội, sự gần gũi, gắn bó này được gọi là mầu nhiệm Các Thánh cùng thông công. Tức là những người đã được hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa, gọi là các thánh và những kẻ còn ở trần gian và các linh hồn có sự hiệp thông ân sủng với nhau. Mỗi thành phần vẫn có thể liên đời với nhau bằng lời cầu nguyện, bằng sự chia sẻ, sự hy sinh và ân sủng mà Thiên Chúa ban cho. Các Thánh chuyển cầu cùng Chúa cho những người còn sống, những người còn sống thì làm nhiều việc lành hy sinh cũng như cầu nguyện cho các linh hồn, và các linh hồn trong khi đang thanh luyện vẫn có thể cầu xin cùng Chúa cho chúng ta. Niềm tin này được đặt trong niềm tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng Cứu độ và được bảo đảm chắc chắn bởi chính Đức Giêsu, Đấng đã mạc khải cho chúng ta, khi Ngài khẳng định rằng : Tất cả những kẻ Chúa Cha đã ban cho tôi, thì sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, thì sẽ không bị loại ra ngoài… và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.

Chính từ tình yêu và sự hiệp thông mà hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội dành trọn một tháng để nhắc nhở mỗi người hãy nhớ đến những người đã qua đời, hãy làm phong phú tình yêu và sự hiệp thông ngay hôm nay ; đồng thời cũng cảm nhận được tình yêu mà những người thân và những người chung quanh dành cho ta bằng lời cầu nguyện, sự thảo hiếu và lòng biết ơn.

Nhớ đến những người đã qua đời là bày tỏ lòng biết ơn, dâng lời cầu nguyện cho họ. Những người đó có thể là ông bà cha mẹ, là vợ chồng con cái, là bạn bè hoặc những người thân quen mà chúng ta có dịp gặp gỡ. Đứng bên nấm mồ của người thân gợi lên cho chúng ta những tâm tình, những cảm xúc khác nhau. Có thể là sự tiếc nuối vì biết bao điều tốt đẹp đáng lẽ ta có thể làm cho người thân, nhưng ta chưa kịp làm ; đáng lẽ ta có thể yêu thương nhiều hơn, tha thứ thông cảm cho người thân nhiều hơn, nhưng ta đã không làm, mà nay không còn cơ hội nữa. Đứng bên phần mộ của người thân còn có cả sự hối hận và những giọt nước mắt muộn màng, vì khi người thân còn sống, ta đã đối xử quá tệ bạc hoặc thiếu trách nhiệm với người thân thương. Tất cả những tiếc nuối đó sẽ chẳng bao giờ chúng ta có cơ hội để làm lại, nhưng có một điều chúng ta có thể làm là cầu nguyện, làm nhiều việc tốt, việc hy sinh cho những người thân đã qua đời ; đồng thời hãy sống tốt, cử xử thật tốt, thật đầy tràn yêu thương với ông bà cha mẹ, vợ chồng khi họ còn đang sống bên chúng ta, để khi họ ra đi, chúng ta không phải hối hận vì chưa kịp làm gì cho nhau.

Chúng ta thể hiện lòng biết ơn đối với người thân, ông bà cha mẹ qua việc chúng ta xây mồ yên mả đẹp cho các Ngài, dâng lễ cầu nguyện cho các Ngài. Thế nhưng, không thiếu những ngôi mộ rất đẹp, rất mắc tiền mà con cái hoặc những người còn sống làm cho người đã chết, nhưng rồi sau đó, người còn sống không bao giờ nhớ đến người thân và cũng không mấy khi ra thăm ngôi mộ đó nữa, người ta gọi đó là chôn lần thứ hai. Việc xây mồ mả cho ông bà tổ tiên là việc làm tốt, nhưng việc làm tốt hơn là hãy bày tỏ lòng biết ơn ngay khi ông bà cha mẹ còn sống. Hãy yêu thương, chăm sóc ông bà cha mẹ bằng cả trái tim và tình yêu, với lòng hiếu thảo biết ơn, dù các ngài có thay tính đổi nết, dù các ngài đau lâu ốm dài. Đừng bao giờ có những lời nói, cách cư xử gây đau lòng, tủi thân cho các ngài ; đừng bao giờ khinh thường, hắt hủi và vô lễ với các ngài. Vì sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy, hôm nay chúng ta cư xử với mẹ cha thế nào, thì sau này, con cái chúng ta cũng sẽ cư xử với chúng ta giống như thế. Vì vậy, ngay khi cha mẹ còn sống, hãy cố gắng yêu thương, thông cảm và làm cho tuổi già các ngài được hạnh phúc.

Đứng trong nghĩa trang những ngày cuối năm này để mỗi người rút ra được những cảm nghiệm cho riêng mình, để thấy cuộc đời con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc, cũng không còn mang vết tích.. Mới ngày nào còn sống bên nhau, mà giờ đây âm dương cách biệt, mới ngày nào ngang dọc một thời, bao nhiêu dự định, bao nhiêu tính toán, bao nhiêu đất đai tài sản, vui buồn giận hờn… thế mà giờ đây, tất cả đều im lặng dưới nấm mồ và đất thánh này mới thực sư là điểm hẹn của tất cả mỗi người. Nhìn thấy như thế, để ngay từ hôm nay, mỗi người hãy biết loại bỏ những giành giật tranh chấp, loại bỏ những thù oán vụn vặt, để biết sống yêu thương hơn. Hãy sử dụng tốt cuộc sống hiện tại để làm giàu tình yêu thương hơn là làm giàu của cải, vì cuộc đời như nước chảy hoa trôi, chỉ có tình thương để lại đời.

Nhớ đến ông bà tổ tiên không chỉ trong tháng này, mà mỗi ngày, trong gia đình, hãy thể hiện lòng biết ơn bằng cách làm cho gia đình mình thêm ấm cúng hơn, duy trì và bồi đắp, làm cho gia sản tinh thần và đạo đức của tổ tiên để lại được phát triển tốt đẹp hơn nữa. Anh chị em trong gia đình hãy sống yêu thương, bác ái với nhau, đừng vì một vài tấc đất, một vài viên gạch mà làm mất đi tình anh em ruột thịt. Hãy dành những giờ kinh tối sớm mỗi ngày trong gia đình để nhắc nhở cho con cháu, giáo dục con cháu lòng thảo hiếu, biết ơn tổ tiên ông bà qua việc đọc kinh cầu nguyện.

Mỗi người, mỗi gia đình thực hiện như thế, chúng ta sẽ giữ gìn được nề nếp gia phong của gia đình, đồng thời cũng thể hiện niềm tin của mình vào mầu nhiệm các thánh cùng thông công mà chúng tuyên xưng. Amen. 
 

GIÁO HỘI ĐAU KHỔ

Tháng Mười Một được Giáo hội dành riêng để chúng ta nỗ lực chân thành cầu cho các linh hồn nơi Luyện Hình, dịp tốt để thể hiện đức ái Kitô giáo, thể hiện lòng thương xót với người khác và thể hiện tính liên kết của tinh thần “các thánh cùng thông công”.

Tháng Cầu Hồn tím rịm nỗi nhớ thương, khói nhang trầm buồn, nhưng những ánh nến vẫn lung linh niềm hy vọng, tất cả nỗi buồn thương chợt hóa thành niềm hạnh phúc vô thường. Hằng năm, những ngày này có biết bao linh hồn được giải thoát – trong đó có những người thân của mỗi chúng ta nữa. Rồi các ngài bay thẳng về Thiên Quốc hợp đoàn cùng các thánh, cùng được diện kiến Tôn Nhan Thiên Chúa và đời đời chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi.

Khi cầu nguyện, người ta thường cầu cho các linh hồn mồ côi. Thiết nghĩ chẳng có linh hồn nào mồ côi. Có lẽ chữ mồ côi chúng ta hiểu theo phần đời, vì có những người mồ côi theo nghĩa nào đó, có thể họ bị hất hủi, bị bỏ rơi, cô thân, đơn độc. Nhưng về tâm linh, không linh hồn nào mồ côi – kể cả các linh hồn thai nhi. Tại sao? Hằng ngày, trong mọi giờ kinh, đặc biệt là các Thánh Lễ, Giáo hội luôn cầu cho tất cả các linh hồn – thậm chí cầu cho cả người còn sống. Tính liên đới của Giáo hội thật tuyệt vời!

Còn nữa, mỗi khi lần Chuỗi Mân Côi, chúng ta luôn cầu xin nhiều lần: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin đưa các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần đến Lòng Chúa Thương Xót hơn”. Cuối giờ kinh, chúng ta cũng thường đọc Kinh Vực Sâu để cầu cho các linh hồn, tức là không phân biệt linh hồn thân quen hay xa lạ, bất kỳ dân tộc nào. Tại các cộng đoàn tu trì, các giờ Kinh Nhật Tụng (Thần Tụng, Thần Vụ) đều cầu cho các linh hồn. Vâng, không hề có linh hồn mồ côi như chúng ta tưởng.

Có sinh thì có tử. Vì phạm tội mà con người phải chết. Quy luật muôn thuở. Chết là nỗi buồn kinh khủng của con người, là thất bại lớn nhất của con người. Nhưng nỗi u sầu đó trở thành niềm hy vọng đối với những ai tin vào Đức Kitô. Thánh Phaolô đặt vấn đề và giải thích: “Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:3-4). Vâng, như vậy cái chết không phải là “dấu chấm hết”, mà chỉ là “dấu phẩy”, là bước chuyển tiếp sang cuộc sống mới vĩnh hằng. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Chết là sống muôn đời” (Kinh Hòa Bình).

Sự thật kỳ diệu vậy ư? Đúng và chắc chắn như thế. Thánh Phaolô phân tích: “Vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, chúng ta cũng sẽ nên một với Người nhờ được sống lại như Người đã sống lại. Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết thì thoát khỏi quyền của tội lỗi” (Rm 6:5-7). Chết là giải thoát khỏi đau khổ, hoàn toàn có lợi cho chúng ta. Triết lý tâm linh này không hề dễ hiểu nếu không có niềm tin Kitô giáo.

Thánh Phaolô định tín: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người” (Rm 6:8-9). Tử thần chính là ma quỷ. Đoàn âm binh của tướng Luxiphe đành thúc thủ, vì thế chúng cố vùng vẫy như con giun oằn khi bị đạp, như con rắn tìm cách cắn gót chân Đức Maria. Và rồi chúng tìm cách cám dỗ phàm nhân theo phe chúng. Nhưng cuối cùng, chắc chắn chúng sẽ hoàn toàn thất bại.

Cầu cho các linh hồn là dịp để chúng ta nhìn lại thân phận mình mà chấn chỉnh Đức Tin. Có Chúa là có tất cả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23:1). Tất cả đều sẵn sàng như tác giả Thánh Vịnh đã xác nhận: “Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người” (Tv 23:2-3). Thiên Chúa là Chúa Tể càn khôn, chí minh và chí thiện, nơi Ngài chỉ có những gì thánh thiện nhất. Do đó, Ngài cũng chỉ làm những gì tốt lành mà thôi. Sự xấu có xảy ra với chúng ta là TẠI CHÚNG TA!

Có được Vị Chúa như vậy thì thật hạnh phúc, chẳng còn gì phải lo nữa. : “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 23:4-6).

Cô Mác-ta là người đại diện cho cả nhân loại ghi nhận lời hứa của Đức Giêsu Kitô: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11:25-26). Chúng ta may mắn là những người đã tin Ngài, vấn đề còn lại là chúng ta phải cố gắng trung tín với Ngài cho tới hơi thở cuối cùng, dù hoàn cảnh có thế nào.

Để có được sự sống đó, chúng ta phải có Bánh Hằng Sống. Đúng như Chúa Giêsu đã nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống” (Mt 6:51).

Khi nghe nói vậy, người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau vì lời đó không bình thường, khiến họ chói tai. Họ không thể hiểu được Chúa Giêsu có thể cho chúng ta ăn thịt Ngài. Họ không tin vì họ hiểu theo cách thức của phàm nhân. Bình thường thì đúng là không ai ăn thịt hoặc uống máu người, nhưng họ đâu biết rằng với Thiên Chúa thì mọi thứ đều có thể.

Và Chúa Giêsu tái xác định với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống” (Mt 6:52-55). Chúa Giêsu biết điều Ngài nói rất khó hiểu với phàm nhân, thậm chí là không thể hiểu, thế nên Ngài giải thích chi tiết hơn: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Mt 6:56-58).

Hôm đó, chắc chắn cả hội đường Ca-phác-na-um rất ồn ào vì người ta xôn xao bàn tán. Nhưng sự thật vẫn mãi mãi là sự thật. Nếu chúng ta hiện diện lúc đó, chúng ta cũng chẳng hơn gì người Do-thái, nhưng thật may vì chúng ta là hậu duệ, được truyền lại đức tin được kiểm chứng lâu đời.

Các linh hồn nơi Luyện Hình là những người đã từng được ăn Bánh Trường Sinh, Bánh Giêsu, các linh hồn đó sẽ có ngày được sống đời đời sau khi được thanh luyện cho xứng đáng với Thiên Chúa chí thiện. Nhân vô thập toàn, mấy ai vô tội đâu!

Có một loài hoa nhỏ có màu tím buồn: Forget-me-not, Việt ngữ gọi là Lưu Ly Thảo. Ý nghĩa của loài hoa này nói về sự chung thủy của tình yêu đôi lứa. Nhưng với người Công giáo, nó mang một ý nghĩa khác, đặc biệt trong Tháng Cầu Hồn này. Vâng, Lưu Ly Thảo đang nhắc nhở chúng ta về lời kêu cứu tha thiết của các linh hồn nơi Luyện Hình: “Forget-me-not – Xin đừng quên tôi!”.

Khi cầu nguyện cho họ thì lại là chính cầu nguyện cho chúng ta. Đúng như Thánh Phanxicô Assisi nói: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Các linh hồn không tự “cải thiện” mức án, nhưng các ngài vẫn có thể cầu nguyện cho chúng ta. Hy vọng mai đây mỗi chúng ta cũng được phân loại là “chiên” và được nghe Chúa nói: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần gia nghiệp Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ” (Ga 11:25-26).

Tháng Mười Một, chúng ta cùng nhau nhớ lại tâm sự của Thánh Faustina: “Tôi bị thiêu đốt trong lòng bằng lửa yêu mến Chúa và muốn cứu các linh hồn mà tôi cảm thấy mình bị thiêu đốt. Tôi sẽ chiến đấu với ma quỷ bằng Vũ khí Lòng Chúa Thương Xót. Tôi khao khát cháy bỏng là cứu các linh hồn. Tôi đi xuyên qua sức mạnh và hơi thở của thế giới và mạo hiểm đến nỗi các biên giới và các vùng đất hoang vu nhất để cứu các linh hồn. Tôi làm điều này bằng cách cầu nguyện và hy sinh” (Nhật Ký, số 754). Tình yêu lớn lao quá!

Có Chúa là có tất cả, Ngài là Alpha và Omega, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 1:8; Kh 21:6; Kh 22:13). Ước gì chúng ta nói được như Thánh Thomas Aquino, Tiến sĩ Giáo hội: “Lạy Chúa, con chỉ muốn Ngài mà thôi”. Đó mới chính là phần thưởng cao quý nhất và tuyệt vời nhất của chúng ta.

Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, vì cuộc khổ nạn đau thương và máu của Đức Kitô, xin thương tha thứ và cho các linh hồn sớm về hưởng phúc trường sinh muôn đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

 

SỎI ĐÁ CŨNG CẦN CÓ NHAU

Trong ca khúc “Diễm xưa”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết một câu rất triết lý: “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…”. Tại sao sỏi đá lại cần có nhau?

Có lần ghé thăm Chùa Hang ở Long Hương, tôi tình cờ “khám phá” ra ý nghĩa những ca từ đó.

Sỏi và đá không cân xứng nhau chút nào. Đá lớn, sỏi nhỏ. Những viên sỏi nhỏ phải cần tựa vào tảng đá lớn chứ. Nhưng thật lạ lùng, những tảng đá dù lớn cũng cần đến những viên đá nhỏ chèn bên dưới chân để nó vững vàng với thời gian. Đôi khi tảng đá lớn cần điểm tựa nơi viên sỏi nhỏ để đứng vững. Một dáng đá đẹp cũng cần những viên đá nhỏ đỡ

nâng. Như thế, để tồn tại, sỏi đá cũng cần có nhau.

 “Sỏi đá cũng cần có nhau”, phương chi là con người. Người với người sống để yêu nhau. Người sống và người chết cũng luôn cần có nhau.

Mầu Nhiệm Hội Thánh Thông Công là một trong những mầu nhiệm đẹp của tình yêu. Tháng 11 đã về. Người sống nhớ đến những người đã an nghĩ, hiệp thông cầu nguyện, dâng những hy sinh hãm mình, những việc bác ái như là nghĩa cử biểu lộ lòng yêu thương đối với người đã khuất với tình hiệp thông trong Nhiệm Thể Chúa Kitô.

Mỗi khi dâng lễ, đọc “Kinh nguyện Thánh Thể III”, tôi cảm nhận đây là kinh nguyện hiệp thông sâu xa của Đại Gia Đình Hội Thánh vinh thắng, lữ hành và thanh luyện: “Lạy Chúa, chúng con nguyện xin Của Lễ hoà giải này đem lại bình an và cứu độ cho tất cả thế giới. Xin thương ban cho Hội Thánh Chúa trên đường lữ thứ trần gian được vững mạnh trong đức tin và đức mến, cùng với tôi tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng …và Đức Giám Mục… chúng con, cùng toàn thể hàng Giám Mục và giáo sĩ khắp nơi, và tất cả dân riêng Chúa.

Xin Chúa thương nhậm lời cầu của gia đình mà Chúa đã muốn tụ họp trước tôn nhan Chúa đây. Lạy Cha nhân từ, xin thương đoàn tụ mọi con cái Cha đang tản mác khắp nơi về với Cha.

Xin Cha thương đến anh chị em chúng con đã ly trần và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã sống đẹp lòng Cha mà nay đã lìa cõi thế. Xin thương nhận hết thảy vào nước Cha, nơi chúng con hy vọng sẽ tới để cùng nhau tận hưởng vinh quang Cha muôn đời, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con, nhờ Người, Cha rộng ban muôn ơn lành cho thế gian. “. 

Lời kinh tuyệt đẹp, trọn vẹn trong tình yêu hiệp thông.

Giáo hội mở kho tàng ân xá là công nghiệp của Các Thánh để nhường cho các linh hồn nơi luyện tội. Giáo hội khuyến khích tín hữu dâng lễ, lần chuỗi, viếng thăm các nghĩa trang, tảo mộ, cầu nguyện cho các linh hồn. Đó là sự hiệp thông trong đức tin, trong bí tích, trong đức ái, trong cầu nguyện và là mối hiệp thông mật thiết trong đại gia đình Giáo hội.

Trong tương quan “cũng cần có nhau”, đặc biệt là với những người đã qua đời, Kitô hữu được gọi là người “tận tình với sự chết, nhiệt tình với sự sống”.

Mỗi khi thắp nén nhang trên phần mộ người chết, nhìn theo làn khói nhẹ toả bay, ta cũng nâng tâm hồn lên tới Chúa là nguồn sự sống.

Mỗi khi đặt bó hoa tươi trên phần mộ người thân yêu, ta thấy được mùa xuân vĩnh cửu đang bừng lên từ khắp những nấm mồ chung quanh.

Hương khói và những ngọn nến lung linh. Một bầu khí tĩnh mịch trầm lắng và thánh thiện nơi nghĩa trang. Cảnh vắng lặng của một thế giới đang tan thành bụi đất như đang nói về sự rũ bỏ những vướng víu để đạt tới thành toàn viên mãn. Vài người thắp nến trên phần mộ người thân thương, ánh sáng toả ra một vùng nhỏ,toả vào ký ức nhớ những người thân đã khuất bóng.Gia đình cùng đọc kinh rồi im lặng để hình ảnh người đã khuất hiện dần lên trong trí nhớ. Những kỷ niệm lung linh nhập nhoà, bởi hình hài thể phách vật chất không còn nữa. Nghĩa trang là thế giới của tan rã, chỉ có bụi đất và cỏ cây. Những người chết không còn nói năng,ăn uống,đi đứng, cảm xúc,nghĩ ngợi, nổi niềm, không ham muốn, không lo âu, không hoạch định, không gắng sức. Họ đã bước vào cõi đời đời sau khi đã đi qua thế giới hữu hạn. Họ trải qua mùa đông ảm đạm của sự chết để đi vào mùa xuân vĩnh cửu của sự sống thiên quốc. Như hạt lúa gieo xuống lòng đất tuy có bị thối đi, nhưng chính từ trong hạt giống mục nát, một cây lúa mới mọc lên (Ga 12, 24). Con người cũng vậy, chỉ có thể bước vào sự sống đời đời qua ngưỡng cửa sự chết. Chết là điều kiện để triển nở và thành toàn.Chết là một sự thay đổi cách thái hiện hữu ở một mức độ sung mãn hơn. Cuộc sống đời này và mọi sự trong đó chỉ là tạm bợ và tất cả sẽ qua đi, để hướng đến đích điểm của nó. Tiến trình qua đi và hướng đến này được thực hiện bằng sự chết đi – sống lại liên tục trong chính sự sống của vạn vật và con người, trên phương diện vật chất cũng như tinh thần. Trong đó, định hướng thành toàn thì luôn luôn bền vững, nhưng phương cách biến chuyển để thành toàn thì luôn thay đổi.

Thường tình, phải có mùa đông giá lạnh, mới tới được mùa xuân ấm áp.Thường tình, lá cũ phải rụng xuống, mới nảy sinh ra mầm non. Cũng vậy, phải có những khổ đau, phải có sự chết mới có sự sống lại: “Ai yêu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12, 25). Trong mạch thời gian, sự sống và cái chết đổi chỗ lẫn nhau. Sự sống thay đổi chứ không mất đi.

Chúa Giêsu đã đưa ra một chiều kích hiện sinh mới, mở ra cho nhân loại con đường tiến tới chân lý sự sống bằng sự chết mà Người đã thực hiện. Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa đã làm cho mọi cái chết trở thành Tin Mừng của sự sống.

Sự sống mới trong Chúa Kitô sẽ không còn bóng dáng của Thần Chết. Con người thoát khỏi quy luật thông thường của lẽ tử sinh. Toàn bộ con người cả xác lẫn hồn được sống lại. Thân xác tuy đã tan thành tro bụi theo thời gian, nhưng sẽ được biến đổi cách kỳ diệu để chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với linh hồn. Bởi vì: “Ðức Chúa là Thiên Chúa của Tổ phụ Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Ixaác và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, đối với Người tất cả đều đang sống”.

Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết bằng chính cái chết trên Thập Giá và Người đã Sống Lại để trao ban sự sống mới, sự sống của Ðấng Phục Sinh.

Chúa Giêsu đã thắng được những xao xuyến, thắng được những tuyệt vọng. Người đã biến cái hố thẳm hay biển cả mênh mông ngàn trùng xa cách giữa con người và Thiên Chúa thành biển cả tình thương liên kết hiệp nhất Thiên Chúa và loài người.

Thập Giá Ðức Kitô trở nên con đường giao hoà và như chiếc thang nối liền trời và đất, kết hợp Thiên Chúa và loài người.

Từ nay, yếu tính sự chết đã được biến đổi. Sự chết không còn là tang tóc nữa mà đã trở thành Lễ Vượt Qua để tiến tới Vinh Quang Thiên Quốc. Thánh Phaolô viết: “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (1 Cr 1, 12); “Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này bị phá hủy đi, thì chúng ta có nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, ngôi nhà vĩnh cữu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1). Những ai có lòng tin sẽ coi đời sống là một cuộc thử thách, đau khổ sẽ qua đi và chính đau khổ sẽ là phương tiện tiến tới vinh quang.

                                        Cho đến lúc hồn ta trong hơi thở

                                        Vẫn yên vui về cõi chết xa xôi.

                                        Và u buồn là những đoá hoa tươi,

                                        Và đau khổ là chiến công rực rỡ.

                                                  (Chế Lan Viên)

Tin và sống trong ân tình của Chúa Kitô chính là chiến thắng sự chết, chính là đã mang trong mình mầm sống của sự sống đời đời: “Ai sống và tin vào Thầy thì sẽ không bao giờ chết” ( Ga 11, 26; 1 Ga 3, 14 ). Không bao giờ chết chính là không bao giờ mất sự hiện hữu trong tương quan với Thiên Chúa, không bao giờ mất sự sống trong tương quan ân tình với Người.

Niềm tin vào sự sống mai sau đem lại cho nhân loại niềm vui và hy vọng. Niềm tin ấy mang lại ý nghĩa cho cuộc đời và cho mọi sinh hoạt của con người hôm nay. Niềm tin đó thôi thúc mỗi người sống theo Tin Mừng Chúa Giêsu. Niềm hy vọng ấy thôi thúc người đang sống hy sinh cầu nguyện nhiều hơn, siêng năng dâng lễ, làm việc lành phúc đức nhiều hơn trong tháng 11 này để cầu cho những người thân yêu và các tín hữu đã ra đi trước được về quê trời vui hưởng hạnh phúc ngàn thu.

Thiên Chúa dựng nên con người để con người được hưởng hạnh phúc đời này và cả đời sau. Sống là một cuộc hành trình tiến về đời sau. Cần có nhau trong cuộc sống và trong niềm tin để giúp nhau đạt đến hạnh phúc viên mãn.

Về mục lục

.

RA ĐI CŨNG LÀ TRỞ VỀ

Đối với những ai không tin có sự sống đời sau thì sự chết là thảm hoạ khủng khiếp nhất, vì khi sự chết đến, nó sẽ cướp đi tất cả, không những là tất cả tài sản, của cải tiền bạc, công danh sự nghiệp của một đời người, mà còn cướp luôn mạng sống của họ nữa. Thật là một mất mát lớn lao không gì có thể bù đắp được.

Tuy nhiên, đối với những Ki-tô hữu, cái chết không còn bi đát hãi hùng, không phải là một mất mát, nhưng chỉ là một sự trở về: chết là về nhà Cha.

Xin mượn câu chuyện sau đây để minh họa cho chân lý nầy :

Có năm người con đưa tiễn người mẹ yêu quý xuống tàu vượt biển đến một bến bờ xa cách vạn dặm nằm bên kia bờ đại dương bát ngát.

Tàu rời bến, năm người con vẫy tay tiễn biệt mẹ mà lòng tê tái buồn. Họ đứng lặng trên bờ, đăm đăm nhìn con thuyền rẽ sóng đưa mẹ ra khơi cho đến khi con tàu chỉ còn là một đốm trắng li ti và mất hút ở cuối chân trời. Mắt mỗi người đều ngấn lệ vì mẹ đã đi xa, xa thật xa tưởng như không bao giờ trở lại.

Trong khi đó, ở bờ bên kia của đại dương, ông bà ngoại, cậu, dì và nhiều người thân yêu đang tụ tập trên bến chờ đón mẹ về. Và khi những người nầy thấy thấp thoáng từ xa con tàu buồm trắng mà họ tin là có mẹ trên đó, thì họ cảm thấy tâm hồn nao nức mừng vui. Đến khi mẹ vừa ra khỏi tàu, thì ông bà ngoại, cậu dì chạy ra ôm choàng lấy mẹ, mọi người rất vui mừng hân hoan vì đã chờ đợi mẹ rất lâu mà mãi tới hôm nay mới có ngày sum họp.

Thế là việc ra đi của mẹ ở bờ bên nầy lại là sự trở về của mẹ ở bờ bên kia. Sự vĩnh biệt đau thương bên nầy được tiếp nối với cuộc đoàn tụ hân hoan hạnh phúc ở cõi bên kia.

Giáo Huấn của Hội Thánh công giáo cho ta biết sự chết như là con tàu buồm trắng trong câu chuyện trên đây, đưa người ta rời khỏi bờ bến nầy để đưa họ sang bờ bến khác, giúp con người từ giã thế giới tạm bợ đời nầy để bước vào thế giới vĩnh cửu, để được đoàn tụ với Thiên Chúa, với ông bà tổ tiên và thân nhân đã lìa đời trên thiên quốc.

Chính vì thế, qua trích đoạn Lời Chúa trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su an ủi những ai còn ở bờ bên nầy, nghĩa là những người còn sống trên dương gian rằng:  “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14,1-3)

Như thế, Chúa Giê-su về trời không phải để lìa bỏ đoàn con của Ngài côi cút trên dương gian, nhưng đó là Ngài đi trước là để dọn chỗ cho đoàn con trên Thiên đàng và lo liệu cho ngày đoàn tụ, như lời Ngài nói: “Để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14,3)

Như ông bà ngoại, cậu dì trong câu chuyện trên đây chờ mong ngày mẹ về đoàn tụ với họ ở bên kia bờ đại dương, thì Chúa Giê-su cũng mong ước chúng ta, là những người con yêu quý đang lưu lạc chốn dương gian, sớm có ngày đoàn tụ với Ngài trên Thiên quốc. Chính Chúa Giê-su đã bày tỏ ước nguyện nầy qua lời cầu cùng Thiên Chúa Cha:

“Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành.” (Ga 17,24)

Như thế, ngày chết mà người ta gọi là ngày đại hoạ, ngày kinh hoàng, thì đối với người con Chúa, đó lại là ngày đoàn tụ sum vầy. Ngày đó, chúng ta sẽ được “đồng hưởng sự sống đời cùng với Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa; Thánh Giu-se bạn trăm năm Đức Trinh Nữ; các Thánh Tông Đồ và toàn thể các Thánh đã sống đẹp lòng Chúa qua mọi thời đại”, nếu hôm nay ta sống theo Lời Chúa dạy (Kinh nguyện Thánh Thể II). Thật là ngày hạnh phúc vô biên!

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đi trước để dọn chỗ cho đoàn con và mai đây Chúa sẽ trở lại để đưa đoàn con về với Chúa. Xin cho anh chị em tín hữu đã ly trần nhưng còn đang được thanh luyện, sớm thoát khỏi chốn luyện hình để đến nơi Chúa đã dọn sẵn cho họ trên thiên quốc và được đồng hưởng hạnh phúc cùng với ba ngôi Thiên Chúa và triều thần thánh đến muôn đời. Amen.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn