1
10:15 ICT Thứ ba, 22/08/2017
1Chính anh em  là  Muối cho đời,  là Ánh sáng cho trần gian. (Mt 5, 13-14)

MENU

Giáo lý cho người trẻ

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 23


Hôm nayHôm nay : 2645

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 76975

Tổng cộngTổng cộng : 10374031

Nhạc Giáng sinh

Thông tin Online

Hãy kết bạn với


Trang nhất » Tin tức » SUY NIỆM LỜI CHÚA

Các bài suy niệm tuần 16 Thường niên

Thứ năm - 22/06/2017 18:55-Đã xem: 221
Tình yêu giải phóng con người khỏi sợ hãi. Thánh Gioan viết: “Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga 4,18). Tình yêu giúp chúng ta vượt thắng sợ hãi, để không còn sợ hãi nữa.
Các bài suy niệm tuần 16 Thường niên

Các bài suy niệm tuần 16 Thường niên

 

CHÚA NHẬT 16 TN. DỤ NGÔN CỎ LÙNG.

Ý nghĩa dụ ngôn :

Dụ ngôn này cho biết trong các công việc của Nước Thiên Chúa, vẫn có xen lẫn những công việc của ma qủi, mà trong giai đoạn sống ở trần gian, nguời ta không thể nào triệt bỏ hết được, chỉ đến ngày tận thế sự phân định mới rõ ràng. Vì thế, dụ ngôn cỏ lùng có mục đích diễn tả lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa, Ngài chấp nhận tốt xấu pha trộn, đợi đến ngày cuối cùng Chúa mới lấy quyền phân xử.

Lúa và cỏ lùng.

Những hình ảnh trong dụ ngôn này rất rõ ràng và quen thuộc với người Palestine.  Cỏ lùng là một thứ cỏ dại mà nhà nông phải diệt trừ. Lúc còn nhỏ, cây cỏ lùng giống như cây lúa mì nên khó phân biệt hai thứ, cho đến khi cả hai đâm bông thì có thể nhận ra cách dễ dàng,  nhưng lúc đó rễ cỏ lùng và rễ lúa đã mọc quyện vào nhau đến nỗi hễ nhổ cỏ lùng thì lúa cũng dễ dàng bị trốc theo.

Lúa và cỏ lùng không thể tách riêng ra một cách an toàn khi cả hai đang phát triển nhưng cuối cùng chúng phải được tách riêng ra. Cần phải tách riêng chúng ra bởi vì (khác với cỏ lồng vực bên chúng ta) hạt cỏ lùng rất độc, nó gây chóng mặt, đau ốm và hôn mê. Một số lượng nhỏ của nó cũng có thể gây vị đắng khó chịu. Rốt cuộc người ta thường tách riêng nó ra bằng tay.

Ông Levison mô tả diễn tiến như sau : người ta thuê đàn bà lượm hạt cỏ lùng trong lúa trước khi đem đi xay. Theo nguyên tắc thì người ta tách cỏ lùng với lúa mì sau khi đập xong. Người ta bầy hạt lên trên một cái nia to và các bà có thể lựa ra những hạt cỏ lùng có kích thước và hình dáng y như hạt lúa mì nhưng có mầu xám nhạt.

Người tốt và người xấu.

Ánh sáng và bóng tối trong thế giới ta đang sống, thiện và ác trong lòng mọi người, đó là cánh đồng lúa mì mà trong đó cỏ lùng mọc lẫn lộn bên cạnh cây lúa tốt. Còn đối với con người, xấu tốt ở xen lẫn với nhau, vàng thau lẫn lộn, không phân biệt được tốt xấu, hoặc đôi khi đánh giá lầm mà coi người tốt ra người xấu, hoặc người xấu ra người tốt.

Trong Hội thánh và nơi mỗi người có một sự pha trộn thánh thiện và tội lỗi, thiện và ác  đó là điều không tránh được. Hội thánh là thánh thiện tự bản chất, nhưng Hội thánh cũng có những con người yếu đuối và tội lỗi, và chúng ta,  mặc dầu đã nhận nhiều ân sủng qua phép Rửa tội cũng có khuynh hướng phạm tội. Thánh Phaolô đã nói :”Tôi không làm được điều thiện mà tôi muốn, mà điều ác tôi không muốn, tôi lại làm”.

THIÊN CHÚA KIÊN NHẪN CHỜ ĐỢI.

Cách hành xử của con người.

Chúng ta là những con người bất toàn nhưng lại muốn tiêu diệt những kẻ bất toàn vì chúng ta mang một thái độ bất bao dung. Chúng ta cảm thấy khó chịu tại sao trong Hội thánh lại có những kẻ xấu, những kẻ bách hại Hội thánh, gây đau khổ cho nhiều người mà họ cứ sống nhởn nhơ con cá vàng, đôi lúc lại còn may mắn hơn người chịu đau khổ ? Chúng ta thường có thái độ như  những đầy tớ của ông chủ trong Tin Mừng :”Vậy ông có muốn chúng tôi nhổ cỏ đi không”?

Đây là thái độ chung của mọi tín hữu chúng ta. Đó cũng là phản ứng của thánh Gioan Tẩy giả, người đã vẽ nên bức tranh gây ấn tượng về việc Đấng Messia sắp đến :”Tay Người cầm nia. Người rê sạch lúa trong sân : thóc mẩy thì thu vào kho lẫm,còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3,12).  Hụt hẫng vì không thấy cách xét xử của Chúa diễn ra y như mình đã loan báo, nên từ trong ngục tù, Ngài sai hai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu rằng :”Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác “?

Đó là phản ứng ngỡ ngàng của tất cả những ai đã nghe lời Đức Giêsu loan báo :”Nước Trời đã đến gần”, thế mà họ lại chẳng thấy có gì được phác họa giống như sự xét xử vẫn trông đợi khi Nước này tới.(Fiches dominicales, năm A, tr 230)

Cách hành xử của Thiên Chúa.

Phản ứng tự nhiên của con người là muốn tiêu diệt ngay cái xấu, diệt cả con người xấu. Nhưng Thiên Chúa lại có một lối hành xử khác với con người. Theo Tin mừng, đáp lại lời hỏi của đầy tớ, ông chủ nói :”Đừng, cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt… sợ rằng khi nhổ cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa”.

Từ mùa gieo – hình ảnh Nước Thiên Chúa đến – đến mùa gặt kèm theo việc đập lúa – hình ảnh việc xét xử – có một khoảng thời gian : Lúc này đang là thời kỳ lúa lớn lên là thời gian nhẫn nại của Thiên Chúa : nếu Thiên Chúa gớm ghét sự ác, thì Người vẫn cứ phải yêu thương con người – kẻ tội lỗi cũng như người công chính – và Người biết rõ tiềm năng lạ lùng của Lời trong lòng họ.  Ngày thu hoạch mùa và lựa lọc sẽ đến vào giờ của Người ; ngày đó không thể dự đoán trước. Ông chủ nói với các đầy tớ ông rằng :”Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt : hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”.(Fiches dominicales, năm A, tr 231)

Trong Thánh vịnh chúng ta thấy có câu :”Chúa  chậm bất bình và giầu lòng khoan dung”.  Chúa kiên nhẫn đợi chờ con người sám hối. Cỏ lùng thì không có cách nào thay đổi đuợc chỉ chờ đến ngày là thu hoạch cho vào lửa ; còn con người thì khác, con người có thể cải tà qui chính, có thể từ một thằng qủi biến thành một vị thánh.  Trong lịch sự Giáo hội, có biết bao “cỏ lùng”, nhờ ơn Chúa, đã trở nên hạt lúa tốt. Những Augustinô, những Charles de Foucauld, những Ève Lavallìere là những chứng tích sáng chói.

Truyện : Cải tà qui chính

Piri Thomas  có viết một tác phẩm nhan đề :”Hãy xuống những con đường tồi tàn này” Tác phẩm thuật lại việc ông cải tà qui chính từ một người bị kết án tù vì nghiện ma túy và cố tình giết người, cuối cùng đã sám hối để trở thành một tín hữu Kitô gương mẫu.

Một đêm kia, Piri đang nằm trong phòng giam chuẩn bị ngủ. Đột nhiên, anh nghĩ tới tình trạng tệ hại xấu xa mà anh đã gây ra trong đời mình. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt cần phải cầu nguyện. Nhưng anh đang nằm chung với một tù nhân khác tên là Chicô. Nên anh phải đợi cho Chirô ngủ đã, anh mới qùi gối trên sàn nhà và cầu nguyện. Anh kể lại rằng :”Tôi bầy tỏ với Chúa những gì có trong trái tim tôi… Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những thiếu thốn của tôi, những hy vọng và thất vọng… Tôi cảm thấy dường như có thể khóc đuợc… đó là một điều mà bao nhiêu năm nay tôi không thể làm được”.

Sau khi Piri vừa cầu nguyện xong, một tiếng nói đáp lại :”Amen”. Đó là tiếng của Chicô. Rồi Chicô nói nhỏ với Piri :”Tôi cũng tin Chúa”. Thế là hai người bạn tù dốc cạn quá khứ tội lỗi xấu xa và cùng chia sẻ quyết tâm sám hối trở về.  Không biết họ đã tâm sự với nhau bao lâu, nhưng trước khi đi ngủ lại, Piri đã nói :”Chúc Chicô ngủ ngon nhé ! Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa luôn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không ở với Ngài thôi”.

THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA.

Tích cực hay tiêu cực.

Đứng trước tình trạng như thế trong trần gian và trong Giáo hội , chúng ta phải có thái độ nào ? Chỉ có hai thái độ : hoặc là tiêu  cực, hoặc là tích cực. Nếu có thái độ tiêu cực thì cho thế gian này là đồ bỏ đi, một thế giới hư hỏng đầy tội lồi, cứ để cho nó qua đi. Thái độ tiêu cực này làm cho chúng ta tuyệt vọng, không còn tin vào cái gì nữa, chỉ còn biết ngồi mà rủa bóng tối. Chắc chắn Chúa không cho chúng ta có thái độ tiêu cực này.

Chúng ta phải có thái độ tích cực. Thái độ này giúp chúng ta hãy hướng lòng lên, không ngồi đấy mà nguyền rủa bóng tối, mà chấp nhận nó, đồng thời cố gắng đốt lên một ngọn nến. Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ :”Các con là ánh sáng cho thế gian, không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, ngược lại người ấy sẽ đặt trên giá đèn để soi sáng cho mọi người trong nhà. Ánh sáng các con cũng phải tỏa sáng trước thiên hạ như thế”(Mt 5,14-16).

Nhưng một cách thực tế, làm sao chúng ta có thể thắp lên một ngọn nến giữa đêm đen tối tăm của thế giới hôm này ?  Trước hết, chúng ta có thể cầu nguyện. Một thi sĩ đã nói :”Lời cầu nguyện mang lại nhiều điều hơn những điều thế giới dám mơ ước”. Thứ đến và tích cực hơn, chúng ta có thể xắn tay áo lên làm một điều gì đó chống lại sự ác trong thế giới chúng ta.

Tấm lòng khoan dung.

Chúa để người lành kẻ dữ sống chung với nhau là để gây ích lợi cho nhau như lời thánh Augustinô đã nói :”Kẻ dữ người lành đều là con cái Chúa, được Chúa thương yêu tất cả, chúng ta cũng phải thương yêu nhau và phải có thái độ khoan dung”.

Có lần Liên hiệp quốc đã chọn nguyên một năm làm “năm quốc tế về lòng khoan dung” để giảm thiểu khuynh hướng bất bao dung ngày càng gia tăng trong nhân loại. Bao dung là nhân từ, kiên nhẫn chịu đựng những điều xấu của người khác để dần dần tìm cách hoán cải họ.

Kiên nhẫn chịu đựng.

Sự kiên nhẫn mà Chúa khuyên chúng ta phải có là phản ảnh sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Đây không phải là sự cam chịu vô ích là đè nén cơn giận và cay cú thất vọng. Sự kiên nhẫn phải cóù là sự bình thản đợi chờ để kẻ tội lỗi có cơ  may quay trở lại.

Chúa ghét tội nhưng lại yêu tội nhân vì họ còn có thể thống hối để được tha thứ (Rm 2,4). Nếu Chúa không kiên nhẫn với ta, ta sẽ thế nào ?  Ta có cần kiên nhẫn với người gây phiền hà cho ta không ? Nhưng nên nhớ rằng Chúa kiên nhẫn chịu đựng là để giải thoát chứ không phải để dung túng.

 Truyện : Giai thoại về thánh Antôn.

Một hôm thánh nhân nghe tin một người thợ giầy tiến bộ hơn Ngài về đường nhân đức. Lòng hăm hở tiến đức đã thúc đẩy Ngài quyết chí đi tìm người thợ giầy kia để học hỏi cách tu đức của người ấy.

Sau những ngày cố công tìm tòi, Ngài đã gặp được người thợ giầy kia. Thoạt thấy công việc của người thợ giầy, thánh nhân hơi nản lòng, vì thấy sinh hoạt duy nhất của người này là đóng giầy. Nhưng để cho bõ công đi tìm kiếm, thánh nhân đã trao đổi với người thợ giầy kia về lối sống tu đức.

Thánh nhân hỏi người thợ giầy về chương trình sống hằng ngày của người thợ ấy. Người này cho biết một ngày của ông được chia ra làm ba phần như sau :

 – 8 giờ cho công việc của người thợ giầy.

– 8 giờ cho việc cầu nguyện.

– 8 giờ cho việc ăn uống nghỉ ngơi.

Sau khi nghe người thợ giầy nói, thánh nhân nản lòng vì chính Ngài đã dành cho hết cả ngày để cầu nguyện chứ không phải chỉ tám tiếng.

Thánh nhân hỏi cách xử dụng tiền của ông ta. Người này cho biết 1/3 dành cho ông, 1/3 dành cho Giáo hội, 1/3 dành cho người nghèo.

Nghe vậy thánh nhân cho rằng người thợ giầy này không thể nhân đức hơn Ngài được vì Ngài đã dành tất cả của cải của Ngài cho người nghèo chứ không phải chỉ 1/3.

 Cuối cùng thánh nhân khám phá ra người thợ giầy phải sống giữa một thành phố sa đọa, chung quanh đầy những người tội lỗi và gương xấu, và ông thợ giầy đau khổ về chuyện đó, ông không ngớt kêu cầu cùng Chúa cho họ, và ông hằng cầu nguyện cho kẻ có tội chung quanh ông. Và thánh nhân chợt nhận ra rằng đó là điều mà Ngài thua kém người thợ giầy. Ngài thấy rằng Ngài chưa có được sự thao thức về những nỗi khổ đau của những người chung quanh, trái lại, Ngài lại đi tìm cho một mình một cuộc sống an phận với nếp sống ẩn tu.(Cử hành phụng vụ Chúa nhật, năm A, tr 67-68)

Các bài đọc hôm nay dạy chúng ta rằng : luôn luôn có một thế lực thù địch ở trong thế gian, tìm kiếm và chời đợi để phá hủy hạt giống tốt. Kinh nghiệm đời sống chúng ta có hai loại ảnh hưởng và cùng tác động trên đời sống chúng ta : ảnh hưởng giúp cho hạt giống Lời Chúa được nảy nở tăng trưởng và ảnh hưởng tìm hủy hoại hạt giống tốt trước khi nó có thể đâm bông kết trái. Đó là bài học nhắc nhở chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác.

Không có vinh quang nào mà không phải trải qua đau thương, không có vinh dự nào mà không đòi hỏi phải chiến đấu. Bởi đó, khi sống trong trần gian đối diện với cái ác, chúng ta không run sợ đầu hàng, hoặc thất vọng nản chí, nhưng hãy kiên tâm chiến đấu để luôn đứng vững trong hàng ngũ con cái Chúa, rồi chắc chắn Chúa sẽ đội mũ triều thiên cho ta. Trong khi chiến đấu với cái ác, chúng ta cũng phải luôn có cái nhìn bao dung với những người tội lỗi, phải có lòng quảng đại, biết cảm thông, và luôn giúp họ tìm dịp trở về. Có như thế chúng ta mới thực sự là những Kitô hữu hoàn thiện như người thợ đóng giầy trong câu chuyện trên.

———————————————————————

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN- NĂM A

CHÚA KIÊN NHẪN VÀ KHOAN DUNG- Lm. Carôlô Hồ Bạc Xái

 

DẪN VÀO THÁNH LỄ

Anh chị em thân mến

Ở đời có nhiều chuyện xấu và nhiều người xấu. Chúng ta không thích, chúng ta muốn dẹp sạch những thứ xấu xa ấy đi. Chúng ta còn cầu xin Chúa dùng uy quyền của Ngài để tiêu diệt chúng. Thế nhưng hình như Chúa không nghe lời cầu xin của chúng ta. Sự xấu và người xấu vẫn còn đó. Tại sao thế ?

Chúng ta hãy để ý lắng nghe Lời Chúa giải thích về vấn đề này, và chúng ta hãy xin Ngài chỉ cho chúng ta một cách sống thích hợp trong cuộc đời lẫn lộn tốt xấu này.

GỢI Ý SÁM HỐI

– Tuy bản thân chúng ta đầy khuyết điểm, nhưng chúng ta thường khắt khe với những khuyết điểm của người khác.

– Không ít lần chúng ta nuôi ý muốn làm hại những người có va chạm với mình.

– Có khi chúng ta trách Chúa vì Ngài đã không sớm giải thoát chúng ta khỏi những bất công mà chúng ta gặp phải.

LỜI CHÚA

Bài đọc I (Kn 12,13.16-19)

Các chương 10-19 của sách Khôn ngoan chứa đựng những suy tư về cách hành xử của Thiên Chúa qua những biến cố lịch sử. Dân Chúa đã nhiều lần bị kẻ thù làm khổ. Mặc dù cuối cùng rồi Thiên Chúa cũng giải thoát họ, nhưng họ vẫn ấm ức sao Chúa không ra tay sớm, sao Ngài không tiêu diệt chúng cho hết sạch.

Câu trả lời là : những kẻ thù ấy cũng là thụ tạo của Chúa, cũng được Ngài yêu thương. Cho nên mặc dù Ngài có đầy đủ sức mạnh và uy quyền để tận diệt họ, nhưng Ngài chỉ sử dụng sức mạnh đối với kẻ ngoan cố. Còn đối với những kẻ mà Ngài còn hy vọng họ hoán cải thì Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn chờ đợi họ sám hối để được thứ tha.

Đáp ca (Tv 85)

Tv 85 là lời cầu nguyện của người công chính bị bách hại. Mặc dù thế, tác giả đã thấu hiểu tấm lòng của Thiên Chúa, cho nên một mặt tác giả nài xin “Lạy Chúa, xin nghe lời tôi khẩn nguyện, và quan tâm đến tiếng tôi van nài”, nhưng mặc khác tác giả cũng cầu nguyện cho những kẻ bách hại mình sớm nhận biết tội lỗi của họ, để rồi “Các dân tộc mà Chúa tạo thành, họ sẽ tới, họ sẽ thờ lạy Ngài và họ sẽ ca tụng danh Ngài”.

Tin Mừng (Mt 13,24-43)

– Dụ ngôn lúa và cỏ lùng : dụ ngôn này phản ảnh hai thái độ trái ngược nhau. Thái độ của con người (biểu nhiên nơi các đầy tớ) là bất nhẫn trước kẻ xấu và muốn diệt trừ chúng. Thái độ của Thiên Chúa (chủ ruộng) là kiên nhẫn chờ cho đến thời gian phán xét (mùa gặt) mới ra tay.

– Hai dụ ngôn hạt cải và nắm men : hai dụ ngôn này vừa cho thấy sức phát triển rất mạnh của Nước Trời, vừa nói lên sự kiên nhẫn của Thiên Chúa : Ngài không nóng vội, nhưng kiên nhẫn chờ cho hạt cải thành cây to và nắm men làm dậy cả thúng bột.

Bài đọc II (Rm 8,26-27) (Chủ đề phụ)

Thánh Phaolô nói đến vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc cầu nguyện :

– Vì chúng ta yếu đuối không biết cầu nguyện thế nào cho xứng hợp, nên Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta cầu nguyện.

– Chúa Thánh Thần ở trong chúng ta sẽ cầu nguyện đúng theo thánh ý Thiên Chúa.

– Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong lòng ta một cách rất diệu kỳ “bằng những tiếng than khôn tả”.

GỢI Ý GIẢNG

Khuynh hướng bất bao dung

Có lần Liên Hợp Quốc đã chọn nguyên một năm làm “năm quốc tế về lòng khoan dung” để giảm thiểu khuynh hướng bất bao dung ngày càng gia tăng trong nhân loại.

Bao dung là nhân từ, kiên nhẫn chịu đựng những điều xấu của người khác để dần dần tìm cách hoán cải họ. Bất bao dung là đòi trừng trị ngay những người xấu : một người làm gì đó có hại cho ta, ta trả đũa ngay. Do nóng vội, có khi ta không suy nghĩ kỹ xem biết đâu chính ta có gì sai lỗi nên người kia mới cư xử với ta như vậy. Khi người kia bị ta tấn công, họ cũng có thể cho là bị tấn công oan ức nên lại trả đũa ta. Thế là hai bên cứ leo thang. Thực ra có mấy ai hoàn toàn tốt, cũng như có mấy ai hoàn toàn xấu. Thái độ bất bao dung phát sinh từ suy nghĩ cho mình là tốt, hoàn toàn đúng và người ta là xấu, hoàn toàn sai.

Trên bình diện cá nhân và khu xóm, bất bao dung khiến người ta khó sống chung hòa thuận với nhau. Trên bình diện quốc tế, bất bao dung dẫn đến những cuộc chiến tranh khu vực. Mà xung đột và chiến tranh chẳng mang lại ích lợi gì, chỉ toàn gây hại. Chính vì trên thế giới có quá nhiều cuộc chiến tranh khu vực cho nên Liên Hợp Quốc mới thấy cần đề ra một năm quốc tế về lòng bao dung.

Muốn bao dung thì phải biết mình và biết người : biết mình cũng có lỗi lầm, và biết người cũng có những điều tốt. Muốn lấy cái rác trong mắt người ra thì trước hết phải lấy cái xà trong mắt mình đã.

Cái nhìn thiển cận

Thiển cận là chỉ thấy gần chứ không thấy xa, chỉ thấy bề ngoài mà không thấy bề trong. Do thiển cận nên người ta bất bao dung, mất kiên nhẫn.

Thiên Chúa có thể bao dung và kiên nhẫn vì Ngài vừa thấy hiện tại vừa thấy tương lai, vừa thấy bề ngoài vừa thấy bề trong.

Lành dữ cộng sinh

Nghe bài dụ ngôn “cỏ lùng” hôm nay, có người sẽ lấy làm lạ. Trong cuộc sống, làm gì có một nhà nông nào lại để lúa và cỏ lùng cùng tồn tại trong ruộng mình ! Nhưng dụ ngôn là dụ ngôn, nghĩa là một cách nói ví von bóng gió để làm sáng tỏ một vấn đề.

Vấn đề của dụ ngôn là lành dữ cộng sinh và lòng nhân từ cũng như sự nhẫn nại của Thiên Chúa. Kinh xưa có câu : “Hỏi kẻ lành là ai, kẻ dữ là ai ?” Chúng ta ưa thích phân biệt lành dữ, chánh tà, trắng đen rõ rệt. Chánh phải loại trừ tà, lúa tốt phải được chăm sóc, cỏ dại phải nhổ đi. Cái lý đo nhiên là vậy. Rất đơn giản. Nhưng cuộc sống không đơn giản như vậy.

Trong cuộc sống, có những lúc chánh tà không phân biệt rõ rệt. Cỏ lùng mọc chung với lúa tốt. Vả lại, cái mà ta gọi là kẻ dữ không giống như cỏ lùng. Cỏ lùng không thể biến thành lúa nhưng kẻ dữ có thể cải tà quy chánh, có thể hoán cải thành người tốt, nếu xã hội biết kiên nhẫn chờ đợi và tạo những điều kiện cho họ. Vả lại, kẻ lành, nếu không giữ mình, không liên tục làm điều lành, cũng có thể trở thành kẻ dữ. Vậy chẳng ai nên tự phong là lúa tốt, rồi loại trừ, lên án anh em là cỏ lùng. Có lần Chúa đã nói thẳng với những người tự phụ : “Tôi nói thật, bọn thu thuế, bọn gái điếm sẽ vào thiên đàng trước các ông kia đấy !”

Qua bài dụ ngôn, Chúa dạy chúng ta lòng nhân từ, kiên nhẫn, và tin tưởng vào sự lành. Hãy tin rằng sự lành sẽ tuần tự triển khai tốt đẹp, mặc dầu có sự dữ kè bên. Sự lành thậm chí còn có sức cảm hóa được sự dữ. “Kẻ lành” Monica đã cảm hóa được “kẻ dữ” Augustinô và cả hai mẹ con cùng trở nên những vị thánh lớn trong Giáo Hội. (Trích số đặc biệt báo Công giáo và Dân tộc, năm 1998, trang 223-224)

Người đảng viên quốc xã Schindler

Những ai đã từng xem cuốn phim Schindler’s List hẳn đều ghê tởm vai chính của phim đó, tên là Oskar Schindler, một đảng viên Đức quốc xã, đã từng giết hại rất nhiều người.

Thế nhưng nhiều người đã từng biết ông thì lại ca tụng ông như một ân nhân cứu mạng cho hàng ngàn người khỏi bị Đức quốc xã giết. Thậm chí có người còn nói : “Ông ta là cha, là mẹ và là niềm hy vọng độc nhất của chúng tôi”.

Sự thật là thế nào ? Sự thật, Oskar Schindler không phải là một vị thánh, mà là một con người với nhiều dằng co mâu thuẫn : trước hết ông là một người chồng bất trung đã bỏ vợ và chạy theo một cuộc sống ăn chơi thác loại ; ông cũng là một người công giáo nhưng lại không sống đạo ; ông là đảng viên đảng Quốc xã Đức từng tích cực ủng hộ cuộc chiến tranh do đảng này phát động ; chính ông đã thú nhận rằng ông hy vọng khi chiến tranh thắng lợi thì ông sẽ có hai cái rương đầy vàng ; ông còn hành hạ nhiều người do thái….

Nhưng bên trong ông lại có một con người khác. Đó là một người tốt. Nhiều lần đang cư xử như một người xấu, ông lại hướng về bên trong con người tốt ấy. Thấy những từ nhân bị hành hạ tàn nhẫn, ông không chịu nổi và nhiều lần dám đứng lên bênh vực họ. Hai lần ông đã bị bỏ tù vì những hành động như thế.

Sự thật về Oskar Schindler là như thế : vừa là quỷ dữ vừa là thiên thần, trong lòng ông vừa có cỏ lùng vừa có lúa tốt.

Trái tim phân chia

Sau nhiều năm phải sống trong trại tập trung, văn hào Alexandre Solzhenitsyn đã nghiệm ra được những ý tưởng sau :

Tôi đã học được một bài học lớn nhờ những năm bị giam trong tù.

Tôi đã hiểu một người trở thành xấu như thế nào và một người trở nên tốt như thế nào.

Tôi đã dần dần nhận ra rằng đường biên giới phân chia giữa tốt và xấu không nằm giữa các nước hay các giai cấp hay các đảng phái chính trị, mà nằm ngay trong lòng mỗi người.

Ngay trong những trái tim ngập tràn sự ác vẫn còn sót lại một đầu cầu nhỏ nối với sự thiện.

Và ngay trong trái tim tốt nhất của các trái tim vẫn còn tồn tại gốc rễ sự ác.

Lời cầu nguyện khi đến mùa gặt

Khi đến mùa gặt, rơm rạ bị để qua một bên, trấu bị gió thổi đi, cỏ dại bị quăng vào lửa, và lúa tốt được cất vào kho.

Lạy Chúa, khi đến ngày chết của con, mùa gặt của đời con cũng diễn ra trước mặt Chúa.

Xin bàn tay khôn ngoan của Chúa hãy sàng sẩy và chọn ra những gì đáng giữ lại ; nhưng đối với những gì không đáng giữ lại, xin hãy thổi đi bằng hơi thở nhân từ của Chúa.

LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Thiên Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, chậm bất bình và giàu lòng khoan dung. Người luôn kiên nhẫn đợi trông kẻ có tội ăn năn trở lại. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1- Hội Thánh luôn tạo điều kiện thuận lợi / để kẻ tội lỗi luôn có thể quay về với Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các kitô hữu / biết nhận ra tình thương của Hội Thánh là mẹ chúng ta.

2- Ngày nay / người tốt kẻ xấu vẫn còn sống lẫn lộn ngay trong lòng Hội Thánh / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử / kiên nhẫn cảm hóa những kẻ tội lỗi / bằng chính tình thương tha thứ của Đức Kitô / Vị Mục Tử nhân lành.

3- Cuộc sống trần gian ngày hôm nay / quyết định số phận mai ngày của người kitô hữu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi tín hữu / biết luôn cố gắng sống bác ái yêu thương / tận tuỵ phục vụ trong khiêm tốn / để trở nên muối ướp mặn đời / và ánh sáng cho trần gian / Nhờ đó họ sẽ được Chúa ; tưởng thưởng trong ngày phán xét chung.

4- Ngay trong chính bản thân mỗi người / vẫn hiện diện song song hai khuynh hướng tốt và xấu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn xứ đạo chúng ta / luôn biết chế ngự thói xấu bằng cách cố gắng sống theo Lời Chúa dạy / siêng năng lãnh nhận các bí tích hòa giải và Thánh lễ / đồng thời tuân theo lời giáo huấn của Hội Thánh.

CT : Lạy Chúa, chúng con thường hay xét đoán người khác rất khắc khe mà hầu như quên xét lại chính bản thân mình. Xin giúp chúng con biết can đảm dứt khoác với tật xấu này, để chúng con có thể noi gương Chúa mà sống nhân từ với mọi người hơn. Chúng con cầu xin nhờ…

————————————————————————–

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN-  NĂM A

TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN – ĐTGM. Jos Ngô Quang Kiệt.

 

Dụ ngôn cỏ lùng là một trong những dụ ngôn hiếm hoi được chính Chúa giải thích rõ ràng. Giải thích của Chúa giúp ta có những hiểu biết hữu ích cho đời sống đạo.

Dụ ngôn nhắc nhớ ta về sư hiện diện của ma quỷ. Ma quỷ hiện hữu. Chúng luôn có mặt để gieo rắc sự xấu. Chúa đã chuần bị những thửa ruộng tốt. Những thửa ruộng đó là thế giới, là Giáo hội, là tâm hồn mỗi người. Chúa đã gieo những hạt giống tốt. Hạt giống đó là Lời Chúa, là ơn Chúa, là những thiện chí, những ý hướng cao đẹp trong tâm hồn con người. Nhưng ma quỷ lén gieo vào những hạt cỏ xấu.

Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hoà bình. Đẹp biết bao nếu mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng buồn thay, cánh đồng hoà bình tươi xanh đã bị những ngọn cỏ tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sự thế giới được ghi bằng những trang buồn vì không ngày nào không có chiến tranh.

Thế giới sẽ đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần xây dựng. Nhưng buồn thay, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc huỷ hoại, tha hoá, nô lệ hoá con người.

Ngay trong bản thân mỗi người, không thiếu những sáng kiến, những hoạt động ban đầu xem ra tốt đẹp, nhưng dần dà vị vẩn đục vì những biến tướng nặng mùi trần tục như khoe khoang, tìm hư danh, tìm lợi lộc.

Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt.

Tuy nhiên, dụ ngôn cho thấy sự kiên nhẫn và lòng bao dung của Chúa. Chúa đợi cho đến ngày tận thế mới thu lúa cùng với cỏ lùng. Chúa kiên nhẫn đợi chờ vì hi vọng những người tội lỗi ăn năn sám hối. Chúa bao dung tha thứ không nỡ phạt người tội lỗi tức khắc. Chúa yêu thương, tin tưởng người xấu sẽ có ngày nên tốt. Nếu phạt ngay nhưng người tội lỗi thì ta đâu còn cơ may được chiêm ngưỡng ông thánh trộm lành. Nếu Chúa thẳng tay thì ta đâu có thánh nữ Madalêna, Tông đồ của các Tông đồ, thánh Augustinô, Tiến sĩ lừng danh, thánh Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại. Nếu Chúa chấp tội thì bản thân ta sẽ là người bị phạt đầu tiên, vì trong ta cũng đầy những tội lỗi, những sự xấu. Trong tâm hồn ta cỏ lùng vẫn mọc xen với lúa tốt.

Sau cùng, dụ ngôn cho ta hiểu tất cả là hồng ân của Chúa. Có sự lành để ta hiểu biết và yêu mến sự tốt lành của Thiên Chúa. Có sự dữ để ta gớm ghét tránh xa và càng thêm gắn bó với sự lành. Có sự lành để ta được hưởng niềm an ủi ngọt ngào của Chúa. Có sự dữ để ta phấn đấu vượt qua, chứng minh lòng trung tín của ta với Chúa. Có thuận lợi tiến bước trên đường thánh thiện. Có khó khăn để ta rèn luyện thêm đức.

Mọi sự đều nên tốt cho kẻ lành. Thật vậy, việc cấm đạo là sự dữ. Nhưng nhờ đó mà Giáo hội có được những chứng nhân anh hùng. Đau khổ và bệnh tật là những khiếm khuyết trong cuộc sống, nhưng lại giúp con người được thông phần đau khổ với Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã nhìn thấy tất cả là hồng ân của Chúa. Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Khi gặp những người xấu trong xứ đạo, trong hội đoàn, bạn có muốn khai trừ người đó ngay tức khắc không?

2) Trong con người bạn có những khuyết điểm, những bệnh tật, bạn có phấn đấu khắc phục những khuyết điểm, vượt qua bệnh tật để thăng tiến bản thân không?

3) Chúa đã khoan dung, kiên nhẫn đợi chờ bạn ăn năn hối cải. Bạn có biết kiên nhẫn với người khác?

———————————————————————–

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN- NĂM A

HÃY ĐỂ CỎ LÙNG VÀ LÚA MỌC LÊN ĐẾN MÙA GẶT-  Lm. Phêrô Lê Văn Chính

 

Chúa nhật tuần này trở lại với dụ ngôn về Nước Trời với hình ảnh người gieo giống, nhưng với một khía cạnh chuyên biệt hơn: phải nhổ cỏ để bảo vệ lúa hay để cỏ lùng lớn lên chung với lúa. Khi công việc  gieo hạt giống vừa xong thì kẻ thù, lợi dụng lúc chủ nhà đang ngủ, liền gieo cỏ lùng vào ruộng. Khi lúa bắt đầu mọc thì cỏ lùng cùng mọc và lớn lên chung với lúa. Cách làm thường tình của nghề nông là phải diệt sạch cỏ để lúa có thể lớn lên. Người ta phải thuê thợ nhổ sạch cỏ trong ruộng, đó là cách giải quyết nhanh gọn và hiệu quả. Thế nhưng, khi các đầy tớ đến trình bày sự việc với chủ là có nhiều cỏ lùng xuất hiện giữa lúa và xin phép chủ đi nhổ cỏ, thì đã nhận được quyết định của chủ là để cho cỏ lùng lớn lên chung với lúa cho đến mùa gặt. Lý do giải thích của chủ là sợ rằng khi các đầy tớ nhổ cỏ thì họ sẽ nhổ luôn cả lúa. Đồng thời chủ cũng giải thích thêm rằng đợi khi mùa gặt, thì sẽ nhổ cỏ lùng trước, bó lại và đốt đi, sau đó sẽ thu lúa vào kho. Rõ ràng cách hành xử của chủ khác lạ so với cách làm việc của người nông dân bình thường. Bổ túc cho giải thích về Nước Trời còn kèm theo hai dụ ngôn ngắn khác là dụ ngôn hạt cải và nắm men trộn trong bột. Hạt cải nhỏ hơn hết trong mọi thứ hạt giống, nhưng khi lớn lên thì thành cây to và chim trời có thể đến nương náu ; nắm men trộn trong đấu bột, tuy nhỏ bé, nhưng đủ sức làm cho đấu bột dậy lên.

Dụ ngôn chỉ dùng một số hình ảnh của đời sống con người, chen vào đó là những điều rất mới mẻ mà Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh. Hình ảnh được sử dụng với những nét mới mẻ diễn tả mầu nhiệm Nước Trời. Thiên Chúa chính là người chủ ruộng, và Chúa Giêsu là người gieo hạt giống, ruộng là thế gian, mùa gặt là ngày tận thế, lúa tốt là con cái Nước Trời, cỏ lùng là con cái gian ác. Người chủ ruộng Nước Trời sẽ hành xử một cách hoàn toàn mới mẻ và quyết đoán, ông để cho cỏ lùng lớn chung với lúa, và nhẫn nại chờ đợi cho tới mùa gặt rồi mới phân tách và chọn lựa : lúa thì được cất vào kho và cỏ lùng thì bị đốt đi. Trong dụ ngôn này, ngoài phần trình bày dụ ngôn còn có lời giải thích dụ ngôn có tính cách ẩn dụ. Tức là những yếu tố trong dụ ngôn là hình ảnh được giải thích như diễn tả một ý nghĩa nào đó, chẳng hạn ruộng được hiểu là thế giới, hạt giống tốt là những con cái Nước trời, cỏ lùng là con cái ma quỉ, mùa gặt là ngày tận thế. Cách giải thích này có ưu điểm là giải thích hết mọi yếu tố của dụ ngôn cách rõ ràng dễ hiểu, nhưng mặt khác cũng giới hạn ý nghĩa của dụ ngôn vào trong một ứng dụng xác định. Như thế, dụ ngôn về cỏ lùng trong ruộng được hiểu về ngày tận thế khi người lành được thưởng và người ác bị luận phạt. Thế nhưng, ngoài ý nghĩa này, chúng ta còn có thể đưa ra những giải thích khác chẳng hạn từ dụ ngôn này chúng ta có thể nhìn thực trạng của Giáo hội thời thánh Matthêu,và có thể cũng là hình ảnh cộng đoàn chúng ta, bao gồm vừa những thánh nhân cũng như tội nhân. Sự hiện diện của Nước Trời ở giữa chúng ta không loại trừ sự hàm hồ lẫn lộn những cỏ lùng tội nhân nơi đó ân sủng của Thiên Chúa chưa hoàn toàn chiến thắng. Như thế, dụ ngôn này muốn nói lên thực trạng khá thất vọng như thế đó. Những dụ ngôn khác về hạt cải và chút men trộn trong đấu bột nói lên chiều kích xem ra có vẻ bề ngoài vô nghĩa của Nước Trời khi mà chúng ta lại muốn hy vọng điều gì đó rõ ràng quyết định. Tuy nhiên, mặc dù khởi đầu nhỏ bé khiêm tốn, sự phát triển lớn mạnh của Nước Trời là  không thể thay đổi và kết quả rất là đảo lộn.

Trong các dụ ngôn về Nước Trời này, điều chúng ta có thể nhận thấy là thành quả của Nước Trời luôn được bảo đảm dù có gặp nhiều trở ngại từ nhiều phía như kẻ thù và cỏ lùng. Sự bảo đảm này phát xuất từ phía Thiên Chúa là Ðấng luôn quan tâm chăm sóc, nhìn thấy hết mọi sự, đồng thời lại rất nhân từ nhẫn nại, xét đoán khoan dung, và khoan hồng tha thứ, cũng như rất công chính ngay thẳng khi phân tách người công chính với tội nhân. Bài đọc sách Khôn ngoan nhấn mạnh nhiều khía cạnh công minh nhân từ hiền hậu của Thiên Chúa để chúng ta tin tưởng và can đảm sống ngay thẳng theo thánh ý Thiên Chúa. Đối với Thiên Chúa, chúng ta không nên bi quan thất vọng buông xuôi trong tội lỗi mà phải sáng suốt trong mọi hành động của mình, bởi vì Thiên Chúa nhẫn nại và khoan dung là để chúng ta hoán cải và đổi mới. Đồng thời, khi đối diện với những tội lỗi và sự ác thắng thế trong thế giới, cũng như nơi chính bản thần mình, chúng ta cũng không nên hùa theo tỗi lỗi và sự ác mà phải tỉnh táo kiên nhẫn để tự bảo vệ chính mình và lớn lên trong mọi nghịch cảnh.

Cả ba dụ ngôn của Tin mừng ngày Chúa nhật hôm nay đều có kết luận hướng về tương lai. Chỉ trong mùa gặt mà cỏ lùng mới bị thu lại và đốt đi, còn lúa tốt thì thu gặt lại và cất vào kho. Còn trong thời gian hiện tại, Nước Trời chấp nhận sự hiện diện của lúa và cỏ lùng. Hạt cải nhỏ bé được gieo xuống, nhưng trước khi chim trời có thể đến nương náu, nó cần phải lớn lên. Chút men được trộn vào trong bột, nhưng nó phải dậy lên để có thể nấu bánh. Mỗi dụ ngôn đều nói về một tiến trình đã khởi đầu nhưng kết quả thì còn phải chờ đợi ở tương lai. Với Chúa Giêsu, Nước Trời đã được khai mào, nhưng chưa được hoàn tất trọn vẹn.

Cả ba dụ ngôn này đều đặt việc Phán xét của Thiên Chúa vào viễn tượng tương lai: Thiên Chúa không xét xử tức thì lúc này, bài đọc thứ nhất nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa luôn nhẫn nại và bao dung nhân từ, và đây là nền tảng để chúng ta hy vọng. Thiên Chúa “quyền năng” lại được hiểu là nguồn của sự công chính. Vì thế, quyền năng của Thiên Chúa được thực hiện một cách hoàn toàn khác với cách thế của chúng ta, quyền năng toàn vẹn nên Thiên Chúa nhẫn nại chờ đợi sự hoán cải của chúng ta. Ðiều này được mô tả trong dụ ngôn lúa và cỏ lùng trong đó chủ đã khuyên các gia nhân không được nhổ cỏ lùng mà phải chờ cho chúng lớn lên chung với lúa. Như thế, nơi mỗi người chúng ta, chúng ta có thời gian để hoán cải, để làm cho hạt giống tốt được lớn lên trong tâm hồn mình.  Nhiều khi chúng ta có khuynh hướng sợ hãi ngày Chúa phán xét. Chúng ta nghĩ mình là những cỏ lùng sẽ bị thiêu đốt và quả thật, trong đời sống hằng ngày, nhiều lần chúng ta đã sa ngã, không sống theo những đòi hỏi của Lời Chúa. Thế nhưng, nhịp sống của mầu nhiệm phục sinh, chết và sống lại, mời gọi chúng ta nhìn xa hơn những thời điểm hiện tại để nhìn thấy những khả năng hoán cải trong đời sống của chúng ta, để tin vào lòng nhân từ nhẫn nại của Thiên Chúa, và để mở rộng tâm hồn trước lòng nhân từ yêu thương của Thiên Chúa. Cỏ lùng sẽ lớn lên. Nhưng Thiên Chúa luôn nhẫn nại. Nếu chúng ta nhớ rằng hạt giống tốt vẫn mọc lên cùng với cỏ lùng, và hạt cải nhỏ bé đang vươn lên cũng như chút men đang âm thầm làm cho khối bột dậy lên, thì chúng ta hãy tin tưởng hy vọng sự sống bên kia cái chết. Ðây chính là mầu nhiệm vượt qua mà chúng ta vẫn cử hành hằng ngày qua mầu nhiệm khổ nạn phục sinh của Chúa lôi kéo chúng ta theo vận hành hoán cải và đổi mới.

Một thái độ khác chúng ta cần phải lưu ý, đó là nhiều người có lương tâm quá sức dễ dãi,cho rằng không cần quan tâm nghĩ tới việc Thiên Chúa phán xét. Những thái độ này cần phải được sửa chữa, bởi vì thời gian nhẫn nại của Thiên Chúa đồng thời cũng là thời gian bất ngờ. Thiên Chúa viếng thăm chúng ta vào lúc bất ngờ nhất, và khi đó chúng ta phải sẵn sàng để được đón nhận như là lúa tốt được gặt vào kho. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta Thiên Chúa vẫn hằng ban Thánh Thần để nâng đỡ hành trình của chúng ta. Thánh Thần Chúa vẫn được ban cho chúng ta như sức mạnh để chúng ta có thể lớn lên, giúp chúng ta có đời sống cầu nguyện nội tâm vững vàng trước những khó khăn của ruộng lúa thế gian với nhiều cám dỗ. 

—————————————————————————

CHÚA NHẬT  XV ITHƯỜNG NIÊN- NĂM A

THÁNH THIỆN VÀ TỘI LỖI– Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 

“Ðến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.”(Mt 13,30)

Bài Tin Mừng hôm nay gồm ba dụ ngôn. Một dụ ngôn dài và hai dụ ngôn ngắn. Dụ ngôn dài được chính Chúa cắt nghĩa. Chúa cắt nghĩa cho các môn đệ nhưng cũng là cắt nghĩa cho chúng ta. Chúng ta cố gắng tìm hiểu cả ba dụ ngôn xem Chúa muốn nhắn nhủ gì với chúng ta.

-Chúng ta bắt đầu với dụ ngôn hạt cải: “Nước trời giống như một hạt cải”(Mt 13,31)

Qua dụ ngôn này Chúa muốn nói với chúng ta về sự phát triển và trưởng thành của Giáo Hội.

* Như một hạt cải thật nhỏ bé được gieo vào lòng đất nhưng khi nó lớn lên nó có thể trở thành một cây thật lớn.  Đức Ông Đạo hồi còn ở Roma có gửi cho tôi một ít hạt cải ở Đất thánh. Nó thật nhỏ bé. Tôi có cảm tưởng như nó chỉ bằng một phần tư viên bi ở đầu mỗi cây viết Bic chúng ta sử dụng hằng ngày. Thế nhưng khi được gieo vào lòng đất, nó từ từ nảy mầm, phát triển và lớn lên….đến độ chim trời có thể tụ tập nương náu dưới bóng của nó.

* Giáo Hội hay Nước Trời tại thế của Chúa cũng giống như thế.

– Nước trời có một nguồn gốc rất khiêm tốn, bắt đầu từ chính Chúa Giêsu mà cuộc đời của Chúa Giêsu xét về phương diện trần thế thì quả thật chẳng có gì đáng giá và hấp dẫn: Sinh ra nghèo khó, sống cũng khó nghèo, đi giảng đạo thì gặp rất nhiều thất bại, rồi cuối cùng chết như một tên tử tội.

– Sau Chúa Giêsu thì một nhóm môn đệ cũng thật nhỏ bé: Chỉ có 12-13 người nếu kể cả Phaolô. Họ là những người như thế nào thì anh chị em cũng đã quá biết. Vậy mà Giáo Hội cứ tự lớn lên xuyên qua thời gian, trải qua không biết bao nhiêu gian nan khốn khó. Theo lẽ tự nhiên mà xét thì quả thật không hiểu nổi. Vậy mà tới hôm nay Giáo Hội đã trở thành một cây thật lớn, đang làm nơi nương tựa cho biết bao nhiêu con người chúng ta. Chúng ta hãy cám ơn Chúa.

-Nước trời được Chúa ví như men trộn vào bột (Mt 13,33).

* Như một chút men xem ra không có gì đáng chú ý được trộn vào bột…Chúa Giêsu nói đến 3 đấu bột….khoảng chừng 60-70 kilos vậy mà chỉ cần một lượng men thật nhỏ, chúng cũng có thể biến đổi cả một khối lượng bột lớn như thế và làm cho tất cả  được dậy men.

* Tin Mừng Nước trời của Chúa cũng có một sức biến đổi phi thường như thế.

Vào những thế kỷ đầu tiên, khi hạt giống Tin Mừng được gieo vào giữa trung tâm quyền lực của Đế quốc Roma, Hoàng Đế Néron đã thấy được cái “nguy cơ quyền lực của đế quốc có thể bị ảnh hưởng, Ông đã phát động một phong trào trong toàn cõi đế quốc nhằm tiêu diệt hết nhưng người mà ông gọi là theo tên “Kitô”…nhưng rồi ông đã thất bại cho dù là sau đó bao nhiêu bạo chúa ở Roma đã tiếp nối con đường của ông. Sau khi nhìn lại thời gian Giáo Hội bị tàn sát suốt 300 năm, vậy mà Giáo Hội vẫn tồn tại và phát triển, sử gia Tertulliano đã viết lên một nhận xét thật đẹp như thế này: “Hạt máu của những vị tử đạo là hạt giống làm nảy sinh ra những người Kitô hữu khác”

Đó là hai hình ảnh tôi nghĩ là rất đẹp về Giáo Hội hay Nước Trời của Chúa tại trần thế. Thế nhưng bên cạnh hai hình ảnh đẹp đó Chúa lại cho chúng ta thấy một hình ảnh khác chưa đẹp hay không đẹp tí nào.

Nước trời giống như một thửa ruộng vừa có lúa tốt nhưng cũng lại có cả cỏ lùng (Mt 13,24-25).

Về ý nghĩa dụ ngôn này thì chính Chúa đã cắt nghĩa. Ở đây tôi chỉ xin có một vài nhận xét thêm.

Thực tại Nước trời trong giai đoạn trần thế là một thực tại pha trộn. Rõ ràng trần thế nơi chúng ta, những con người đang sống là chỗ chung cho cả con cái của sự  sáng và con cái của sự tối tăm. Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây là ai là người được coi là tốt và ai là người bị coi là xấu. Trong bài dụ ngôn Chúa có nói tới tình trạng không khác nhau gì mấy giữa lúa và cỏ lùng và xem chừng Ngài muốn dành độc quyền về sự phân loại cho Ngài khi Ngài đề cập đến vấn đề ấy chỉ xẩy ra vào ngày phán xét. Lúc đó thì mọi sự sẽ rõ ràng . Rồi cũng trong bài Tin Mừng Chúa có nói tới sự kiên nhẫn của Ông chủ mà Ông Chủ ở đây rõ ràng là chính Chúa. Chúa có ý bỏ ngỏ vấn đề để buộc chúng ta phải suy nghĩ.

Thật khó mà đánh giá được ai là người thực sự tốt trước mặt Chúa và ai là người bị coi là xấu trước mặt Ngài.Những ai đã từng xem cuốn phim Schindler’s List hẳn đều ghê tởm vai chính của phim đó, tên là Oskar Schindler, một đảng viên Đức quốc xã, đã từng giết hại rất nhiều người.

Thế nhưng nhiều người đã từng biết ông thì lại ca tụng ông như một ân nhân cứu mạng cho hàng ngàn người khỏi bị Đức quốc xã giết. Thậm chí có người còn nói: “Ông ta là cha, là mẹ và là niềm hy vọng độc nhất của chúng tôi”

Sự thật như thế nào? Sự thật, Oskar Schindler không phải là một vị thánh, mà là một con người với nhiều dằng co mâu thuẫn: trước hết ông là một người chồng bất trung đã bỏ vợ và chạy theo một cuộc sống ăn chơi thác loạn; ông cũng là một người công giáo nhưng lại không sống đạo; ông là đảng viên đảng Quốc xã Đức từng tích cực ủng hộ cuộc chiến tranh do đảng này phát động; chính ông đã thú nhận rằng ông hy vọng khi chiến tranh thắng lợi thì ông sẽ có hai cái rương đầy vàng; ông còn hành hạ nhiều người Do thái…

Nhưng bên trong ông lại có một con người khác. Đó là một người tốt. Nhiều lần đang cư xử như một người xấu ông lại hướng về bên trong con người tốt ấy. Thấy những tù nhân bị hành hạ tàn nhẫn, ông không chịu nổi và nhiều lần dám đứng lên bênh vực họ. Hai lần ông đã bị bỏ tù vì những hành động như thế.

Sự thật về Oskar Schindler là như thế: vừa là quỷ dữ, vừa là thiên thần, trong lòng ông vừa có cỏ lùng vừa có lúa tốt.

Pascal nói: “Thường thì chúng ta hay phân chia con người ra thành hai dạng: Những người thánh thiện và những kẻ tội lỗi. Tôi không dám nói sự phân biệt như thế là sự phân biệt không có cơ sở, nhưng tôi cho rằng sự phân biệt như thế là sự phân biệt rất tương đối và đôi khi có thể là một ảo tưởng. Chính nơi bản thân mỗi người chúng ta, chúng ta thừa kinh nghiệm để thấy rằng sự thánh thiện và tội lỗi đang cùng có mặt ngay trong mỗi người chúng ta”

Chỉ có lòng nhân từ của Thiên Chúa mới có thể giúp chúng ta lớn lên trong ân nghĩa với Ngài và Ngài đang chờ đợi chúng ta như Ông chủ ruộng lúa đợi mùa gặt của mình.

Lạy Chúa xin cho chúng con biết sống bao dung như Chúa vì Chúa vừa thấy được cả hiện tại lẫn tương lai, thấy được cả bề ngoài và thấy được cả bề trong.

Và khi cuộc đời của chúng con khép lại, xin bàn tay khôn ngoan của Chúa hãy sàng sẩy và chọn ra những gì đáng giữ lại; nhưng đối với những gì không đáng giữ lại, xin hãy thổi đi bằng hơi thở nhân từ của Chúa.

———————————————————————-

CHÚA NHẬT  XVI THƯỜNG NIÊN- NĂM A

CỨ ĐỂ CẢ HAI MỌC LÊN- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Nước Trời là một mầu nhiệm, Chúa Giêsu đã mạc khải và thiết lập trong lịch sử nhân loại. Qua những hình ảnh đơn sơ, bình dị, gần gũi với cuộc sống, Chúa Giêsu đã dùng nhiều dụ ngôn để giảng dạy về Nước Trời.

Chúa nhật trước với dụ ngôn “người gieo giống”, Chúa Giêsu cho thấy Nước Trời đã khai mạc. Cũng như người gieo giống đi gieo hạt trên khắp cánh đồng, Chúa Giêsu cũng gieo hạt giống Lời Chúa. Hạt giống ấy tăng trưởng trổ sinh hoa trái nơi mỗi người ra sao là tùy thái độ đón nhận của từng người ấy.

Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục giảng dạy về Nước Trời bằng dụ ngôn “lúa và cỏ lùng”. Như vậy, sau khi nói đến việc khai mạc Nước Trời, Người nói đến sự phát triển của Nước Trời trong lịch sử trần thế.

Chúa Giêsu đã khởi đầu công trình của Người với một nhóm nhỏ Mười Hai Tông Đồ. Sự khiêm tốn của “hạt cải bé nhỏ được gieo vào lòng đất bao la”. Sự khiêm tốn của “một nắm men bị vùi sâu vào ba đấu bột”. Điều kỳ diệu là “hạt bé hơn mọi thứ hạt giống” lại “trở thành cây cao bóng cả đến nỗi chim trời có thể đến nương náu nơi ngành nó”. Nắm men ít ỏi kia lại có khả năng làm dậy lên cả ba đấu bột chôn vùi nó. Cũng như vậy, Nước Trời sẽ vươn xa vươn rộng cho muôn dân nước đến nương nhờ. Hạt giống Nước Trời đã làm dậy lên cả thế giới bằng một tinh thần mới của Tin Mừng,biến đổi lịch sử trong tình thương và hòa bình.

Một vấn nạn luôn được đặt ra: Nếu Nước Trời đã được Chúa Giêsu thiết lập cách đây hơn 20 thế kỷ và nếu Thiên Chúa là Đấng nhân hậu giàu lòng xót thương thì tại sao cho đến nay cuộc sống con người vẫn đầy dẫy bất công, bạo lực, khổ đau, chiến tranh tương tàn,và xem ra sự dữ có chiều hướng gia tăng ? Đôi khi những người xấu xa tội lỗi gian manh lại giàu có sung túc trong đời sống vật chất hơn những người lành ? Vấn nạn này vẫn luôn là trăn trở khôn nguôi người Kitô hữu ở mọi thời đại ! Dụ ngôn “lúa và cỏ lùng” giải thích vấn nạn ấy.

Cánh đồng được gieo toàn hạt giống tốt.Thiên Chúa đã gieo vào trần thế những con cái Nước Trời. Ban đêm kẻ thù xuất hiện. Satan tới gieo cỏ lùng. Thế là có cảnh lẫn lộn trên trần gian. Người lành kẻ dữ cùng chung nhau một mảnh đất. Đang khi hạt giống được gieo giữa ban ngày thì Satan lại lợi dụng đêm tối khi mọi người đã mất cảnh giác để gieo rắc tội lỗi. Hành động thấp hèn. “Xấu” chưa chắc đã “hèn”, nhưng “hèn” thì chắc chắn là “xấu”, bởi lẽ nhiều tay “giang hồ”, bặm trợn, vẫn rất ghét thói “ném đá dấu tay”, trong khi động cơ, phương tiện và mục đích của những hành động lén lút, luôn là bỉ ổi, xấu xa và hại người.

Thế giới này giống như cánh đồng lúa đầy cỏ lùng xen vào. Những ông thánh sống lẫn lộn với những thằng quỷ, tốt xen lẫn với xấu. Tốt như những tổ chức nhân đạo, nhân quyền, hoà bình thế giới: UNESCO, UNICEP, FAO, OLYMPIC, WORLD CUP là những tổ chức xây dựng văn hoá, giáo dục tình thương bảo vệ sức khoẻ trẻ em, phát triển lương thực thế giới, thăng tiến những tài năng, chăm lo y tế. Nhưng lại có rất nhiều những tổ chức xấu xen vào như Mafia, buôn lậu, ma tuý, vũ khí, khủng bố, trộm cướp, du đãng, buôn bán trẻ em, phim ảnh sách báo đồi truỵ… Đồ thật, hàng tốt bị xen lẫn hàng xấu, đồ giả. Người lương thiện, chân chính bị lẫn lộn với kẻ tham ô, móc ngoặc, bất lương. Những thứ cỏ lùng gai góc đó không bao giờ hết, chỉ đến mùa gặt tận thế chúng mới bị quét sạch, đốt sạch. Tận thế sẽ thiêu đốt tất cả những thứ cỏ lùng đó, những kẻ xấu, kẻ dữ đó. Còn lúa thì được gánh về, chở về kho. Những thánh nhân, những người lương thiện, công chính sẽ sáng chói trong ngày vinh quang đó, họ được rước vào nước hạnh phúc đời đời.

Thấy cỏ lùng xuất hiện với lúa, các đầy tớ đến hỏi ông chủ : “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu ra vậy ?”.Thấy sự dữ tràn lan trên thế giới, bao nhiêu người thắc mắc: sự dữ, sự ác bởi đâu ra ? Chúng ta nhiều lần thấy gian tà thắng ngay lành, bất công thắng công chính. Kẻ ác thắng kẻ thiện, cũng thất vọng kêu trách : Sao Chúa để kẻ dữ sống lâu, mạnh khoẻ, giàu sang, may mắn, còn kẻ lành phải khổ cực trăm chiều?    

Trước những thắc mắc đó, Chúa đáp : “Kẻ thù đã làm đó!” Kẻ thù là ai ? Thánh kinh cho biết có hai thứ kẻ thù : kẻ thù ở trong ta và kẻ thù ở ngoài ta. Kẻ thù ở ngoài ta có những tên khác nhau : con rắn cám dỗ phỉnh gạt (St 3,2.13), con rồng, rắn xưa, quỷ, satan (Kh 12,9), con thuồng luồng Leviathan (Is 27,1), kẻ thù, kẻ chống đối (Mt 13,25; Lc 10,19; 2Cr 6,15). Những kẻ thù này ở ngoài con người, nhưng chúng xâm nhập vào con người sâu hiểm tới độ đồng hoá với bản tính nhân loại. Nhưng chúng sẽ bị “Thiên Thần Chúa từ trời xuống, tay cầm chìa khoá vực thẳm và một dây xích lớn, bắt lấy con rồng, tức là con rắn xưa cũng là ma quỷ satan xích nó… quăng vào vực thẳm, rồi đóng cửa niêm phong lại” (Kh 20, 2-3). Nhưng một mình quỷ thôi, chúng sẽ bất lực như bất lực đối với Thánh Gióp. Chỉ khi có sự tiếp tay của ta như Eva tiếp nó, nó mới thành kẻ thù trong ta : nó trở nên kẻ nội thù ghê gớm. Nó mọc lên những cỏ lùng, bụi gai, đá sỏi, quỷ dữ (Mt 13,18-22). “Vì tự lòng phát xuất ra những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cướp, chứng gian, vu khống” (Mt 15, 19). Khi chủ cho biết kẻ thù làm đó, thì đầy tớ xin nhổ đi, chủ sợ hại đến lúa, nên ông đáp : “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt”. Thái độ của chủ thật khôn ngoan, ông kiên nhẫn chờ đợi đến mùa gặt, mới nhặt cỏ lùng đốt đi.

Có thể trong tâm tưởng nhiều người lại quy gán cho Thiên Chúa trách nhiệm về tình trạng khổ đau đó chẳng khác gì câu hỏi ngày xưa: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Vậy cỏ lùng ở đâu mà ra?” Một câu hỏi không lên án nhưng chứa đựng sự nghi ngờ.

Để trả lời cho vấn nạn đó, Chúa Giêsu đã lấy lại giáo huấn của sách Sáng Thế : Sự ác không đến từ Thiên Chúa. Ngài chỉ gieo hạt giống tốt lành vào mảnh đất người đời. Sự ác cũng không chỉ đến từ tâm trí con người nhưng nó đã có trước đó.Sự dữ cũng là một mầu nhiệm. Đối với Chúa Giêsu, con người là nạn nhân của sức mạnh mà Người gọi là ”Kẻ thù”, là ”Quỷ dữ” như cách diễn tả trong dụ ngôn : “Khi mọi người đang ngũ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng rồi đi mất”. Ở cội nguồn tội lỗi của con người,còn có một sức mạnh luôn tìm cách phá hoại công trình của Thiên Chúa và hành tung của nó rất bí mật. Đó là quỷ dữ lợi dụng đêm tối để gieo rắc tội lỗi rồi trốn đi.Thánh Phaolô đã nói về sự dữ trong thư Rôma : Công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa tốt lành.Satan đã cám dỗ Adam, Eva, Nguyên Tổ sa ngã,tội lỗi sinh ra đau khổ và sự chết rồi nó như con bạch tuộc vươn vòi vào trần thế, con người nô lệ cho tội lỗi và nhận lấy án phạt là sự chết (x.Rm 1,20 -31 ;15,12).Ma quỷ luôn có mặt để gieo rắc sự xấu.

Thiên Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hòa bình. Đẹp biết bao khi mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng thực tế lại đáng buồn thay ! Cánh đồng hòa bình tươi xanh đã bị những cỏ dại của tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sử thế giới được ghi bằng những trang buồn đau vì không lúc nào mà không có chiến tranh.

Thế giới này sẽ tươi đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần chung tay xây dựng! Nhưng thật đáng tiếc,rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc hủy hoại, tha hóa, nô lệ hóa con người. Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt. Lúa tốt và cỏ lùng lẫn lộn trên cùng ruộng lúa. Cái tốt, cái xấu đan xen trong cuộc sống hàng ngày,nhất là trong tâm hồn mỗi người. Ở đó, hạt mầm sự sống và nọc độc sự chết cùng sống chung. Mỗi con người chắc chắn đều có kinh nghiệm bản thân như Thánh Phaolô đã từng kinh nghiệm “Điều lành tôi muốn làm tôi lại không làm, còn điều dữ tôi không muốn làm nhưng tôi lại cứ làm ( Rm 7,19). Con người có tự do để chọn lựa cái đúng cái sai, chọn cái tốt cái xấu. Nước Trời cũng gồm những con người có tự do, thì cũng có những người xấu do chọn lựa sai lầm. Cảm nhận được sự thật ấy trong tâm hồn mình để chúng ta biết khoan dung trong cách nhìn về người khác. Sự khoan dung không đồng nghĩa với đầu hàng cái ác nhưng phát xuất từ niềm tin vững chắc vào sự tất thắng của Nước Trời: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”. Cho dù cỏ lùng có bóp nghẹt lúa tốt trong một thời gian dài, nhưng mùa gặt đến, cỏ lùng sẽ bị gom lại và đốt đi, còn lúa tốt được cất vào kho lẫm.

Cỏ lùng chẳng bao giờ thành lúa tốt được,nhưng người xấu có thể hoán cải để nên người tốt.Thiên Chúa ghét tội lỗi nhưng lại yêu mến tội nhân vì Người chờ nơi họ lòng thống hối để được thứ tha (x.Rm 2,4). Chính vì thế mà Thiên Chúa kiên tâm chờ đợi. Chờ đợi vì Thiên Chúa tin vào sự hoán cải của con người. Chờ đợi vì Thiên Chúa tôn trọng tự do lựa chọn của con người. Chờ đợi vì Thiên Chúa nuôi một niềm hy vọng lớn lao.Thiên Chúa vẫn luôn nhẫn nại đợi chờ cho đến ngày tận thế “ cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt”.

Cỏ lùng và lúa tốt nằm ở trong tim con người. Mỗi người đong đưa giữa cỏ lùng và lúa tốt, giữa cái thiện và cái ác, giữa Thiên Thần và Satan.Tự do chọn lựa là quyền mỗi người.Thiên Chúa vẫn chấp nhận cỏ lùng trong con người. Thiên Chúa nhẫn nại đợi chờ con người thanh luyện dần dần và hy vọng mọi sự trong họ sẽ thành lúa tốt.

Lạy Chúa, xin cho con nhẫn nại và can đảm cùng đi với Chúa và với tha nhân trên những nẻo đường ghập ghềnh cuộc đời, trong thác dốc tâm hồn với tất cả niềm tin và hy vọng. Amen.

————————————————————-

CHÚA NHẬT  XVI THƯỜNG NIÊN- NĂM A

HAI ĐẠO QUÂN – Lm. Trần Ngà

 

Tin mừng hôm nay cho thấy trần gian như một thửa ruộng lớn, trong đó có cả lúa tốt xen lẫn cỏ lùng.

Khi đến trần gian, Chúa Giê-su hoạt động như một người nông dân cần cù gieo hạt. Ngài liên tục gieo vào cánh đồng trần gian những hạt giống tốt như tình yêu thương thuận hoà, tinh thần hy sinh phục vụ… nhằm xây dựng thế giới nầy thành một đại gia đình hoà bình, yêu thương và hạnh phúc. Ngài kêu gọi nhiều người khác đầu quân vào đạo binh của Ngài, để cùng với Ngài tung gieo những hạt giống tốt lành khắp cánh đồng trần gian.

Trong lúc đó, Sa-tan là một thủ lãnh đáng gờm cùng với đội quân của y cũng hăng hái tung vào thế gian vô vàn hạt “cỏ lùng” độc hại, nhằm biến thế giới nầy thành chốn đau thương, chia rẽ, hận thù và huỷ diệt.

Sa-tan và đội quân của y tìm mọi cách để xoá bỏ điều thiện, dập tắt ánh sáng, hòng tôn cái ác lên ngôi và làm cho bóng tối lầm lạc vây phủ tâm hồn mọi người. Một khi con người bị đặt dưới quyền thống trị của điều ác thì nhân loại sẽ điêu tàn; một khi lòng trí con người bị bóng tối lầm lạc bao phủ, họ sẽ sa vào hố sâu của tội lỗi và khổ đau.

Xã hội hôm nay có nhiều dấu hiệu cho thấy đạo quân của Sa-tan đang thắng thế và gây nên nhiều hậu quả thảm khốc: Nếp sống đạo đức đang suy thoái trầm trọng, nạn ly dị gia tăng, hôn nhân đồng tính đang được hợp pháp hoá tại một số quốc gia phát triển, nạn phá thai xảy ra đến mức báo động, nạn buôn người xuyên quốc gia và mãi dâm đang là vấn đề nhức nhối, các án mạng thường xuyên xảy ra với mức độ tàn nhẫn tăng dần, tham ô đục khoét của công trở thành quốc nạn, nhiều người sẵn sàng bán rẻ lương tâm, danh dự, nhân phẩm của mình chỉ vì tham tiền và vô vàn tệ nạn khác đang lan tràn khắp nơi…

Đối lại, Thiên Chúa và đoàn con cái của Ngài cố công vun đắp điều thiện và xua trừ điều ác; cố công biểu dương ánh sáng và tìm cách đẩy lùi bóng tối… để cứu thoát con người khỏi những thảm hoạ do Sa-tan và đạo quân của y gây ra.

Tôi đầu quân vào đạo binh nào?

Trước thực trạng đáng tiếc này, câu hỏi quan trọng mà mỗi người chúng ta cần đặt ra cho mình là chúng ta đang đầu quân vào đạo binh nào? Theo đạo quân của Chúa Giê-su để cùng Ngài gieo rắc những điều tốt hay đạo quân của Sa-tan để phát tán những điều xấu xa?

Gia đình chúng ta cũng là một “thửa ruộng” có cả “lúa tốt lẫn cỏ lùng”, nghĩa là có cả người tốt lẫn kẻ xấu, có những hành vi tốt và những việc làm xấu hoà trộn với nhau.

Đôi khi người cha, người mẹ vô tình gia nhập vào đội quân của Sa-tan để tiếp tay với y gieo vãi những hạt giống cỏ lùng ngay trong ruộng lúa nhà mình mà không hay biết.

Khi người cha chẳng lo làm việc mà cứ nhậu nhẹt say sưa tối ngày, hay văng tục chửi thề… là ông ta đang trở thành lính chiến của Sa-tan để gieo rắc cỏ lùng làm hại con cháu mình.

Khi người mẹ bài bạc quanh năm, lười biếng không làm việc, không quan tâm giáo dục con cái… là bà đang trở thành chiến binh của Sa-tan, tiếp tay với y để gieo vãi những hạt giống cỏ lùng, làm hư hỏng đoàn con như những cây lúa non đang lớn.

Khi người trong gia đình buôn bán gian dối, sản xuất thực phẩm độc hại… nhằm thu lợi cho mình bất chấp thiệt hại cho người  khác… là họ đang trở thành thuộc hạ của Sa-tan, tiếp tay với Sa-tan để làm hại người nhà cũng như những biết bao người khác.

Nói tóm lại, khi chúng ta để cho những động cơ xấu xui khiến mình làm điều tai hại, gây ra gương xấu cho người chung quanh… là chúng ta đã đầu quân vào binh đội của Sa-tan và trở thành chiến binh đắc lực của y.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa là Người gieo hạt giống hoà bình yêu thương và Chúa kêu mời chúng con tiếp nối sứ mạng cao quý đó để hạt giống Tin mừng được gieo vãi khắp nơi.

Chúa là Đấng đem ánh sáng chân lý đến để xoá tan bóng tối lầm lạc vây phủ thế gian và Chúa kêu mời chúng con tiếp tay với Chúa làm cho ánh sáng ấy bừng lên trên khắp thế giới.

Xin cho chúng con trở nên những chiến sĩ nhiệt thành của Chúa để cùng Chúa gieo rắc hạt giống của Tin mừng.

Xin đừng để chúng con vô tình trở thành chiến binh của Sa-tan, tiếp tay với y để gieo rắc những hạt giống độc hại làm hư hỏng gia đình và làm suy đồi xã hội.

———————————————————————-

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN- NĂM A

CỎ LÙNG VÀ LÚA-  Trích Logos A

 

“Nghìn Lẻ Một Đêm” là tập truyện dân gian nổi tiếng của Ả Rập. Tập truyện có nội dung như sau :

Ngày xưa, ở miền đông Ả Rập có ông vua tên Sariya. Vì hoàng hậu ngoại tình nên nhà vua từ một con người hiền lành đã trở nên hung bạo. Vua căm ghét tất cả các phụ nữ. Và để trả thù phụ nữ, mỗi ngày vua cưới một người vợ, qua một đêm chung sống, sáng hôm sau, vua ra lệnh giết chết người vợ ấy. Khắp nơi, dân chúng rên xiết trước sự tàn bạo của ông vua.

Một ngày nọ, có một thiếu nữ tên Sêhêrazat vừa xinh đẹp, vừa giỏi giang, lại có tài kể chuyện, đã tình nguyện vào cung làm vợ vua để cảm hóa vua.

Đi với nàng còn có cô em gái, hai chị em thay phiên kể chuyện cho vua nghe. Mỗi đêm một truyện, đêm này qua đêm khác, truyện nào cũng hấp dẫn, truyện nọ liên quan đến truyện kia, khiến cho vua say sưa lắng nghe không sao dứt được. Cứ thế, suốt trong một nghìn lẻ một đêm, với tài kể chuyện, hai chị em đã cảm hóa được nhà vua, khiến ông quên khuấy việc giết người. Vua thay đổi tính tình, bãi bỏ lệnh bắt các thiếu nữ và cưới nàng Sêhêrazat làm vợ.

“Nghìn Lẻ Một Đêm” giống như một bức thảm Ba Tư tuyệt đẹp, được đan dệt bằng trăm nghìn câu truyện phong phú, vẽ tả một xã hội mà trong đó người tốt kẻ xấu lẫn lộn. Có người đang tốt trở nên xấu. Có người đang xấu trở nên tốt, như câu chuyện nàng Sêhêrazat mà chúng ta vừa nghe.

Câu chuyện dụ ngôn “Cỏ Lùng và Lúa” Chúa Giêsu kể trong bài Tin Mừng theo thánh Matthêu hôm nay cũng diễn tả một thực tại tương tự : trần thế như cánh đồng bao la, trong đó, cỏ lùng và lúa lẫn lộn, người tốt kẻ xấu ở bên cạnh nhau. Tuy nhiên, người chủ ruộng đầy lòng kiên nhẫn, không tiêu diệt cỏ lùng ngay, nhưng chờ đợi đến mùa gặt. Cũng thế, Chúa đầy lòng nhẫn nại và khoan dung chờ đợi người tội lỗi hoán cải để được lãnh nhận tình thương cứu độ của Ngài.

Chúa Giêsu, người chủ ruộng khoan dung.

Chúa Giêsu chính là người chủ ruộng tốt lành. Ngài gieo vãi những hạt giống tốt trên thửa ruộng trần gian. Những hạt giống tốt là Lời Chúa, tình yêu, sự bình an, những ý hướng cao đẹp trong tâm hồn con người.

Nhưng đáng tiếc thay, kẻ thù của Chúa mang khuôn mặt của “cái ác”, là những thế lực của sự dữ, đã lén gieo vào thửa ruộng những hạt giống xấu : đó là mầm mống của tội lỗi, của bạo lực, của những đam mê dục vọng, của những khuynh hướng xấu. Chúng như cỏ lùng mọc lên giữa ruộng và đôi khi lấn át cả lúa tốt.

Nhiều người chỉ nhìn thấy dung mạo của một vị Thiên Chúa công minh chính trực, một người chủ ruộng nóng nảy và nghiêm khắc, mà quên mất Thiên Chúa còn mang khuôn mặt nhân từ và nhẫn nại, một người chủ ruộng đầy lòng khoan dung.

Nếu người chủ ruộng hấp tấp cho nhổ cỏ lùng ngay, sẽ làm hại đến lúa tốt. Kinh nghiệm nhà nông cho thấy : khi còn nhỏ, cỏ lùng trông rất giống lúa, người ta khó phân biệt giữa cỏ lùng và lúa. Đến khi cỏ lùng lớn lên giữa bụi lúa, nếu nhổ cỏ lùng sẽ làm bật gốc cả bụi lúa. Vì thế, người ta để cỏ lùng đến mùa gặt. Như người chủ ruộng tốt lành, Chúa cũng kiên nhẫn đợi chờ các tội nhân trở về với lòng thương xót của Ngài. Lòng nhân hậu bao dung của Chúa kéo dài mãi cho đến ngày tận cùng của thế giới.

Mầu nhiệm tình thương.

Chúa chống lại “cái ác” và “sự dữ ”, nhưng Ngài luôn tỏ lòng khoan dung với các tội nhân. Chúa không kết án người tội lỗi, nhưng luôn kêu gọi họ thống hối ăn năn và trở về. Vì Chúa “không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi” (Mt 8, 13). Trước lòng khoan dung của Chúa, nhiều người tội lỗi đã được ơn hoán cải. Đó chính là mầu nhiệm của lòng thương xót.

– Lòng nhân hậu của Chúa đã làm cho Giakêu, người thu thuế tham lam, được biến đổi trở thành một con người quảng đại, sẵn sàng “chia nửa phần gia tài cho người nghèo khó” (Lc 19, 8).

– Tình yêu của Chúa đã biến Augustinô từ một con người tội lỗi, hoang đàng trác táng trở thành một vị thánh. Ngài luôn cảm nhận được tình thương xót của Thiên Chúa : “Lạy Chúa, con biết Chúa quá muộn màng !”.

– Lòng bao dung của Chúa cũng biến đổi Phaolô từ một con người bắt bớ đạo Chúa trở thành một vị tông đồ dân ngoại vĩ đại. Ngài cũng luôn cảm nhận được lòng bao dung thương xót của Chúa, nên ngài đã hy sinh tất cả để rao giảng tình thương của Chúa.

Trong một thế giới đầy bạo lực và khủng bố như hôm nay, người ta càng nhận ra rõ hơn lòng kiên nhẫn và lòng từ bi của Thiên Chúa. Chính trong một xã hội đầy rẫy sự dữ và xấu xa, người ta càng thấy rõ tình thương của Chúa đang đánh động và thức tỉnh để làm cho nhiều “người con đi hoang” trở về.

Mầu nhiệm Nước Trời.

Chúa Giêsu còn kể thêm hai dụ ngôn “Hạt Cải” và “Nắm Men” : hai dụ ngôn này vừa cho thấy sức phát triển rất mạnh của Nước Trời, vừa nói lên lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa. Ngài không nóng vội, nhưng kiên nhẫn chờ cho hạt cải thành cây lớn và nắm men làm dậy cả thúng bột.

Nước Trời hay Giáo Hội chính là một mầu nhiệm. Nhìn vào lịch sử cứu độ, ta nhận thấy : từ một nhóm nhỏ mười hai tông đồ, Giáo Hội không ngừng lớn mạnh và phát triển cho đến ngày nay.

Hạt cải bé nhỏ được gieo vào lòng đất, phải thối mục đi, phải đau đớn nứt mình ra cho chiếc mầm vươn lên và mọc thành cây. Cũng vậy, nắm men được vùi trong thúng bột, phải hy sinh tự huỷ chính mình trong quá trình lên men, để làm dậy cả thúng bột. Giáo Hội cũng đi theo con đường đau khổ để lớn mạnh và phát triển trong âm thầm lặng lẽ.

Như hạt cải bé nhỏ được gieo vào lòng đất, nhiều lúc Giáo Hội phải sống âm thầm và đau khổ trong những “hang toại đạo”, sống lén lút và trốn tránh mọi người.

Như nắm men tự huỷ trong thúng bột, Giáo Hội phải trải qua nhiều giai đoạn bị bách hại và đổ máu triền miên. Giáo Hội đã đi theo con đường đau khổ mà Chúa đã đi, đã tự huỷ để vươn mình lớn dậy. Mầu nhiệm Giáo Hội không gì khác hơn là mầu nhiệm đau khổ.

Hôm nay, trong bài đọc I, trích sách Khôn Ngoan, tác giả suy tư về cách hành xử của Thiên Chúa qua những biến cố lịch sử. Dân Chúa đã nhiều lần bị kẻ thù làm hại. Họ muốn Thiên Chúa ra tay tiêu diệt những kẻ thù ấy. Nhưng Ngài vẫn tỏ lòng khoan dung, vẫn kiên nhẫn chờ đợi những kẻ gian ác ăn năn sám hối và quay về.

Thế giới không thể quên vụ khủng bố kinh hoàng xảy ra tại thủ đô Luân Đôn, nước Anh vào ngày 07 tháng 7 năm 2005 : ba vụ đánh bom liều chết tại các ga xe điện ngầm và một vụ làm nổ tung chiếc xe buýt hai tầng, làm hơn 52 người chết và 700 người bị thương.

Điều đáng nói là : kết quả cuộc điều tra ban đầu đã làm cho người dân Anh phải giật mình : vì bốn tên đánh bom liều chết chính là những người dân Anh, ba người gốc Pakistan và một người gốc Jamaica, những kẻ đã từng chung sống bên cạnh họ. Mầm mống của “cái ác” ở ngay trong lòng họ khiến họ sửng sốt, bàng hoàng.

Trong mỗi người chúng ta luôn có sự giao tranh giữa thiện và ác. Chúng ta hãy vượt thắng chính mình để luôn trở thành người tốt trong Giáo Hội và xã hội. Đàng khác, chúng ta hãy học nơi Chúa tấm lòng khoan dung, để luôn biết đối xử với mọi người bằng tình yêu thương và lòng đại lượng.




MẢNH ĐẤT TÂM HỒN

Gm. Giuse Vũ Văn Thiên

Chúng ta thường dùng biết bao những lời hay ý đẹp để diễn tả ý nghĩa Lời Chúa, nhất là qua những bài thánh ca. Tuy vậy, trong thực tế, ít khi chúng ta đọc Lời Chúa một cách nghiêm túc. Đối với khá nhiều Kitô hữu, việc nghe Lời Chúa và thực hành Lời Chúa tách rời nhau. Nói cách khác, họ thường xuyên nghe Lời Chúa, nhưng lại không chú tâm thực hiện những lời mà họ nghe. Phụng vụ hôm nay giúp chúng ta suy tư về cách thức sống Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày.
 
Ý nghĩa của dụ ngôn về người gieo giống đã được chính Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ trong phần sau của Tin Mừng được đọc trong thánh lễ Chúa nhật. Lời Hằng Sống được gieo một cách quảng đại vào lòng con người bằng nhiều cách thức khác nhau. Có những người giữ được Lời ấy, nhưng cũng có những người vô tình đánh mất. Dù có nhiều người chối từ, Thiên Chúa vẫn luôn quảng đại gieo hạt giống là Lời của Ngài trong mọi nền văn hóa, mọi thời đại, mọi lứa tuổi, mọi tôn giáo. Nội dung Lời Chúa là lời mời gọi thực hành đức yêu thương, tôn trọng phẩm giá của con người. Giữa cuộc đời nhiễu nhương, đầy bon chen tính toán, Lời Chúa có những lúc bị bóp nghẹt. Con người dễ ngả theo những gì ồn ào, náo nhiệt và hấp dẫn. Vì thế, họ thường chọn lựa lời của thế gian mà lãng quên Lời Hằng Sống.
 
Chúa Giêsu là người gieo giống. Người đã đến gieo vào lòng người những chỉ dẫn để họ đạt tới sự hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng Hoàn Thiện. Chúa Giêsu cũng là Hạt Giống mà Chúa Cha đã gieo vào trần gian, vì Người là Lời của Chúa Cha. Khi sai Ngôi Lời đến trần gian, Chúa muốn cho nhân loại được thấm nhuần giáo huấn của Người, như mưa làm cho đất đai phì nhiêu và đâm chồi nảy lộc, nhờ đó mà con người cũng như mọi tạo vật được sống động và phát triển (Bài đọc I). Chúa Giêsu là nguyên lý của hạnh phúc, ân sủng và bình an. Ai đón nhận Người thì sẽ tìm được định hướng cho đời mình và sẽ được hạnh phúc.
 
Tâm hồn mỗi người là một mảnh đất để Lời Chúa gieo vào. Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta tự vấn lương tâm: chúng ta là mảnh đất như thế nào? Chúng ta có sẵn sàng đón nhận hạt giống Lời Chúa, đồng thời cộng tác để hạt giống ấy mọc lên, sinh hoa kết trái? Có bốn loại đất được Đức Giêsu nhắc tới. Thực ra, bốn loại đất ấy đang hòa quyện và tồn tại trong mỗi chúng ta. Tâm hồn chúng ta đã có những lúc đầy sỏi đá, đầy gai góc, hoặc chai lỳ như đất bên vệ đường. Thật may mắn, có những lúc tâm hồn chúng ta giống như mảnh đất tốt, nhiệt thành đón nhận Lời Chúa. Khi ấy, chúng ta sẽ cảm nghiệm được niềm vui thiêng liêng, vì Lời Chúa đang sinh hoa kết trái trong tâm hồn và cuộc đời chúng ta. Ơn gọi nên thánh của người Kitô hữu nhắc bảo chúng ta: hãy giữ cho tâm hồn mình mãi mãi là mảnh đất tốt, nhờ đó, một khi hạt giống Lời Chúa được gieo vào, sẽ sinh lợi gấp trăm.
 
Những ai nhiệt thành đón nhận hạt giống Lời Chúa, sẽ được Ngài giải thoát khỏi mọi bất hạnh, tha thứ mọi tội lỗi và là bảo chứng cho hạnh phúc đời đời. Thánh Phaolô đã khẳng định với chúng ta như thế. Cùng với muôn tạo vật, chúng ta đang rên siết, ngóng trông sự giải thoát đến từ Thiên Chúa (Bài đọc II). Chính Lời Chúa soi sáng và đưa chúng ta ra khỏi ngục tù của ích kỷ và hận thù. Lời Chúa cũng nối kết con người với nhau trong tình huynh đệ bác ái.
 
Mỗi tín hữu được mời gọi trở nên một mảnh đất tốt. Mỗi tín hữu cũng được trao phó trách nhiệm trở nên những người gieo giống trong cuộc đời hôm nay. Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi mọi thành phần trong Giáo Hội hãy đóng góp phần mình cho công cuộc Tân-Phúc-âm hóa. Hãy trình bày Phúc âm cho con người của thời đại. Sự mới mẻ là lời mời gọi chúng ta trước hết sống và cảm nghiệm sứ điệp Tin Mừng và chia sẻ sứ điệp ấy. Việc chia sẻ này không đơn thuần là lặp lại các lời của Tin Mừng, mà bằng hoa quả của việc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trong những lời ấy và ảnh hưởng của Người trong cuộc sống của mình. Chúng ta chỉ có thể trở nên người gieo giống đúng nghĩa, khi chính chúng ta đã là mảnh đất phì nhiêu. Việc loan báo Lời Chúa chỉ đem lại những kết quả, khi người loan báo là người sống Lời Chúa.
 
Chúa Giêsu gọi chúng ta là những người có phúc, vì được nghe Lời Hằng Sống. Trong Tin Mừng Chúa nhật tuần trước (CN 14), Chúa Giêsu cảm tạ Chúa Cha, vì Chúa Cha đã mặc khải Nước Trời cho những người bé mọn. Ngài không mạc khải cho Nước Trời cho những người hiền triết và khôn ngoan. Nói đúng hơn, Ngài không mạc khải cho những ai tự cho mình là khôn ngoan và hiền triết. Vì tâm hồn họ đã đầy những tham vọng và đam mê, không còn chỗ để đón Chúa đến. Chúng ta có phúc vì được đón nhận Lời Chúa, nhưng chúng ta còn có phúc hơn, nếu chúng ta biết đem Lời Chúa cho mọi người và làm cho Lời ấy tỏa lan hương thơm thánh thiện trong cuộc sống hôm nay. Đức Thánh Cha Phanxicô lưu ý chúng ta: “Hân hoan loan báo Tin Mừng trở thành cái đẹp của Phục vụ, như một phần mối quan tâm hàng ngày của chúng ta trong việc làm lan tỏa lòng nhân hậu” (Niềm vui Tin Mừng, số 24).

Về mục lục

.

LÒNG QUẢNG ĐẠI THIÊN CHÚA

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Tâm hồn con người vẫn được ví như thưở ruộng. Ngay từ nhỏ được gieo vào đó biết bao điều hay điều dở. Cái tốt, cái xấu. Cái trí thức, cái lạc hậu.  . . Người may mắn là được cha mẹ hướng dẫn chắt lọc cái hay bỏ cái dỡ. Lấy cái tốt bỏ cái xấu. Người tốt là người biết mở rộng lòng đón nhận lời hay lẽ phải để sống cho nên người. Người xấu là người thích tự do phóng khoáng và không đi theo thuần phong mỹ tục của luân thường đạo lý.

Kinh nghiệm dân gian khi nói về những con người sống bỏ ngoài tai lời dạy của bề trên bằng câu ca dao:

Cá không ăn muối cá ươn,

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

Đây là bài học thực tiễn hết sức giản đơn. Khi mua cá ở chợ về, muốn giữ được tươi lâu, người ta mổ sạch sẽ rồi đem ướp muối. Cá thấm muối, thịt săn chắc, khi chế biến thành món ăn, hương vị sẽ đậm đà. Ngược lại, nếu để lâu không ướp muối, cá sẽ ươn, ăn mất ngon.

Con cái không nghe lời dạy bảo của cha mẹ khác nào như cá không ăn muối, sẽ hư hỏng, không thể trở thành người tốt được. Xã hội cũng có những quy định những luật lệ nếu ai không sống theo luân thường đạo lý cũng tựa như cá không thấm muối sẽ trở thành người hư hỏng.

Bài tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta đón nhận hạt giống Nước Trời là Đức Giêsu – Ngôi Lời của Thiên Chúa Nhập thể ở cùng nhân loại qua mọi thời. Hạt giống này sẽ được Giáo Hội, được các môn đệ của Đức Giêsu mọi nơi và mọi thời gieo vào khắp nơi, trong lòng mọi người, không phân biệt một ai, nhưng việc sinh hoa kết quả hay không thì sẽ tùy thuộc vào lòng người đón nhận.

Đây cũng là một lời nhắc nhở chúng ta đừng để cho lòng mình thành sỏi đá khô khan hay thành đường đi với lối mòn vô tâm và lạnh nhạt, cũng đừng biến lòng mình thành bụi gai của lòng tham tiền tài danh vọng mà bóp nghẹt hạt giống lời Chúa, nhưng hãy là mảnh đất được cày xới làm cho mầu mỡ phì nhiêu để cho hạt giống lời Chúa nảy mầm và sinh hoa kết quả dồi dào. 

Nhưng xem ra với thế giới hưởng thụ đã khiến con người trở thành thuở đất đang bóp nghẹt lời Chúa bởi đam mê danh lợi thú trần gian. Nhiều người bỏ ngoài tai chân lý và sự thật. Họ chỉ tìm kiếm tiền, lợi lộc và đam mê xác thịt. Họ để cho tham sân si chế ngự khiến họ không còn sống theo sự thật và công lý.

–  Ở đâu đó ta vẫn thấy có những người đang tìm kiếm thú vui xác thịt bất chính mà sống sai luật Chúa và Giáo hội. 

–  Ở đâu đó ta vẫn thấy những con người nguội lạnh thờ ơ với đức tin vì chạy theo danh vọng trần gian. 

–  Ở đâu đó ta vẫn thấy những người mang danh Công Giáo nhưng vẫn sống thiếu công bình bác ái, đôi khi còn sống thù hận, tranh chấp, loại trừ lẫn nhau. 

–  Ở đâu đó ta vẫn thấy những cuộc tranh chấp hơn thua, tố tụng nhau đôi khi còn vu khống, cáo gian nhau. 

–  Dầu vậy, ta vẫn thấy những mảnh đất tốt giữa cánh đồng xấu. Đó là những người thiện chí sống đời công chính. Họ không chạy theo gian tà. Không vì tiền mà bỏ Chúa. Vì danh vọng mà sống sai luật Chúa. Không vì quyền lực mà làm hại anh em. Họ vẫn sống theo tin mừng dù thiệt thòi nhưng lòng họ vẫn thanh thản bình an. 

Đây là thuở ruộng đẹp mà người ky-tô hữu cần phải vn trồng nơi trần gian. Người ky-tô hữu cần phải tự canh tân mình theo ánh sáng tin mừng để Lời Chúa đơm hoa kết trái trong cuộc đời chúng ta. Xin Chúa giúp chúng ta luôn sống theo tin mừng để trở thành muối ướp mặn trần gian và thành men yêu thương thẩm thấu vào trong từng ngõ ngách cuộc đời hôm nay.  Amen.

Về mục lục

.

HÃY ĐÓN NHẬN VÀ GIEO CÁCH HÀO PHÓNG

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 “Dụ Ngôn Người Gieo Giống” của Chúa Giêsu được thánh Matthêu trình bày tuy bình dân, nhưng chứa đựng một sứ điệp rất quan trọng liên quan đến người kể và người nghe. Người gieo giống ở đây không ai khác ngoài Thiên Chúa, hạt giống là Chúa Giêsu, đã được Chúa Cha gieo vào trần gian một cách hào phòng. Ngài gieo Lời cứu độ là chính Con Ngài xuống trên chúng ta, bất kể chúng ta thờ ơ, từ chối, nhưng chắc chắn ai đón nhận, nơi ấy hạt sẽ đâm rễ và mọc lên.

Chúa Giêsu là hiện thân của Thiên Chúa đi gieo hạt giống là chính thân mình vào trần gian, chôn vùi vào lòng đất khi nhập thể làm người, mục nát đi khi chịu chết và chôn trong mồ, mong có ngày bội thu là phục sinh cứu độ hết thảy mọi người. Nên dụ ngôn tự sự này có sức cuốn hút người nghe cách đặc biệt.

Bài đọc I, Lời Chúa được tiên tri Isaia ví “Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất” (Is 55,10). Mưa và tuyết vốn là những điều kiện thiết yếu cho hạt giống nảy mầm, lớn lên và kết hạt. Hình ảnh mưa và tuyết nói rõ: “tưới gội mặt đất, làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói của bánh ăn” (Is 55,10).  Đó là những hình ảnh đẹp, sống động và rất gần gũi với giới bình dân chúng ta, diễn tả cho chúng ta Lời Chúa phục vụ sự sống như thế nào; bởi vì Lời Chúa là Sự Sống của ta, là Ánh Sáng đời ta, hạnh phúc cho đời ta hôm nay và mãi mãi.

Lời của ngôn sứ Isaia giúp chúng ta hiểu đúng hướng dụ ngôn Người Gieo Giống. Thông điệp thật rõ ràng: Thiên Chúa là người đi gieo giống, Ngài gieo cách hào phóng, nhưng kết quả cụ thể còn tùy thuộc vào thời tiết và cách thức gieo giống cũng như tự do của thửa đất đón nhận hạt giống là chúng ta. Kinh nghiệm thường ngày của nhà nông quả quyết rằng, kết quả tùy thuộc vào thửa đất, nơi gieo hạt. Ví dụ, trong số những sinh viên chung một lớp, học cùng trường, được thầy giáo dạy cũng một môn về tôn giáo, nhưng người này tin còn người kia vô thần. Dù cả lớp đều nghe giáo viên giảng những điều tương tự nhưng hạt giống đã rơi lại rơi vào mảnh đất là những người khác nhau. Chúng ta cũng thế, tất cả vừa cùng nghe sứ điệp Lời Chúa, nhưng ra về mỗi người sống khác nhau.

Thửa đất tốt là tâm hồn chúng ta, do Thiên Chúa dựng nên cách tự nhiên, Ngài đã phú ban nó cho chúng ta, chúng ta tự do đón nhận hay từ chối là quyền của ý chí của chúng ta. Có những người thích tận hưởng cuộc sống thay vì trở nên tốt hơn. Có những kẻ mê đắm sự đời thế gian, “Lời Chúa bị bóp nghẹt không mang lại hoa trái” (Mt 13,22) .

Nhưng trái lại, đối với một số người, vì muốn giữ giá trị của chính mình, họ đón nhận Lời Chúa với lòng yêu mến thế là đơm hoa kết trái là trăm số việc lành, cho dù phải hy sinh. Chúa Giêsu nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu nó chết đi, nó sẽ sinh nhiều hoa trái” (Ga 12,24). Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta rằng, con đường dẫn đến sự cứu rỗi là con đường vào qua cửa hẹp (Mt 7,14): tất cả đều có giá của nó. Chúng ta sẽ không bao giờ có giá trị nếu chúng ta không cố gắng.

Ai bị ước muốn sự đời hướng dẫn, người ấy sẽ có trái tim giống như một khu rừng nhiệt đới. Ngược lại như cây ăn quả, cây tốt ắt sẽ sinh trái tốt. Vì thế, các thánh đã không có cuộc sống dễ dàng, họ đã trở nên mẫu gương cho nhân loại. Đức Giáo hoàng Piô XII nói: “Chắc chắn không phải tất cả chúng ta đều được kêu gọi chịu tử vì Đạo. Nhưng tất cả chúng ta được kêu gọi để có nhân đức Kitô giáo. Chúng ta kiên trì hoạt động, đừng chểnh mảng cho đến hết đời. Chính vì thế người ta cũng có thể nói về một tử đạo chậm và kéo dài”.

Thiên Chúa không đòi hỏi nơi chúng ta những điều không thể : chúng ta hãy vui lòng làm như Chúa, gieo cách hào phóng bằng lời nói và gương sáng, ngay cả trong sự khác biệt; hãy tin rằng sẽ luôn có cái gì đó thúc đẩy hạt giống mọc lên đúng thời vụ ; bởi vì Lời từ miệng Chúa phán ra sẽ không trở lại với Chúa nhưng theo ý Chúa mà sinh kết quả (x. Is 55, 10-11).

Điều căn bản là chúng ta cần chuẩn bị để chính mình là một thửa đất tốt để đón nhận hạt giống, đồng thời phải chăm sóc để nó có thể đơm hoa kết trái. Có người không muốn mình bị thử thách hay gặp khó khăn, người ấy sẽ có ngàn lý do để từ chối. Nhưng ai “ nghe lời giảng mà hiểu được, nên sinh hoa kết quả” (Mt 13, 23).

Tất cả đều nghe dụ ngôn, nhưng người hiểu được là người mang nơi mình và trân trọng như một tài sản quý giá, người ấy sẽ hạnh phúc nếu nghe những gì Chúa nói và nghiêm túc hoán cải theo tiếng Chúa gọi : Ngài sẽ chữa lành và làm cho họ được sống, “giải thoát khỏi vòng nô lệ sự hư nát, để được thông phần vào sự tự do vinh hiển của con cái Thiên Chúa” (Rm 8, 21), chúng ta sẽ đơm hoa kết trái. 

Dưới ánh sáng của Lời Chúa, chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria như bậc thầy của việc lắng nghe Lời Chúa cách sâu sắc và kiên trì thực hành. Xin Mẹ giúp chúng ta theo gương Mẹ, trở nên “đất tốt”, để hạt gống Lời Chúa có thể sinh nhiều bông hạt, ngõ hầu chúng ta tiếp tục sứ mạng tông đồ đi gieo vãi Lời Cứu Rỗi khắp mọi nơi cho anh em. Amen. 

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG VÀ ĐẤT

L.m Giuse Hoàng Kim Toan

Câu truyện dụ ngôn hạt giống và mảnh đất, hiểu theo nghĩa tâm hồn đón nhận và Lời Chúa gieo vào cho chúng ta thấy những gì gặt được trong cuộc sống.

Hạt giống được sánh ví như Nước Trời.

Không phải chỉ sau này chết đi mới sống trong Nước Trời. Thế nên khi hiểu Lời Chúa gieo vào tâm hồn được đón nhận như đất tốt, thì Nước Trời đã đang sống trong thực tại trần gian. Nước Trời đã được ban tặng cho con người ngay trong cuộc sống này. Nước Trời dần dần lớn lên trong tâm hồn khi con người luôn biết chăm sóc cho đời sống tâm hồn mình luôn sạch đá sỏi và bụi gai.

Hạt giống hằng được gieo.

Sự kiên trì của người gieo giống, đó là Lời Chúa đã trở thành Người ở giữa chúng ta. Người mãi mãi là Người, một Người yêu thương tất cả mọi người. Dù là kẻ gian ác hay như người thánh thiện, kẻ bất chính cũng như người ngay lành, Người vẫn yêu thương và chấp nhận tất cả: được gieo vào: bụi gai che lấp, vệ đường chai cứng, nơi nhiều đá sỏi, và nơi đất tốt. Thánh Phaolô viết về tình thương yêu của Chúa: “Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào,39 trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.” (Rm 8, 38 – 39). Thiên Chúa yêu thương đến cùng bởi vì Thiên Chúa vẫn hy vọng về con người sẽ nhận ra chính mình cần nhặt đi những sỏi đá, bụi gai, và cày lên những vệ đường cứng cỏi.

Hạt giống âm thầm.

Tình yêu của Chúa luôn âm thầm nảy mầm và mọc lên, dù thức hay ngủ Chúa vẫn cho cây tình yêu sinh trưởng trong mỗi người. Thiên Chúa tạo dựng nên con người bằng Tình Yêu và Thiên Chúa để cho con người nhận ra, chỉ có Tình yêu Mới có khả năng biến đổi người mình yêu. Họ có thể là vệ đường, một bụi gai, một tâm hồn đầy đá sỏi. Một ngày nào đó giữa biến cố bế tắc trong cuộc đời, tỉnh ngộ chưa gặt hái được gì sau những vất vả lầm than. Họ đã bắt đầu hối hận và trở về để bắt đầu lại cuộc đời mình là đất tốt và cảm nhận niềm vui của Tình Yêu đánh mất.

Hạt giống bị chết ngạt.

Hạt giống đã nảy mầm, ăn rễ và bị lấy đi. Khộng có lần nào bị lấy đi mà không để lại dấu vết đớn đau. Những dấu vết là những kinh nghiệm bị vuột mất Tình yêu, để sống giữa khô cằn, không có được bình an. Giữa thế trần, nếu chỉ là bụi gai, chỉ là vệ đường, đá sỏi, có gì vui? Niềm vui nếu có lấp đầy chỉ là những giả tạo, chẳng giúp gì được ai. Cũng là đất, nhưng đất không sinh ích, cũng là người nhưng lại vô dụng, có gì vui? Đó là những kinh nghiệm để tự thấy rằng, cần có tình yêu đối với chính mình để can đảm thay đổi. Cần có Tình Yêu của Chúa để mạnh mẽ đưng dậy sau những lần vấp ngã.

Nếu là đất, xin hãy là đất tốt. Nếu là đá sỏi, xin Người hãy giúp con nhặt đi những gì chai cứng để tâm hồn con được tưới mát bằng Tình Yêu. Nếu còn bụi gai, xin Người hãy cho con thêm can đảm nhổ bớt bụi gai bằng bàn tay của Người. Nếu là vệ đường, xin cho con cũng là vệ đường mọc lên những bông hoa dại, tô điểm con đường về với Chúa.

Về mục lục

.

HAI KHU VƯỜN

Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Có hai khu vườn nằm cạnh nhau, tuy cũng thuộc dạng đất màu mỡ như nhau, có điều kiện tưới tiêu như nhau và cùng được gieo trồng bằng những hạt giống y như nhau… Thế mà hai khu vườn này lại tương phản nhau cách lạ lùng.

Vườn anh Nam thì đầy hoa thơm trái tốt, thu hút nhiều du khách đến xem: họ đua nhau chụp hình bên những luống hoa xinh đẹp; họ trầm trồ khen ngợi những cành cây trĩu trái, họ thưởng thức những trái cây ngọt lịm mới ngắt còn đang tươi…

Trong khi đó, vườn chị Nữ bên cạnh thì đầy gai góc và sỏi đá, chẳng ai muốn để mắt nhìn đến và nếu có ai liều lĩnh bước vào khu vườn này thì cảm thấy rờn rợn trong người.

Chị Nữ rất buồn vì thấy vườn của anh Nam tốt đẹp hấp dẫn đến thế, còn khu vườn của chị thì tệ hại quá chừng. Chị cho biết là chị và anh Nam cùng gieo vào khu vườn của hai người những hạt giống hoa và cây trái như nhau, thế mà kết quả lại hoàn toàn trái ngược nhau.

Sở dĩ có sự khác biệt đáng tiếc này là vì anh Nam đã dọn sạch sỏi đá và mọi thứ gai góc trong vườn trước khi gieo hạt; còn chị Nữ thì phạm phải một sai lầm tai hại là bỏ qua công việc hệ trọng này. 

Hình ảnh hai khu vườn này minh hoạ cho Lời Chúa Giê-su trong Tin mừng Mát-thêu được trích đọc hôm nay:

Người kia ra đi gieo giống. “Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không nhiều; nó mọc ngay… nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục” (Mt 13, 4-7). 

Tâm hồn chúng ta cũng như một khu vườn. Chúng ta hãy nhìn lại khu vườn tâm hồn mình xem sao, nơi đây có nhiều hoa thơm trái đẹp như vườn nhà anh Nam, được nhiều người ưa thích ngưỡng mộ, hay lại đầy gai góc và bụi rậm như vườn nhà chị Nữ chẳng ai muốn ghé vào?

Lời Chúa là những hạt giống tuyệt vời được Chúa Giê-su mang từ trời xuống gieo vãi trong tâm hồn mọi người và Ngài mong sao cho hạt giống Ngài gieo được sinh hoa kết trái tốt tươi. Tuy nhiên, nếu khu vườn của ta có nhiều gai góc và sỏi đá thì Lời Chúa không thể nào bén rễ được, vì thế, không thể sinh chút hoa trái nào.

Khi lời dạy này của Chúa Giê-su: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai hy sinh mạng sống mình đời này vì Tôi, thì sẽ được sống đời đời” được gieo vào tâm hồn người ích kỷ thì lòng ích kỷ của anh như những tảng đá lớn, làm chết nghẹt Lời Chúa ngay từ đầu.

Khi lời dạy này của Chúa Giê-su: “Hãy bán những gì anh có mà cho người nghèo… rồi hãy đến theo Tôi …”được gieo vào tâm hồn người tham lam, thì lòng tham nơi người đó y như những bụi gai rậm rạp, sẽ làm lụi tàn Lời Chúa ngay.

Khi lời dạy này của Chúa Giê-su: “Hãy theo cửa hẹp mà vào vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, còn đường chật thì đưa đến sự sống…” được gieo vào tai người đam mê lạc thú trần gian, thì lòng đam mê lạc thú này như những mặt đường trơ lì và chai cứng, làm cho Lời Chúa bị khô héo liền.

Như thế thì ích kỷ, tham lam, đam mê lạc thú… là những cụm gai lớn, là những viên đá hòn sỏi vô tích sự… sẽ bóp nghẹt Lời Chúa ngay từ đầu, không để cho Lời Chúa mọc lên và bén rễ. Thế rồi, chỉ còn những cụm gai của thói hư tật xấu, những cây hoang dại của đam mê tội lỗi… sẽ chen chúc mọc lên, xâm chiếm hết thửa đất tâm hồn, biến tâm hồn ta thành một bãi đất hoang phế.

Lạy Chúa Giê-su,

Thật là điều rất đáng buồn và đáng tiếc nếu tâm hồn chúng con trở nên như bãi đất hoang mọc đầy cỏ dại và ngổn ngang sỏi đá vô tích sự khiến nhiều người khinh chê, xa lánh.

Và thật là điều đáng mừng nếu tâm hồn chúng con trổ sinh nhiều hoa đẹp trái ngon nhờ có nhiều đức tính tốt, trở nên như khu vườn xinh đẹp được nhiều người yêu thích.

Xin cho chúng con không ngừng loại bỏ mọi thứ “sỏi đá gai góc” ra khỏi tâm hồn, tích cực vun xới cho hạt giống Tin mừng đâm chồi và tăng trưởng để làm cho cuộc đời nở hoa, tức làm cho mình trở thành người có văn hoá, có đạo đức và phẩm chất cao đẹp.

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG LỜI CHÚA

Lm. GB. Trần Văn Hào

Triết gia Bergson đã phát biểu : “Con người là một sinh vật xã hội”, hoặc nói như Karl Marx : “Con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”. Dưới một khía cạnh nào đó, những quan niệm này khá đúng, vì ‘Không ai là một hòn đảo’ (Thomas Merton),và chẳng ai trong chúng ta có thể sống cô lẻ một mình. Chúng ta chỉ có thể sống và tồn tại trong sự tương liên với những người khác. Để sống sự liên đới ấy, con người được Thiên Chúa phú ban một khả năng rất cao quý, đó là biết sử dụng ngôn ngữ. Chúng ta dùng ngôn ngữ hay lời nói của mình để diễn bày tư tưởng, biểu tỏ những cảm xúc, hầu kiến tạo sự hiệp thông với cận nhân chung quanh.

Thiên Chúa cũng chung hòa kiếp sống làm người với chúng ta. Ngài đi vào thế giới loài người bằng chính ‘Lời’ của Ngài. Để tiếp xúc, Thiên Chúa cũng ‘nói’ với chúng ta. Khởi đầu thư gửi tín hữu Do Thái, tác giả viết : “Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua các ngôn sứ. Nhưng vào thời sau hết, Thiên Chúa phán dạy chúng ta qua Người Con”. Đức Giêsu là ‘Lời’ được Thiên Chúa ban tặng cho trần gian. Ngài là Ngôi Lời của Chúa Cha. Lời tác sinh vũ trụ, đã nhập thể, và cư ngụ giữa chúng ta. Lời của Chúa tự bản chất là lời hằng sống, đem lại cho con người sự sống trường tồn.

Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu vay mượn hình ảnh những hạt giống để sánh ví với Lời của Ngài, và đó là những hạt giống được gieo vào những thửa ruộng lòng người. Lời Chúa được trao ban cách nhưng không và rất hào phóng, như người đi gieo tung những hạt giống đến khắp nơi. Song, Lời có mang lại hoa trái hay không còn tùy thuộc vào thái độ nội tâm nơi mỗi người. Tâm hồn chúng ta có thực sự trở nên như mảnh đất tốt, hay chỉ là miếng đất cằn cỗi bên vệ đường đầy sỏi đá hay gai góc, điều đó hệ ở sự cộng tác của chúng ta nhiều hay ít. Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại thái độ đức tin để biết cách tiếp cận Lời Chúa, hầu những hạt giống của Lời được trổ sinh hoa trái.

Lời Chúa đem lại sự sống

Lời nói của con người giống như con dao hai lưỡi. Nó có thể là phương tiện kiến tạo hòa bình, nhưng cũng có thể là một thứ vũ khí giết người thâm độc. Thời hoàng đế Antonius của đế quốc Rôma có một nhà hùng biện đại tài tên là Cicéron. Ông dùng khiếu ăn nói để  thu phục nhân tâm và lôi kéo quần chúng chống lại sự cai trị hà khắc của tên bạo chúa. Cái lưỡi của ông như một vũ khí sắc bén rất lợi hại. Hoàng đế Antonius đã bắt ông và giam ông vào ngục. Bà vợ của Antonius sai lính chặt đầu Cicéron, và chính tay bà đã dùng dao cắt lưỡi nhà hùng biện. Bà ta còn điên cuồng lấy kim đâm nát cái lưỡi của Cicéron, vì bà nghĩ rằng chính vì cái lưỡi thâm độc ấy mà ngai vàng của chồng bà suýt bị sụp đổ tan tành. Lời nói của con người có thể gây nên chiến tranh, tạo ra những đổ vỡ hay khơi dậy sự oán thù. Nhưng Lời Chúa thì hoàn toàn khác. Tự bản chất, Lời Chúa sẽ phát sinh sự sống. Phêrô đã từng bày tỏ : “Bỏ Thầy chúng con biết đến với ai. Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Đây là lời tuyên tín của vị tông đồ trưởng qua mạc khải của Thần Khí.

Tác giả sách Sáng Thế cũng thuật lại công cuộc tạo dựng. Tác giả viết : “Thiên Chúa phán, hãy có ánh sáng, liền có ánh sáng. Thiên Chúa phán hãy có vòm trời phân chia nước.., hãy có các sinh vật, có các loài chim trên bầu trời, … và đã có như thế” (St chương 1). Lời Thiên Chúa đem lại sự sống và ơn cứu độ. Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn đòi hỏi chúng ta phải cộng tác, phải biến tâm hồn mình thành mảnh đất tốt, và Ngài luôn trân trọng tự do nơi con người.

Lời Chúa là một nghịch lý.

Sau khi Đức Giêsu tuyên bố về Bánh Trường sinh, là chính thịt và máu Người, đám đông ngán ngẩm bỏ đi và nói với nhau : “Lời này chói tai quá, ai nghe cho nổi (Ga 6,60). Lời Chúa luôn là nghịch lý đối với đầu óc và sự suy tính của con người. Lãnh tụ Krouschev đã có lần nói với những tín hữu Kitô : “Tôi rất thích đọc những giáo huấn của Đức Giêsu, nhưng tôi không thể chấp nhận điều mà Đức Giêsu đã nói : “Ai tát ngươi má bên này, hãy giơ cả má bên kia, ai lột của ngươi chiếc áo ngoài, hãy ‘kính biếu’ nó luôn cả chiếc áo trong. Không đời nào tôi làm thế. Chúng ta phải kiên quyết chống lại kẻ thù để có thể tồn tại”. Cũng vậy, bài giảng trên núi được Thánh sử Matthêu ghi lại trong chương 5, đầy những nghịch lý mà con người với đầu óc suy nghĩ bình thường không thể chấp nhận. Thế gian đề cao sự giàu sang, Chúa lại nêu bật sự nghèo khó như một mối phúc. Người ta chủ trương phải chống lại kẻ thù, Chúa lại dạy phải yêu thương và đừng cự lại người ác. Nếu không cắm sâu vào mầu nhiệm Thập giá, chúng ta sẽ không thể cảm thấu được ý nghĩa của những nghịch lý mà Chúa Giêsu đã dạy. Thập giá là kết tụ và cũng là cao điểm của mọi nghịch lý nơi Chúa Giêsu, Ngôi Lời của Chúa Cha. Để trải nghiệm và sống nghịch lý này, chúng ta cần mở lòng để tin vào Ngài. Đây là đích nhắm được nói đến trong các sách Tin mừng, nhất là trong Tin mừng của Thánh Gioan.

Thái độ đối với Lời

Lời Chúa không phải là bảng tổng hợp những tư tưởng khuyến thiện, dạy chúng ta ăn ngay ở lành. Kinh thánh cũng không phải là bộ bách khoa tự điển để chúng ta lục tìm những kiến thức về khoa học. Chúng ta đừng xem Lời Chúa như một bộ sách làm giàu cho sự hiểu biết nơi đầu óc mình, cũng đừng trích những câu Kinh thánh chỉ giống như những câu danh ngôn của các bậc hiền nhân khác. Nhưng, chúng ta hãy tập thinh lặng lắng nghe Lời Chúa, bắt chước thái độ của ngôn sứ Giêrêmia : “Gặp được Lời Chúa tôi đã nuốt vào. Lời Chúa trở thành hoan lạc cho tôi, thành niềm vui của lòng tôi”. ‘Nuốt’ Lời Chúa chính là để cho lời hằng sống thẩm thấu vào thịt máu, vào tâm hồn và vào chính cuộc sống của chúng ta. Lời Chúa ngỏ với chúng ta qua các biến cố cuộc sống hằng ngày, qua các cử hành phụng vụ, qua các bài giảng huấn và nhất là qua các bài đọc sách thánh mỗi khi chúng ta đi tham dự Thánh lễ. Giáo hội khuyến khích mọi người năng cử hành ‘Lectio Divina’ mỗi ngày, đặt Lời Chúa vào tâm điểm cuộc sống, giúp chúng ta suy niệm và cầu nguyện. Có như vậy, chúng ta sẽ làm cho hạt giống Lời Chúa phát sinh hoa trái trong đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Kết luận

Một thanh niên Do Thái khoe với thầy Rabbi : “Thưa thầy, con đã đọc trọn bộ Kinh thánh từ đầu đến cuối 5 lần”. Nghe vậy, vị đạo sĩ trả lời: “Điều quan trọng không phải là con đã đọc Kinh thánh được mấy lần, nhưng con đã sống và thực hành lời Chúa được bao nhiêu lần”. Chúng ta hãy nhớ lại lời dạy của Thánh Giacôbê : “Anh em hãy đem Lời Chúa ra thực hành chứ đừng nghe suông mà lừa dối lòng mình. Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm” (Gia 1, 22-25).

Về mục lục

.

NGƯỜI GIEO HẠT

Bông hồng nhỏ

Như hạt nắng chiếu soi mặt đất, Lời cũng đến với bao mảnh đất tâm hồn, những mong Lời sinh hoa kết quả. Thầy là Lời chân lý, miệt mài rảo bước tung gieo Tin Mừng cứu độ. Thầy đến với bao mảnh đời tội lỗi, nâng đỡ bao người yếu đuối, bệnh tật. Thầy chữa lành tất cả những ai thành tâm đến với Thầy với một lòng tin vững mạnh. Thể xác họ được lành lặn mà tâm hồn được ngập tràn hạnh phúc. Danh tiếng Thầy lẫy lừng khiến cho dân chúng tuôn đến với Thầy: kẻ hiếu kỳ cũng có, người mộ mến cũng nhiều vô kể và có cả những kẻ chỉ đến vì lòng đố kỵ, muốn tìm dịp hạ uy thế của Thầy.

Sáng hôm nay, Thầy đi từ nhà ra Biển Hồ, dân chúng lại lũ lượt đi theo Thầy. Họ khao khát được nghe Thầy giảng, được đụng chạm đến Thầy và để được khỏi bệnh. Họ chen lẫn, tiếng người huyên náo. Từ trên thuyền, Thầy giảng về dụ ngôn người gieo giống. Thầy là người gieo giống, hạt giống Tin Mừng đến với lòng bao người. Đám đông dân chúng đang tụ họp ở đây, mỗi người là một mảnh đất tâm hồn khác nhau. Thầy không loại trừ ai nhưng đón nhận tất cả. Không phải Thầy không biết tính toán để có một mùa lúa bội thu nhưng Thầy cũng có một khao khát mãnh liệt xuất phát từ tình yêu: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất và những ước mong phải chi lửa ấy bùng lên.” (Lc 12, 49). Thầy hiểu rằng, mỗi mảnh đất tâm hồn đang quây quần bên Thầy hôm nay, những tâm hồn Thầy đã gặp gỡ và sẽ gặp gỡ, không phải tất cả họ đều là những mảnh đất tốt, mỗi tâm hồn đều có một tình trạng riêng biệt. Hạt giống Tin Mừng rơi xuống vệ đường, con chim đến ăn mất. Có hạt rơi trên sỏi đá, nó mọc lên nhưng lại chết khô. Có hạt rơi vào bụi gai và bị chết nghẹt. Hạt khác rơi vào mảnh đất tốt, nó lớn lên và sinh hoa kết quả. Người nông dân khi đọc dụ ngôn này có lẽ sẽ buồn cười vì cách gieo hạt kỳ cục của Thầy. Người ấy trộm nghĩ: ai lại gieo hạt kiểu đó, phí phạm hạt giống quá. Mảnh đất mà Thầy nói đến lại là chính tâm hồn của mỗi người. Thầy luôn bận tâm tới con người, những đứa con thuộc về Thầy. “Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” Phàm nhân là con cái của Chúa và Chúa yêu thương tất cả. Chúa đến để tìm và cứu những gì đã mất. Ai tin mới hiểu được điều Thầy trao ban và đón nhận với tấm lòng biết ơn.

Thầy vẫn gieo vào tâm hồn ta hạt giống Tin mừng đó. Còn ta là mảnh đất nào cho Lời ngự đến? Có lẽ ta chỉ là một vệ đường đầy những chim chóc trú ngụ, và khi Lời đến, ta để chim ăn mất chăng? Hay ta chỉ là một mảnh đất cằn cỗi toàn sỏi đá và khi Lời đến ta vui vẻ đón nhận đó nhưng lại không đi vào chiều sâu. Khi gặp khó khăn và thách đố, ta vấp ngã ngay. Ta cũng có thể là một mảnh đất đầy những bụi gai, và khi Lời đến, ta để cho những toan tính và lo lắng sự đời bóp nghẹt Lời vừa chớm mọc trong lòng, bịt tai che mắt trước sự thúc đẩy của Lời? Thật hạnh phúc nếu ta là  một mảnh đất tốt, để khi Lời đến và sinh hoa kết quả dồi dào.

Lòng người khôn dò khôn thấu, nhưng Thiên Chúa biết rõ từng người chúng ta và Ngài yêu thương từng người một. Nếu tâm hồn ta chỉ là vệ đường, Lời vẫn được gieo xuống với hy vọng tâm hồn ta được Thần Khí biến đổi. Bỏ đi một lối mòn cũ của tâm hồn để bước vào một tình trạng mới với sự hướng dẫn của Thần Khí, đòi hỏi sự nỗ lực cộng tác từng ngày của ta. Nếu ta không cố gắng, Lời được gieo xuống đó nhưng lại bị qủy đến cướp đi. Nếu tâm hồn ta là mảnh đất đầy sỏi đá, xin Thần Khí tình yêu biến đổi tâm hồn ta, giúp ta nhặt hết những gì là nông nổi để đi vào chiều sâu, để Lời được bám rễ sâu trong tâm hồn ta. Từ đó, Lời ấp ủ trong tâm hồn ta một sức mạnh lướt thắng mọi khó khăn và kiên vững trước những thách đố để sống cho Lời. Nếu những lúc vấp ngã, ta biết bám vào Chúa để đứng lên như cây đã bám rễ sâu vào lòng đất dù có bị bão quật ngã vẫn mọc lên những mầm xanh mạnh mẽ. Ta là một mảnh đất đầy gai ư? Hãy để cho Thần Khí nhổ đi những gai góc của bao lo lắng và đam mê vinh hoa phú quý, để Lời được trổ sinh hoa trái. Ta là một mảnh đất tốt thì hãy để Thần Khí thúc đẩy ta canh tân đời sống, để tỉnh thức trước kẻ thù, vì bất cứ lúc nào một mảnh đất tốt cũng có thể bị chai đi.

Thầy là Người gieo giống và Thần Khí làm cho Lời sinh hoa kết quả trong tâm hồn ta. Thầy Giêsu cho các môn đệ biết về cái phúc mà các ông có được: phúc vì được thấy và được nghe. Chính Thầy hiện diện và đồng hành cùng các ông, để mỗi tâm hồn được biến đổi và chăm sóc. Ta cũng là môn đệ của Thầy. Từng ngày Thầy vẫn hiện diện và ngự trị trong tâm hồn ta. Thánh Thể tình yêu là món quà vô giá mà ta được nhận lãnh. Một Giêsu khiêm tốn và tận hiến đến cùng. Ta hãy tự chất vấn lòng mình xem: ta đã làm gì để Lời sinh hoa quả trong tâm hồn ta?

Lạy Chúa! Chúa đã đến và gieo vào tâm hồn chúng con hạt giống Tin Mừng. Xin Chúa giúp chúng con mỗi ngày biết yêu mến Chúa hơn, yêu mến Lời hằng sống và nỗ lực cộng tác với ơn Chúa mà canh tân mảnh đất tâm hồn mình, hầu Lời được sinh hoa kết quả trong cuộc sống chúng con. Mỗi chúng con cũng được Chúa mời gọi trở thành người gieo Lời của Chúa trên chính cuộc sống của chúng con. Xin Thần Khí hướng dẫn chúng con. Amen.

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG TRONG TÂM HỒN

Anna cỏ may

Khi nghe tên tuổi của ai đó, chúng ta liền tò mò và muốn biết người đó là ai, có thật như mình được nghe không. Người Do thái xưa kia cũng vậy, họ biết và nghe nhiều về danh Đức Giêsu là Đấng có uy quyền. Vì thế, khi nghe biết Chúa Giêsu đi đâu, ở đâu là họ đi tìm và ở đó.

Chúa Giêsu đang ngồi trên thuyền, còn dân chúng thì đứng trên bờ. Chúa Giêsu liền mượn cơ hội này dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Ngài dùng dụ ngôn rất quen thuộc, dụ ngôn “người gieo giống”. Khi đề cập đến việc gieo giống, chúng ta liền nhớ đến những người nông dân. Cứ đến mùa, họ phải vất vả làm đất và ủ giống. Đến ngày đi gieo, trên tay bê thúng thóc, họ vừa đi vừa gieo dưới ánh nắng chói chang, mồ hôi thì thấm dần trên áo. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường hoặc dọc theo bờ ruộng. Đó là những hạt rơi không bị kẻ qua người lại chà đạp thì cũng bị chim trời ăn hết. Có hạt rơi trên sỏi đá, nơi không có nhiều đất, hạt mọc lên ngay, nhưng khi nắng lên dễ bị cháy khô. Có hạt rơi vào bụi gai, là loại cây cày bới bỏ đi nhưng nó vẫn mọc lại được. Và đây là nỗi âu lo cho những người nông dân. Còn những hạt rơi vào đất tốt liền mọc lên, nảy nở và sinh nhiều hoa trái. Điều này mang lại niềm vui sướng và hạnh phúc cho những người nông dân khi thấy được mùa bội thu (x. Mt 13, 4-8). Vâng, Chúa Giêsu dùng hình ảnh này để nói với dân chúng, nhưng họ vẫn không hiểu ý của Ngài muốn ám chỉ điều gì. Bởi vì lòng họ đã ra chai đá.

Còn các Tông đồ được ơn hiểu biết, nên Ngài đã nói cho các ông biết về dụ ngôn. Ngài nói: Người gieo giống là Chúa Kitô. Hạt giống là Tin Mừng. Ruộng đất là tâm hồn họ. Nhưng điều Ngài muốn nói tới là hiệu quả Tin Mừng trong các tâm hồn đón nhận. Qủa thực, hạt giống tốt cũng không thể sinh quả tốt, một khi đã rơi vào đất xấu. Lời Hằng Sống không thể sinh lợi ích, nếu trong tâm hồn không chuẩn bị kỹ. Hạt giống có sinh hoa trái cũng tùy vào đất tốt. Lời Chúa có sinh lời nhiều hay ít cũng tùy thuộc vào sự đáp trả của mỗi tâm hồn. Không dừng ở đó, Chúa Giêsu tiếp tục cho các ông thấy ba tâm trạng của những người nghe lời Chúa: Kẻ nghe Lời Chúa một cách dửng dưng hay nghe như một bản nhạc cho vui và giải sầu thì quỷ sẽ đến cướp đi; còn kẻ khác nghe Lời Chúa, liền vui vẻ đón nhận nhưng không đem ra làm lẽ sống hằng ngày; còn kẻ khác nữa nghe nhưng lo lắng sự đời và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt thì không bao giờ kết quả. (x. Mt 13, 19-23). Như vậy, họ nghe nhưng do ảnh hưởng bên ngoài nên Lời Chúa không thấm nhập và dễ dàng bị xóa bỏ.

Vâng, Lời Chúa là Lời Hằng Sống. Lời đầy nhựa sống thiêng liêng. Lời chứa đựng ơn cứu độ. Vì thế, chúng ta cần có đôi tai để nghe. Đôi tai xác thịt là để nghe lời con người. Chính đôi tai đức tin mới cho chúng ta hiểu được Lời Chúa. Qủa thực, không có đôi tai đức tin, chúng ta vẫn nghe được Lời Chúa như bất cứ lời nào hay sách nào. Nhưng nghe như thế để biết, để tìm hiểu. Có khi chúng ta nghe để tìm cách tỏ lộ, chất vấn ai đó… Còn đôi tai đức tin giúp chúng ta hiểu được ý Ngài muốn nói. Và khi nghe được tiếng Ngài, tiếp xúc với Ngài, chúng ta mới thấy Lời Ngài là lời nói với mình.

Ngoài ra, để cho Lời Chúa được sinh hoa kết quả, chúng ta phải nghe Lời Chúa bằng cả trái tim, với tấm lòng tôn kính, đơn sơ, ngoan ngoãn, rộng mở, yêu mến và khao khát nghe. Chính khi chúng ta làm được như vậy, Thiên Chúa mới thấy chúng ta xứng đáng được nhận lời Hằng Sống của Ngài.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa đã không ngừng gieo những hạt giống tốt trên chúng con. Xin cho chúng con biết lắng nghe, hiểu ý, đáp ứng và thực hành Lời Chúa. Nhờ đó, Lời Chúa được sinh hoa kết quả trong tâm hồn chúng con và mọi người. Amnen. 

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG CÓ MẦM SỐNG

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Vào một đêm nọ, người phụ nữ nằm mơ, thấy mình bước vào một siêu thị. Khách hàng tấp nập. Có một quày hàng đặc biệt, người chen chân không lọt. Chị ngạc nhiên thấy Chúa Giêsu đang bán ở quày hàng này. Chờ đợi đến phiên mình, chị hỏi: Chúa mà cũng bán hàng sao? Chúa bán cái gì ở đây vậy?

Chúa trả lời: Ta bán mọi sự con đang ước muốn trong trái tim.

Chị nói liền một hồi: Thưa Chúa, con muốn có bình an, có tình yêu, có hạnh phúc, có khôn ngoan và tự do không sợ hãi. Suy nghĩ một lúc, chị lại thêm: không chỉ cho con mà thôi nhưng còn cho chồng, cho con và cho những người thân yêu của con nữa.

Chúa mỉm cười và nói: hỡi con yêu dấu, ở đây,Ta không bán hoa trái mà chỉ bán hạt giống thôi. (Lm. Anthony de Mello. SJ).

Tin mừng hôm nay có tên gọi là “Dụ ngôn người gieo giống”. Thiên Chúa là người gieo giống. Chúng ta là đất. Hạt giống là lời giảng dạy của Chúa Giêsu. Tùy vào thái độ của mỗi người, chân thành đón nhận hay lười biếng khước từ, Lời Chúa sẽ sinh những hiệu quả khác nhau.Hạt giống được gieo trên bốn loại đất, đất vệ đường, đất lẫn sỏi đá, đất có nhiều gai góc và đất tốt. Đất nào cho năng suất nấy. Làm sao bên lề đường khô cằn sỏi đá, hạt giống có thể sinh hoa kết trái được? Trong bụi gai chằng chịt cỏ rác không mọc nổi, hạt giống làm sao vươn lên để thành cây xanh tốt được?

Chúa Giêsu ví lời giảng dạy của Ngài như hạt giống trong tay người nông dân. Hạt giống gieo trên những loại đất khác nhau, số phận các hạt giống khác nhau. Lời Chúa cũng có nhiều số phận khác biệt. Có lời sinh lợi muôn vàn lời. Có lời sống èo uột bị bóp nghẹt. Có lời làm tròn sứ mạng được uỷ thác. Có lời biến mất như rơi vào cõi hư không. Khác biệt về thành quả không hệ tại bởi hạt giống mà bởi phẩm chất ruộng đất. Thửa ruộng mà Chúa Giêsu nói đến không phải ruộng trên mặt đất mà là cõi lòng con người. Vì thế, dụ ngôn hạt giống gieo trên các loại đất khác nhau gợi lên những ý nghĩa.

  1. Tấm lòng quảng đại của người đi gieo.

Người đi gieo đã gieo hạt giống trên những mảnh đất phì nhiêu màu mỡ. Những mảnh đất sỏi đá, gai góc, lối mòn có bước chân người cũng không bị lãng quên. Người gieo hạt không bỏ rơi một mảnh đất nào, ông quảng đại muốn cho hạt giống được gieo vãi khắp chốn. Thiên Chúa quảng đại nhìn mọi người với chính phẩm giá của họ trong niềm hy vọng của Ngài. Vì thế, mảnh đất nào cũng nhận được hạt giống đồng đều. Ai cũng có cơ may nhận được ân sủng cứu độ Tin Mừng nếu như họ thành tâm thiện chí. Lòng quảng đại không phân biệt đối xử, không ưu tiên ai mà cũng chẳng loại trừ ai, không thất vọng về hiện tại của người khác mà biết kiên tâm đợi chờ hy vọng vào tương lai tươi sáng hơn.

Không ai hoàn toàn là “lề đường”, là “sỏi đá” hay là “bụi gai”. Trong mỗi con người luôn có một mảnh đất tốt cho dù nó chỉ nhỏ bé thôi. Có thiện chí đón nhận hạt giống cũng sẽ có một mùa gặt bội thu “đến nỗi có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi” (Mt 13, 23). Thiên Chúa vẫn gieo Lời Ngài vào lòng chúng ta, vì Ngài chắc chắn rằng: “Lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác” (Is 55, 11). Tác giả Thánh Vịnh cảm nghiệm hồng ân Thiên Chúa chan hòa như mưa móc: “Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc, cho ngập tràn phú túc giàu sang, suối trời trữ nước mênh mang, dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông. Tưới từng luống, san từng mô đất, khiến dầm mưa cho hạt nẩy mầm, bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo màu mỡ ngập tràn lối đi” (Tv 65,10-12).

Thánh Phêrô đã ba lần chối Chúa, nhưng trong ngài vẫn còn một mảnh đất tốt của lòng sám hối. Thánh Phaolô hăng say bách hại các kitô hữu, nhưng trong ngài vẫn còn đó một mảnh đất tốt của lòng nhiệt thành và khiêm tốn. Thánh Augustinô bị những bụi gai của tri thức, kiêu căng và dục vọng vây bủa, nhưng vẫn còn có một mảnh đất tốt hướng tìm chân lý, chỉ chờ hạt giống gieo trồng là nở rộ mùa gặt phong nhiêu… Còn nhiều lắm những mảnh đất tốt như thế trong Giáo Hội và trong cuộc sống thường ngày của chúng ta. Tất cả những mảnh đất tốt đó, cho dù có nhỏ nhoi đi chăng nữa, nhưng một khi đã được đón nhận Lời Chân Lý thì đúng như lời Chúa nói, đã sinh lợi “hạt một trăm, hạt sáu mươi, hạt ba mươi”.

  1. Hạt giống tiềm ẩn sự sống.

Hạt giống có vỏ cứng bảo vệ, khi được gieo vào lòng đất vỏ sẽ vỡ ra cho mầm đâm chồi. Chồi non lên xanh là hình ảnh của sự sống mới. Sự sống vào đời mới bằng một cuộc phiêu lưu, bằng niềm phó thác cho tương lai.

Hạt giống là ánh sáng, là Tin mừng, là thiện hảo tốt lành, là giá trị Nước Trời. Tự nó, hạt giống có một sức sống tiềm tàng mãnh liệt. Trong hạt giống có mầm sự sống, hễ cứ gặp điều kiện thuận lợi là mọc lên. Trong mầm sống có sự sống tiếp nguồn từ sự sống của Thiên Chúa. Nếu “Hạt lúa âm thầm mọc lên” (x. Mc 4,26-29) là hình ảnh sức sống tiềm tàng thì “Hạt lúa mục nát đi” (x. Ga 12,24) lại là một hình ảnh khác nói lên niềm hy vọng một mùa gặt mới sau khi chịu ‘mục nát”. Hạt giống là hồng ân Thiên Chúa, phong phú bao la và vô cùng mạnh mẽ. Điều quan trọng là hãy cho hạt giống một cơ hội để mọc lên.

Lời Chúa ví như hạt mưa. Khí hậu dù khắc nghiệt mấy cũng không triệt tiêu được hạt mưa. Giá rét, hạt mưa biến thành tuyết. Gió bão, hạt mưa biến thành bụi sương. Nóng rát, hạt mưa biến thành thể khí bay là là trên cát nóng. Rơi xuống sông biển hạt mưa hoà mình trong nước, trên đất khô hạt mưa thẩm thấu vào lòng đất.

  1. Niềm hy vọng mùa gặt phong phú

Nếu người gieo hạt đã đặt hy vọng vào từng mảnh đất bất kể mức độ tốt xấu thì bổn phận của đất là không được phụ lòng người quảng đại gieo hạt. Thiên Chúa làm được mọi sự nhưng Ngài cần con người cộng tác.Thiên Chúa vẫn luôn tin tưởng và hy vọng nơi con người.

Trong các hoạt động tông đồ, không cần phải phân tích người nào là lề đường, là sỏi đá hay bụi gai. Hạt giống cứ gieo vào đất, chúng ta hãy làm việc tốt cho người khác. Chính Thiên Chúa mới là Đấng làm cho hạt giống mọc lên và sinh hoa kết quả (x. 1 Cr 3, 5-9).

Niềm hy vọng phải là một đặc trưng của đời sống người kitô hữu. Chính niềm hy vọng đó sẽ giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống hiện tại, hướng tới một tương lai tươi sáng và một cuộc sống vĩnh cửu của người được làm con cái Thiên Chúa.

Mầu nhiệm Nước Trời còn ẩn chứa nhiều điều huyền diệu và chỉ cõi lòng nào chân thành, khiêm nhường đón nhận mới có cơ duyên thưởng thức những huyền diệu của Lời Hằng Sống. Nhận lấy hạt giống Lời Chúa trong mình, chúng ta từ từ sinh hoa trái trong Giáo Hội cho vinh quang của Thiên Chúa (GLCG # 1724).

Người nông dân có câu: “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Giống là cần thiết, nhưng nước, phân bón và công chăm sóc thật là quan trọng. Giống tốt, gieo xạ đúng quy trình kỹ thuật, nhưng để đất khô hạn thì lúa không lên xanh. Có giống, có nước mà không có phân bón thuốc trừ sâu, thì lúa sẽ èo uột không kết quả. Có được giống tốt, nước bảo đảm, phân thuốc đầy đủ, nhưng chẳng chăm sóc thì không thu lợi được bao nhiêu.

Người sáng, người mù hay người câm điếc cũng đều có thể nghe Lời Chúa, đón nhận hạt giống Lời Chúa gieo vào lòng, nhưng quan trọng là đem ra thực hành.

Có một mãnh đất hoang cỏ mọc um tùm. Ông Tư mua lại thửa đất ấy rồi cày xới, làm sạch cỏ, rồi ông trồng cây, trồng hoa, trồng rau. Một thời gian sau, mảnh đất trở thành một khu vườn thật đẹp. Một hôm, ông Tư đang làm việc trong vườn, cha xứ đi qua và nói: “Khu vườn thật là đẹp! Ông Tư thấy không, khi ông biết cộng tác với Thiên Chúa thì kết quả như thế đó”.Ông Tư trả lời: “Vâng, cha cứ thử nghĩ lại xem, miếng đất này như thế nào khi chỉ có một mình Chúa làm việc ở đây”.

Có gieo thì mới có gặt. Gieo giống nào thì gặt giống đó. Thánh Phaolô viết: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng” (Gl 6,7-9).

Hạt giống tốt mới có thể nảy mầm tốt, lớn thành cây tốt và sinh hoa trái tốt. Chúa Giêsu xác định: “Xem quả thì biết cây” (Mt 12,33; Lc 6,44). Cây tốt không thể sinh trái xấu, cây sâu không thể sinh trái ngọt. Đời sống tinh thần cần có “hạt giống tâm hồn”. Đời sống tâm linh rất cần “hạt giống Lời Chúa”.

Lời Chúa chính là ngọn đèn soi bước đường đi, là ánh sáng chỉ đường trong đêm tối và là lương thực nuôi linh hồn chúng ta. Lời Chúa như hạt giống, tự nó có sức phát triển mạnh mẽ, nhưng hạt giống ấy, tuy là hạt giống hảo hạng nhưng cũng cần có điều kiện thuận lợi để phát triển. Chúng ta có nhiệm vụ phải làm cho hạt giống ấy nảy nở và phát triển. Chúa đòi chúng ta phải cộng tác vào trong công việc này.

Noi gương Chúa Giêsu, chúng ta đi gieo hạt giống Lời Chúa, gieo hào phóng, gieo kiên trì, gieo hy vọng và nhất là gieo yêu thương. Gieo gì gặt nấy. Gieo bác ái chúng ta sẽ gặt được yêu thương, một mùa yêu thương tràn ngập đời sống hàng ngày.

Về mục lục

.

GIEO GIỐNG

Lm. Trần Việt Hùng

Dụ ngôn Chúa dậy hôm nay,

Nhìn người gieo giống, đôi tay nhịp nhàng.

Nắm từng vốc lúa chín vàng,

Đi gieo khắp chốn, từng hàng tung rơi.

Vệ đường ít hạt chơi vơi,

Chim trời ăn mất, chỗ nơi xa gần.

Hạt rơi xỏi đá ẩn thân,

Mặt trời nắng gắt, lột trần hạt tan.

Bụi gai hạt giống tràn lan,

Um tùm chết ngạt, bóng tàn héo hon.

Hạt rơi đất tốt mầm non,

Sinh hoa kết trái, vàng son đẹp mầu.

Nước Trời bí nhiệm cao sâu,

Thành tâm tìm hiểu, nguyện cầu khấn xin.

Trau dồi kiến thức niềm tin,

Canh tân hối cải, ngước nhìn trời cao.

Đức tin hạt giống truyền rao,

Mở lòng đón nhận, khát khao Nước Trời.

Thành tâm sám hối sống đời,

Hạt mầm gieo vãi, tuyệt vời phát sinh.

Hình ảnh người gieo giống nơi cánh đồng rất ấn tượng. Người gieo giống ra đi gieo hạt một cách rộng rãi quảng đại. Từng vốc hạt giống được tung ra. Hạt giống rơi xuống những vùng đất khác nhau. Có hạt rơi vào mảnh đất khô cằn, có hạt rơi bên vệ bờ, có hạt rơi vào vũng nuớc sâu và có hạt rơi vào vùng đất tốt phì nhiêu và đã sinh hoa kết trái.

Chúng ta biết rằng nhà nông chuẩn bị mảnh ruộng rất kỹ lưỡng trước khi gieo trồng. Họ chuẩn bị cầy xới, phơi đất ải, mương máng dẫn nuớc đầy đủ và rồi gieo vãi hạt giống. Hạt giống chất chứa mầu nhiệm sự sống. Bất cứ hạt giống nào cũng có tiềm năng nẩy sinh thành mầm cây. Tùy số phận mỗi hạt giống được tung gieo vào nơi đâu để được phát triển. Dụ ngôn Chúa dùng để chỉ một thực tại cụ thể. Mỗi người chúng ta được ví như một mảnh vườn đón nhận hạt giống. Chúa là người gieo hạt và hạt giống là Lời Chúa được gieo vào tâm hồn chúng ta.

Chúa gieo hạt lời Chúa nhiều lần. Gieo nhiều loại hạt khác nhau và gieo mỗi mùa. Có hạt của yêu thương, có hạt phục vụ, có hạt của hy sinh, mỗi hạt đều có sức biến đổi. Có những hạt rơi vào vùng đất thích hợp đã phát triển gấp trăm. Lời Chúa như hạt giống được chôn vùi dưới vùng đất tốt. Hạt giống vẫn chờ đợi khi có cơ hội sẽ phát triển.

Người ta khám phá ra rằng có nhiều hạt giống bị chôn sâu trong các mồ mả của Vua Ai-cập xưa. Họ lấy các hạt giống đem gieo và tưới nước. Thật ngạc nhiên, hạt giống mọc lên sau gần 5 ngàn năm bị chôn vùi dưới đất. Chúa Giêsu ví Ngài như hạt lúa miến bị chôn vùi và thối rữa để trở thành cây sinh nhiều hoa trái.

Mỗi người chúng ta nhận lãnh đức tin, đó chính là hạt giống trường sinh. Hạt giống đang chờ cơ hội bung ra và phát triển để sinh hoa kết qủa. Chúng ta hãy cầy xới tâm hồn để trở thành mảnh đất tốt. Đôi khi chúng ta sẽ cảm nhận sự xót xa đau đớn nhưng chỉ có xới lên được, nguồn nước mới thấm nhập giúp hạt giống nẩy mầm. Tâm hồn mới trở thành miền đất phì nhiêu và sẽ thu hoạch mùa bội thu.

Xin Chúa tiếp tục tưới gội và biến đổi tâm hồn chúng ta trở thành những mảnh đất mầu mỡ để đón nhận hồng ân của Chúa. Xin giúp chúng con phát triển không ngừng sinh hoa kết qủa và cho chúng con tiếp tục đem hạt giống lời Chúa tung gieo khắp nơi.

Về mục lục

.

NGHE VÀ HIỂU MẦU NHIỆM NƯỚC TRỜI

 Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty

Mỗi khi tiến lên bục giảng, tôi muốn mọi thính giả để tai lắng nghe các lời tôi nói, vì lúc đó tôi đinh ninh rằng mình đang công bố Lời Chúa, đang rao giảng về Nước Thiên Chúa. Dụ ngôn được kể hôm nay nhắc nhở tôi rằng, linh mục rao giảng Lời Chúa phải là người đầu tiên đặt ra cho chính mình câu hỏi: tôi có thật sự biết Nước Trời là gì không? và tôi đã từng nghe và hiểu mầu nhiệm Nước Trời chưa? Câu hỏi không thừa thãi chút nào, kể cả sau 40 năm đời linh mục, vì vẫn có nguy cơ tôi hiểu sai, hoặc chưa hề thực sự nghe Lời và hiểu thấu.

‘Con hãy chỉ cho cha con đường tới nhà thờ, và cha sẽ chỉ cho con đường về trời.’ câu nói danh tiếng đó của cha sở họ Ars – thánh Jean Marie Vianey thì mọi linh mục đều biết; có điều, rất thường khi ta lại hiểu ‘chỉ đường về trời’ là dạy bảo điều tốt lành để được rỗi linh hồn, lên thiên đàng. Và vì hiểu như thế nên linh mục về phần mình cố gắng sống đời thánh thiện gương mẫu, và rồi cho rằng việc mục vụ mà mình phải chu toàn chính yếu hệ tại ở việc giảng dạy cho giáo dân bổn đạo ăn ngay ở lành và nắm giữ các luật Chúa và luật Hội Thánh, nhất là các qui định về đạo giáo và luân lý.

Người Việt Nam chúng ta (giống người Do Thái) dùng chữ ‘trời’ để chỉ Thiên Chúa, vì thế Nước Trời là Nước Thiên Chúa. Trong ngôn ngữ bình dân, chúng ta cũng hiểu ‘trời’ là nơi xa xôi trên cao, ‘về quê trời’ là lên thiên đàng gặp gỡ Thiên Chúa sau khi chết v.v… Công việc giữ đạo vì thế hệ tại ở sống làm sao để sau khi chết được rỗi linh hồn, được về quê trời, được lên thiên đàng. Do đó trách nhiệm bổn phận chính yếu của linh mục là giúp bổn đạo đạt được điều đó… Chính vì thế mà… câu chuyện dụ ngôn hôm nay cũng dễ dàng được suy đoán và giải thích theo chiều hướng đó…

Nếu Lời là chính Đức Giêsu, và nếu rao giảng Nước Trời là chính công bố cuộc sống và cái chết thập giá của Người, thì đúng là hạt giống Nước Trời yêu thương và tha thứ đã được gieo vào trần gian. Nghe Lời và hiểu là chấp nhận Đức Giêsu, là chấp nhận ơn cứu rỗi của Người, là đi vào vương quốc tinh yêu tha thứ của Thiên Chúa. Người môn đệ của Đức Giêsu trước hết phải là ‘anh em được hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời’ vì đã tin và chấp nhận Giêsu là tình yêu tha thứ của Thiên Chúa. Bí tích rửa tội đã thực sự đưa họ vào Nước Trời và còn tiếp tục đưa vào ngày càng sâu hơn, miễn là họ còn luôn sẵn sàng đón lấy như thửa đất tốt được hạt giống gieo xuống. Thửa đất tốt khi đó không phải là những người ngay lành về mặt luân lý, cũng không phải là người học cao hiểu rộng về mặt tri thức, không phải là người chăm chú lắng tai nghe về mặt tâm lý. Đơn giản đó là những tâm hồn, trong tác động của Thần Khí và ân sủng, đang trong tư thế sẵn sàng lắng nghe, hiểu và chấp nhận Tình Yêu tha thứ hay Tình Yêu thương xót. Và hạt giống Tình Yêu đó sẽ tự động ‘sinh hoa kết quả, hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục’. Điều duy nhất con người cần làm để thửa đất được nên tốt là nhìn nhận thân phận tội lỗi, thấp hèn và đáng thương của mình, nhờ thế chân thành khao khát đón lấy Giêsu Cứu Chúa. Hiệu năng của hạt giống Lời gieo xuống lệ thuộc rất nhiều vào chiều sâu của cầy sâu cuốc bẫm này.

Nếu như thế, trước khi bước lên bục giảng để gieo Lời Tình Yêu cứu độ, tôi – linh mục của Lời – sẽ phải đi sâu vào con người bất toàn yếu đuối của chính mình. Câu kinh ngắn, ‘Xin Chúa thanh tẩy tâm hồn và môi miệng con…’ mà linh mục hay phó tế cúi mình thầm đọc trước công bố Tin Mừng là gợi nhớ cho chính tôi một thái độ chân thành và khiêm tốn. Và rồi hạt giống tôi gieo qua bài giảng của mình, bất kể lúc nào và trong hoàn cảnh nào, ngay cả trong các tình huống tệ hại và bi quan hơn hết, vẫn đích thực phải là Đức Kitô Giêsu – tình yêu Thiên Chúa thứ tha, chứ không phải một Đức Chúa công thẳng luận phạt gieo sợ hãi, hầu ép người nghe nắm giữ các giới răn hay luật buộc để mong được lên thiên đàng. Trong khi dọn bài giảng, chính tôi sẽ phải tự tra vấn: có thực sự tôi ‘nghe Lời và hiểu’ hay không; và chính tôi có phải là thửa đất tốt được cầy sới đang khiên tốn đón nhận hạt giống Nước Trời của lòng thương xót Chúa, và đang sinh bông hạt của cùng một tình yêu xót thương tha thứ hay không?

Lạy Đức Giêsu là chính hạt giống và người gieo giống Nước Trời, xin cho con, linh mục của Lời Chúa, trở thành thửa đất tốt sẵn sàng nhất đón nhận hạt giống của Tình Yêu xót thương. Và một khi đã đón nhận và làm cho hạt giống này sinh hoa kết trái (ít là được vài chục hạt), chính con sẽ tiếp tục cùng Chúa gieo vãi vào các thửa đất khác là tâm hồn các tín hữu. Xin liệt con vào số những ‘ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư dật’, không phải chỉ vì lợi ích riêng tư của mình, nhưng vì công tác gieo giống Chúa đã trao phó cho con, linh mục của Lời. Amen.

Về mục lục

.

SUY NIỆM CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN_A

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nam

Khi loan báo Tin mừng, Đức Giêsu thường dùng những hình ảnh, sự việc cụ thể, những biến cố, những sinh hoạt đời thường để trình bày về mầu nhiệm Nước Trời. Dụ ngôn người gieo giống là một ví dụ điển hình.

Người đi gieo giống là Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô. Hạt giống là lời Chúa. Lời Chúa được gieo vãi khắp nơi một cách thật phong phú: nơi vệ đường, nơi sỏi đá, bụi gai và đất tốt. Điều này chứng minh Thiên Chúa là người Cha quảng đại và yêu thương luôn mong muốn mọi người được nghe lời Chúa, được ơn cứu độ. Thiên Chúa rất hào phóng sẵn sàng ban lời Ngài cho mọi người. Điều quan trọng là thửa đất tâm hồn phải chuẩn bị tốt để hạt giống lời Chúa được gieo vãi và sinh hoa kết trái.

Sống đạo là sống lời Chúa, đưa lời Chúa vào cuộc sống, là thực thi thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc đời. Đức Giêsu đề cập đến bốn loại đất tiếp nhận lời Chúa cũng là bốn thái độ sống đạo của chúng ta:

– Sống đạo hình thức, đạo ở trong nhà thờ: đọc kinh cầu nguyện nhiều, lãnh các bí tích, tham dự thánh lễ… nhưng khi về nhà thì lời Chúa không còn ảnh hưởng đến cuộc sống: bất công với an hem, sống bất hòa với mọi người, không có tương quan tốt với mọi người trong gia đình cũng như xã hội. Đó là những thửa đất bên vệ đường!

– Sống đạo vụ lợi, vì thế khi gặp khó khăn, gặp thất bại, đau yếu bệnh tật thì thường oán thiên trách địa, than van kêu trách mọi người… Danh vọng, địa vị xã hội đã bóp nghẹt lời Chúa. Đó là những thửa đất tâm hồn đầy sỏi đá, hạt giống lời Chúa sẽ bị khô héo, càn cỗi không thể mọc lên được.

– Sống đạo xu thời, gió chiều nào thì nghiêng chiều đó, thiếu niềm tin vững chắc vào Chúa, sợ người đời, sợ mất nồi cơm bát gạo, ham mê thú vui vật chất, lo hưởng thụ. Đó là những tâm hồn đày gai góc. Thực tế biết bao nhiêu anh em cán bộ Công giáo đã khai lý lịch là không Công giáo, không dám xưng mình là Kitô hữu, không dám làm dấu thánh giá nơi công cộng… để có địa vị cao trong xã hội.

– Sống đạo chân thành với một đức tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa. Đó là những Kitô hữu biết yêu mến lời Chúa, thực hành lời Chúa, đem lời Chúa vào cuộc sống. Đó là những tâm hồn tốt, thửa đất tốt sẽ sinh hoa kết trái khi lời Chúa được gieo vào. Nói cách khác những Kitô hữu ngoan đạo là biết thực thi lời Chúa! Tương quan tốt với Chúa và với mọi người trong tình yêu thương huynh đệ, bác ái.

Nhận xét chung thì thấy có tới ba loại Kitô hữu không tha thiết với lời Chúa, coi đạo không cần thiết cho cuộc sống. Đạo chỉ là viên thuốc an thần, là bùa hộ mạng, cần thì dung, không cần thì thôi. Những người này thay vì tôn thờ và yêu mến Thiên Chúa, thì họ bắt Thiên Chúa phục vụ họ. Lời Chúa gieo vào long họ không kết quả, vì không thành tâm tiếp nhận, không thực hành lời Chúa, không theo thánh ý Chúa.

Chỉ còn một phần ít Kitô hữu sống đạo tốt, chuẩn bị tâm hồn để đón nhận hạt giống lời Chúa và đem ra thực hành với kết quả tốt, hạt được 100, 60, 30…

Người Kitô hữu phải yêu mến lời Chúa. Vì lời Chúa là ngọn đèn hướng dẫn cuộc đời chúng ta, là sức mạnh có sức biến đổi cuộc sống chúng ta. Trường hợp thánh Phanxicô Xaviê, nhờ thánh Ignatiô nhắc nhở: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì”. Câu thánh kinh này đã biến đổi cuộc đời thánh Phanxicô Xaviê thành nhà truyền giáo nhiệt thành.

Về mục lục

.

THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI ĐÓN NHẬN HAY LÀ TẤM LÒNG CỦA NGƯỜI GIEO

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Thoạt nghe bài Tin Mừng vốn đã quen tai là dụ ngôn người gieo giống, chúng ta không khỏi nghĩ ngay đến những thái độ khác nhau của người nghe Lời Chúa. Cũng là lắng nghe Lời, nhưng tùy thuộc vào thái độ tiếp nhận thì mới có những hiệu quả tốt xấu, ít nhiều, khác nhau. Một số nhà nghiên cứu Tin Mừng cho rằng có lẻ xuất phát bởi nhu cầu của Hội Thánh sơ khai trong việc đón nhận Lời Chúa nên các tác giả Tin Mừng đã thêm vào phần giải thích bài dụ ngôn (parabole) theo kiểu văn phong thể phóng dụ (allégorie), tức là áp dụng từng chi tiết của câu chuyện, một thể văn mà các giáo phụ thường dùng, khác với thể văn dụ ngôn, một thể văn thông dụng thời Chúa Giêsu, là thường chỉ nhắm đến một điều muốn nói.

Dù sao đi nữa thì Lời Chúa vẫn nguồn sống cho mọi người, mọi hoàn cảnh. Việc thiên về thái độ của người đón nhận Lời đã, đang và mãi còn chân giá trị. Ân sủng không loại bỏ tự nhiên, một chân lý mà Hội Thánh luôn khẳng định cách chắc chắn. Tuy nhiên, xin được chia sẻ một vài ý tưởng nhỏ khi nhìn ngắm tấm lòng của người gieo giống.

1.  Thiên Chúa muốn mọi người nhận biết chân lý (x.1Tim 2,3-4): Đây là một sự thật cần khẳng định mà không sợ sai lầm. Đấng Toàn Thiện sẵn sàng cho mưa rơi đều trên người lành lẫn kẻ dữ, cho mặt trời mọc lên soi sáng người công chính lẫn tội nhân hẳn là Đấng không muốn bất cứ một ai phải hư mất. Chính vì thế Thiên Chúa không chỉ muốn mà còn tìm đủ cách thế, giúp mọi người nhận biết chân lý, để được sống trong hạnh phúc viên mãn (x. Mt 5,45; Ga 6,39).

Có lẽ hình thức “cấy mạ” chưa hình thành và phát triển trong nghề nông vào thời bấy giờ. Ngay cả với ngành nông nghiệp hiện đại hôm nay thì cách thức gieo hạt, người Việt Nam ta gọi là “sạ lúa” vẫn còn phổ biến. Nhìn người nông phu vung tay sạ lúa giữa trời trưa, nhiều gió, chúng ta thoáng thấy một nét đẹp của sự hào phóng.

Từng nắm lúa được tung gieo theo chiều gió. Có nhiều hạt rơi trên mảnh đất đã cày xới, cũng có nhiều hạt vung vải trên bờ giường, bờ thuở…Bác nông phu chẳng tiếc, chẳng nao. Làm sao tránh được những hao hụt. Nhưng không sao, mùa vụ trước mắt sẽ dư đầy. Trở lại với dụ ngôn Chúa Giêsu kể năm nào. Người chỉ nêu có bốn loại hạt rơi ở bốn mảnh đất khác nhau. Giả như số hạt ấy được chia đều cho bốn loại đất, ta thử làm con tính xem sao. Mất ba, chỉ được một. Tưởng chừng như thua lỗ, nhưng vẫn còn dư lãi. Chỉ với một loại hạt rơi trên đất tốt, đã có hạt sinh một trăm, hạt sinh sáu mươi, hạt sinh ba mươi. Thế là sinh lợi bình quân trên sáu mươi. Khấu trừ cho ba loại hạt có vẻ như đã mất thì vẫn còn lãi dư nhiều.

Tấm lòng của Thiên Chúa, Đấng gieo hạt Lời từ trên, thật bao la khôn xiết. Người đã gieo Lời Người khắp cả vũ hoàn. Mỗi kỳ công tay Người tác tạo, dù chẳng một âm thanh, nhưng là mỗi Lời của Người được tung gieo (x.Tv 18,2-5). Thiên Chúa gieo Lời của Người vào tận đáy lòng mỗi con người. Chẳng máy móc tân kỳ nào có thể ghi âm, nhưng hiệu quả của “tiếng lòng” ấy không ai là không chân nhận, mỗi khi lý trí đã biết xét suy. Thiên Chúa gieo Lời của Người qua các biến cố lịch sử, đặc biệt qua lịch sử một dân được tuyển chọn và đến thời kỳ viên mãn Người đã gieo Lời trọn hảo của Người qua chính Con Một làm người (x.Dt 1,1-2). Rất có thể bị hao hụt phần nào, nhưng “cũng như mưa với tuyết sa từ trời không trở về trời mà không sinh hiệu quả thì Lời của Thiên Chúa sẽ không trở về với với Người nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Người, chưa chu toàn sứ mạng Người giao phó” (x. Is 55,10-11).

  1. Dù đối với loài người là không thể, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể (x. Lc 1,37; Mt 19,26):

Vệ đường, đất sỏi đá hay đất đầy gai góc, tất cả đều có thể mọc cây, đơm bông, kết hạt. Đây là chuyện không còn viễn vông đối với khoa học công nghệ hiện đại. Sa mạc biến thành vườn rau hay thành cánh đồng cây ăn trái, không còn là chuyện xưa nay hiếm. Nhiều thứ cỏ dại như cỏ cú, cỏ chỉ, cỏ tranh không còn là nan trị đối với nông gia ngày nay. Không chỉ ở thôn quê mà ngay cả ở thành thị, những con đường đã phủ đầy cây xanh. Nhưng sự khả thể ngày càng mở ra trước mắt chúng ta. Cây sẽ mọc và đơm hoa kết trái, nếu có đủ nước và khí trời.

Với quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa thì mọi sự đều là có thể. Thiên Chúa đã ban tất cả cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô. “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8,32).

Vấn đề còn lại là ở mảnh đất có “sâu” đủ và “thoáng” đủ, để đón nhận nước và khí trời. Đây chính là sự khiêm nhu và lòng thành hướng thiện của mỗi người chúng ta. Nếu có sự hướng thiện và khiêm nhu chân thành thì dù cho cuộc đời ta, hoàn cảnh sống của ta như mảnh đất đầy sỏi đá hay nhiều gai góc cũng sẽ trở thành mảnh đất tốt để cho hạt giống Lời nẩy mầm, thành cây, đơm bông và kết hạt.

3.  Hãy mặc lấy tấm lòng của Người gieo giống: Chúng ta cần có chút cẩn trọng để đừng “ném ngọc trai cho heo”. Đừng làm cớ cho người ta xúc phạm đến những gì thánh thiêng một khi đã suy xét và lường trước sự việc. Tuy nhiên, việc tích cực gieo rắc Lời Chúa bằng nhiều hình thức một cách nào đó nói lên tấm lòng của ta với tha nhân và nói lên niềm tin của ta vào quyền năng của Chúa và vào sức mạnh của Lời. Thánh Tông đồ dân ngoại dạy ta: Hãy rao giảng Tin mừng khi thuận lợi cũng như lúc không thuận lợi. Kitô hữu chúng ta hẳn không quên câu Lời Chúa: “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn nào có ích gì” (Mt 16,26), đã làm trổ sinh cho nhân loại, cho Hội Thánh một Phanxicô Xavie, vị thánh nhiệt tình rao giảng Tin mừng cho lương dân. Đoạn Tin Mừng Mt 10,7-10 đã góp phần dệt xây nên một “người nghèo của Thiên Chúa là Phanxicô khó khăn cùng với Hội Dòng anh em hèn mọn…

Người gieo, kẻ gặt, nhưng chính Thiên Chúa là Người cho mọc lên. Không ai thắp đèn rồi lấy thùng úp lên. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, hãy lên mái nhà mà rao giảng (x. Mc 4,21-24; Mt 10,27). Dù mệt nhọc, muốn nghỉ ngơi cùng với các môn đệ, nhưng khi thấy đoàn người đông đảo, Chúa Giêsu động lòng xót thương, Người lại tiếp tục rao giảng (x. Mc 6,34). Hãy có tấm lòng với anh chị em đồng loại, đồng thời tin tưởng vào sức mạnh của Lời, để nhiệt thành gieo rắc hạt giống. Vì đêm hay ngày, ta ngủ hay thức thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, trổ bông, đơm hạt (x. Mc 4,26-29).

Về mục lục

.

HÃY MẶC LẤY TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI GIEO GIỐNG

Tu sĩ Jos. Vinc. Ngọc Biển

Trong quá trình loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã dùng nhiều dụ ngôn khác nhau để giúp cho người Dothái cùng thời thay đổi thái độ và cách sống sao cho phù hợp với Tin Mừng.

Hôm nay, Đức Giêsu tiếp tục dùng dụ ngôn “người gieo giống” để giúp cho người nghe hiểu ý nghĩa của nội dung lời giảng.

  1. Cách gieo hạt và thửa ruộng của người Dothái

Người Dothái xưa không có những cánh đồng bằng phẳng như ở đồng bằng của Việt Nam, mà thửa ruộng của họ thuộc loại bậc thang trên sườn đồi như những vùng núi Trung du và thượng du gồm  sơn địa và bán sơn địa như ở miền Bắc Việt Nam. Như vậy, thửa ruộng của họ thường có sỏi đá, gai góc và thiếu nước.

Cách thức gieo hạt của họ rất giống với cách sạ lúa của người Nam Bộ chúng ta. Tức là họ không cấy từng cụm như đồng bằng, mà họ rắc hạt trên thửa đất của mình.

Sau khi quan sát và thấy hình ảnh của người gieo hạt cũng như những thửa đất khác nhau, Đức Giêsu đã rất tinh tế khi dùng dụ ngôn này để nói về thái độ của dân chúng khi lắng nghe Lời Chúa và sự quảng đại, hào phóng của Thiên Chúa khi gieo giống. 

  1. Tâm tình người đi gieo giống

Đức Giêsu đưa ra hình ảnh của người gieo giống thật kỳ lạ: ông là người hào phóng. Chỗ nào cũng gieo. Gieo vung vãi không tiếc hạt, tiếc công. Gieo một cách quảng đại, không phân biệt bất cứ loại đất nào. Gieo cả nơi sỏi đá, vệ đường, bụi gai. Ông gieo trong thái độ kiên trì và trung thành, không tính toán thiệt hơn, không biết mỏi mệt và không hề thất vọng.

Ông đầu tư hết tất cả những gì mình có. như: tiền tài, vốn liếng, sức khỏe và cả ngày lẫn đêm. Ông gieo mọi nơi mọi chốn.

Có được điều ấy, hẳn ông là người có tham vọng lớn, một trái tim rộng mở để vượt qua mọi rào cản, khó khăn, để tung gieo từng hạt giống, bất chất mọi sự ngỗ nghịch. Ông có một tình yêu bao la, vượt lên trên tất cả, miễn sao hạt giống được tung ra và rơi vào mọi môi trường.

Nói như thế, không có nghĩa ông là người vô trách nhiệm, không chuyên nghiệp, nhưng muốn diễn tả hình ảnh một người nông dân cần cù, chịu khó, kiên trì và quảng đại. Hình ảnh đó không ai khác ngoài Thiên Chúa, mà hiện thân chính là Đức Giêsu, người đang nói qua dụ ngôn.

Thật vậy, Thiên Chúa say mê con người, không ngừng tìm mọi cách để mong sao con người nhận ra chân lý, tình thương để cải hóa bản thân cho tốt hơn. Vì thế, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu phổ quát, một tình yêu đi bước trước, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, địa vị, màu da, sắc tộc…, vì “Người làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên kẻ lành cũng như người bất lương…”

  1. Thái độ của mỗi chúng ta trong vai trò của người gieo và nhận

Khi dùng dụ ngôn “người gieo giống” và nhiều loại đất khác nhau, Đức Giêsu mong muốn mỗi người chúng ta cũng mang trong mình tâm tình của người gieo giống. Tức là gieo trong hy sinh, vất vả, không tính toán hơn thiệt, không ích kỷ nhỏ nhen. Bổn phận của người môn đệ chính là mau mắn lên đường, tung hoành khắp nơi, biết tận dụng mọi thời gian, phương tiện để miễn sao Lời Chúa được loan xa tới mọi nơi, mọi chốn, không phân biệt họ là ai, cuộc sống và địa vị của họ như thế nào…

Thật vậy, chúng ta cứ trung thành và quảng đại, còn thành công là do Chúa chứ không phải hoàn toàn ở khả năng của chúng ta. Tinh thần này đã được thánh Phaolô nói đến khi ngài xác định: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Ðấng làm cho lớn lên, mới đáng kể” (1 Cr 3,6-7).

Làm được điều đó, chúng ta cần có một trái tim đủ lớn để yêu thương,  kiên trì và trung thành.

Là Kitô hữu, chúng ta được hạt giống là chính Lời của Chúa gieo vào lòng chúng ta từ ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Rồi tiếp tục trải qua dòng thời gian, chúng ta có nhiều điều kiện để cho “Hạt Giống” ấy nẩy mầm và sinh hoa kết trái dồi dào. Nhưng thử hỏi, mỗi chúng ta có sẵn sàng để trở thành thửa đất tốt tươi hay chỉ là sỏi đá, ven đường và gai góc?

Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi chúng ta hãy có tấm lòng bao dung, độ lượng như người gieo giống, đồng thời cũng phải có thái độ cởi mở, hân hoan, đơn sơ và yêu mến để cho hạt giống được nảy mầm, trổ sinh hoa trái dồi dào như những thửa đất tốt.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con được mặc lấy tâm tình của người gieo giống, đồng thời cũng trở nên những thửa đất tốt để hạt giống Lời Chúa được trổ sinh hoa trái dồi dào nơi tâm hồn chúng con. Amen.

Về mục lục

.

HẠT GIỐNG LỜI CHÚA – MẢNH ĐẤT TÂM HỒN

P.Trần Đình Phan Tiến

LỜI Chúa ví như “hạt Giống”  được gieo vào tâm hồn nhân thế, vì vậy, không phải tâm hồn nào cũng giống tâm hồn nào, có tâm hồn cao thượng, có tâm hồn phi thường, bình thường, thì cũng có những tâm hồn khác thường, dị thường. Nói chung, người ta thường nói :” chin người, mười ý”, mỗi một cá thể con người là mỗi hoang địa phức tạp, hay những phù sa màu mỡ, hoặc sa mạc cát trắng hay đồng bằng phì nhiêu, thì hạt giống Lời Chúa mới sinh hoa kết trái theo sự phù hợp đó.

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy được lòng người nhân thế “vô định”. Dụ ngôn người gieo giống là một minh họa rõ nét nhất về điều đó.

Khởi đi từ Bài đọc I hôm nay ( Isa 55, 10-11) cho biết “ Công hiệu Lời Chúa”, nghĩa là Lời Chúa như hạt giống người nông dân gieo vãi, không trở lại với người gieo, mà là phải được sinh sôi, nảy nở. Lời Chúa cũng vậy, được phán ra  khỏi miệng Thiên Chúa, thì không trở lại với Ngài nữa, nhưng sẽ trổ sinh kết quả tùy theo Ý Chúa.

Không phải mọi người kêu: “ Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời”, vì Nước Trời không phải là cái chợ đời, chúng ta nhớ lại có lần Chúa Giêsu đã nói : Nước Trời là Cửa hẹp, vì thế, muốn vào được Nước Trời, thì nhân thế phải cuộc sống nầy bằng Lời Chúa.

Không phải nghĩ rằng : Đạo Công giáo sẽ tha thứ hết. Vâng, sẽ tha thứ hết, nếu những tội không xúc phạm đến Thánh Linh, không xúc phạm đến những mầu nhiệm siêu nhiên của Thiên Chúa.

Ngày nay kể cả người Công giáo, họ cũng xem thường những lời giáo huấn của Chúa Giêsu, xúc phạm đến Chúa thánh Thần mà họ không biết, hoặc chủ tâm. Những kẻ “giết “ Chúa Giêsu đều được tha, hay những tội xúc phạm đến tha nhân  đều được tha, nhưng những tội phạm đến chính Thiên Chúa, là những tội khinh dễ các mầu nhiệm siêu nhiên hoặc hữu hình, xem thường các Bí Tích, tội lộng ngôn, kể cả người công giáo, họ cậy thế dựa vào chính quyền nầy, thể chế nầy, để phá hoại, hoặc bách hại Giáo Hội.

Trong hàng ngũ giáo dân công giáo, họ cũng đang làm đảo lộn tất cả, nói xấu linh mục, kéo bè, kéo cánh, là đủ mọi chuyện, họ đinh ninh rằng cứ làm cho “đã nư” rồi khi chết sẽ ăn năn sam hối thì sẽ được tha thứ, hoàn toàn sai lầm. Thiên đàng và hỏa ngục là chuyện đúng sai, nhưng chỉ duy một mình Thiên Chúa mới là Đấng phán xử ĐÚNG –SAI ấy, chứ không phải bất cứ một nhân vật nào khác.Vì cuối cùng của đời người là chỉ có hai cửa mà thôi đó là : THIÊN ĐÀNG và HỎA NGỤC.

Thiên Chúa luôn tha thứ và tha thứ, nhưng sự tha thứ hay trừng phạt được ban cho Giáo Hội, Giáo Hội trao quyền cho Thừa Tác Viên có chức Thánh là Linh mục, nếu linh mục tha phạt không đúng, thì họ phải chịu trách nhiệm trước Mặt Thiên Chúa. Nhưng, có một tội không ai dám tha, đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần. Tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội nào? Thưa , dó là tội phỉ bang Đạo công giáo, nói xấu, xuyên tạc, bôi bác, vu khống, mạ lỵ Bí Tích Thánh Thể, xem thường đức tin của Hội Thánh, đặt Đạo Thánh Chúa ngang hàng hoặc thua kém với những thể chế chính trị.

Mầu Nhiệm Đạo Công giáo không phải là thể chế chính trị độc đoán, hay một đảng phái tràn thế. Vì vậy, Đạo Công giáo là một mầu nhiệm của tình thương, nhưng tình thương ấy phải căn cứ vào Lời Chúa, sự tha thứ cảu Đạo Công giáo không phải tùy tiện, nhu nhược xô bồ, mà là phải dựa trên tiêu chí của tình thương, cũng như khiêm nhường không phải cúi mình xuống cho người ta chà đạp, mà nhìn nhận chân lý và tình thương bởi Thiên Chúa, chứ không phải do chính ai khác. Nhân thế không thể tự cao phủ nhận Thiên Chúa, cũng như không thể lợi dụng tình thương của Thiên Chúa mà đứng trên tha nhân.

Đó là những mảnh đất có đầy bụi gai, gai mọc um tùm Hạt giống Lời Chúa chết nghẹt, không lớn lên được. Những hạt rơi xuống vệ đường, hay trên đá sỏi, mặc nhiên không đủ điều kiện để mọc lên.

Dù rằng mọi người đều là tội nhân trước mặt Thiên Chúa, nhưng tội nhân “Phêrô”, hay “Phaolo”, thì khác với tội nhân là ”Giuđa”. Giu-đa không pahi3 không được tha thứ, nhưng vì Giu-đa không biết ăn năn, và không tìn vào Lòng Thương Xót của Thiên Chúa.

Có nhiều hạng người kiêu ngạo, tự cho mình hiểu biết hơn người khác, làm ra vẻ “rành rẽ” hiểu Đạo, lên mặt dạy đời, trong khi “cái xà trong mắt mình không thấy, lại đòi lấy cái rác trong mắt tha nhân “. Cũng không thiếu những người đi tu vì ham lợi lộc chức quyền, khi vào thấy không đạt được thì chuồn ra.

Cùng với những mảnh đất sỏi đá, hay cằn cỗi, thì những mảnh đất màu mỡ nảy sinh nhiều bông hạt, có hạt được ba mươi, sáu mươi, hạt được một trăm. Đó là những mảnh đất tâm hồn chân thật, công chính, như Lời Thánh Vịnh :  Linh hồn người công chính ở trong tay Chúa, đau khổ, chết choc không làm gì họ được …”  Theo đó, Hạt Giống Lời Chúa rất cần và phải phù hợp với MẢNH ĐẤT TÂM HỒN của người nghe ./. Amen

Lạy Chúa Giêsu, Chùa đã dùng dụ ngôn “Người gieo giống”, để dạy cho chúng con biết phát huy Lời Chúa trong mọi môi trường hoàn cảnh, hầu làm sáng Danh Chúa mọi lúc , mọi nơi. Xin cho chúng con biết trung tín, tôn thờ và thực thi Lời Chúa, hầu mang lại hoa trái cho chúng con như lòng Chúa mong ước ./. Amen

Về mục lục

.

HẠT TÂM LINH

Trầm Thiên Thu

Quả và Cây luôn có hệ lụy với nhau theo quy trình Gieo – Gặt. Muốn gieo thì phải có hạt. Chúa Giêsu đã xác định: “Xem quả thì biết cây” (Mt 12:33; Lc 6:44). Cây tốt không thể sinh trái xấu, cây sâu không thể sinh trái ngọt. Về tinh thần cũng cần có “hạt giống tâm hồn”. Tương tự, “khu vườn” tâm linh rất cần “hạt giống Lời Chúa”.

Nói và Nghe là hoạt động hằng ngày, vì Nói là Gieo, Nghe là Gặt. Tương tự, Lòng và Miệng cũng không thể tách rời: “Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Lc 6:45). Người Việt có câu: “Có đầy mới tràn”. Một hệ lụy tất yếu, Chúa Giêsu nói rõ: “Vì nhờ lời nói của anh mà anh sẽ được trắng án, và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12:37). Cuộc sống là một chuỗi gieo – gặt không ngừng, dù vô tình hay hữu ý. Đừng nghĩ rằng “lời nói theo gió bay” hoặc “vào tai này, ra tai kia”.

Samuel Smiles (1812–1904, Anh quốc) nhận định: “Gieo suy nghĩ, gặt hành động; gieo hành động, gặt thói quen; gieo thói quen, gặt tính cách; gieo tính cách, gặt số phận”. Hạt tốt mới nảy mầm thành cây tốt, từ đó mới có quả tốt. Lời khôn ngoan mới đủ sức lay động lòng người. Khổng Tử phân tích: “Người khôn ngoan hỏi nguyên do ở bản thân, kẻ dại khờ hỏi nguyên do ở người khác”.

Chắc chắn rằng muốn Gặt thì phải Gieo, trước khi Gieo thì phải có Hạt Giống. Hạt giống là thứ rất quan trọng trong nông nghiệp. Hạt giống phải là những hạt giống mẩy, chắc, có màu sáng. Hầu hết các loại hạt cây lương thực đều gồm ba phần là vỏ, phôi và phôi nhũ. Vỏ có nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho hạt, không để phôi hạt bị hư hỏng, vì phôi là “sinh mệnh” của hạt, có nhiệm vụ nảy mầm để có thể trở thành cây con, còn phôi nhũ là phần chứa dưỡng chất của hạt, là phần nuôi cây con. Tương tự, hạt tâm linh cũng cần hạt tốt để có cây tốt và quả tốt. Chắc chắn rằng “hạt giống tốt” cho mảnh đất tâm linh không gì khác hơn là chính Hạt Giống Lời Chúa.

Ai đã từng làm nông nghiệp thì biết rằng từ khi gieo tới lúc gặt (thu hoạch) là một quá trình đầy gian khổ. Thật vậy, Thánh Vịnh gia nói: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng. Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo; lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng” (Tv 126:5-6). Nỗi buồn và niềm vui, đau khổ và sung sướng, nụ cười và nước mắt,… đó là các cặp tương đồng về hai trạng thái trái ngược nhau, cũng như Gieo và Gặt. Gieo là lúc vất vả, gặt là lúc tận hưởng. Quả thật, không có niềm hạnh phúc nào mà không có ít nhiều nước mắt. Nước mắt càng nhiều và càng mặn thì hạnh phúc càng lớn và càng ngọt.

Vấn đề thời tiết cũng là điều quan yếu trong quá trình Gieo và Gặt. Không mưa thuận gió hòa thì con người cũng “bó tay”. Hoặc đến ngày thu hoạch, nhưng chỉ một cơn bão hoặc lũ lụt thì con người cũng đành chịu trắng tay. Điều đó cho thấy Đấng Vô Hình mới làm chủ mọi thứ, Đấng đó chính là Thiên Chúa. Vừa kinh ngạc vừa kinh sợ, đã có lần người ta phải nghi vấn về Đức Giêsu Kitô khi Ngài điều khiển cả thiên nhiên: “Ông này là người thế nào mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8:27; Mc 4:41; Lc 8:25).

Thuở xưa, qua miệng ngôn sứ Isaia, Đức Chúa đã tuyên phán: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó” (Is 55:10-11). Thiên Chúa dùng hình ảnh rất quen thuộc, rất thực tế trong đời thường. Lời Chúa rất kỳ diệu, rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105). Không chỉ vậy, Lời Chúa còn có sức mạnh phi thường, không ai có thể cưỡng lại.

Thánh Vịnh gia chia sẻ về việc cảm nghiệm Lời Chúa: “Thăm trái đất, Ngài tuôn mưa móc, cho ngập tràn phú túc giàu sang, suối trời trữ nước mênh mang, dọn đất sẵn sàng đón lúa trổ bông. Tưới từng luống, san từng mô đất, khiến dầm mưa cho hạt nẩy mầm, bốn mùa Chúa đổ hồng ân, Ngài gieo mầu mỡ ngập tràn lối đi” (Tv 65:10-12). Hồng ân Thiên Chúa chan hòa như mưa móc, Lời Chúa là nguồn giải khát thiết yếu, ước gì chúng ta cũng có thể nói được như Thánh Vịnh gia: “Con há miệng và con hớp lấy, vì khát khao mệnh lệnh của Ngài” (Tv 119:131). Hằng ngày ai sống được vậy thì thật hạnh phúc biết bao! Đó là “khéo sống”, là sống khôn ngoan, mà đức khôn ngoan rất cao quý: “Được khôn ngoan tốt hơn được vàng, được hiểu biết quý hơn được bạc” (Cn 16:16).

Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong – Thuận với Trời thì còn, nghịch với Trời thì mất. Thiên nhiên chứng tỏ Thiên Chúa hiện hữu, khắp nơi tràn ngập hình ảnh chứng tỏ quyền năng của Thiên Chúa: “Vùng hoang địa xanh rì ngọn cỏ, cảnh núi đồi hớn hở tươi xinh, chiên cừu phủ trắng đồng xanh, lúa vàng dưới lũng rung rinh dạt dào, câu hò tiếng hát trổi cao” (Tv 65:13-14). Càng nhìn ngắm thiên nhiên, người ta càng khả dĩ nhận biết Thiên Chúa hiện hữu. Ngay cả những người theo chủ nghĩa vô thần cũng không thể chối bỏ Ông Trời, bởi vì họ vẫn thắp nhang cho người quá cố, mặc dù họ không muốn công khai xác nhận, nghĩa là họ tự mâu thuẫn, và chắc chắn rằng họ không thể nào “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa” như họ muốn.

Trong cuộc sống thường nhật, bằng cách này hoặc cách nọ, chúng ta cũng “gieo” nhiều thứ qua ánh mắt, thái độ, cử chỉ, lời nói, hành động,… Có những thứ chúng ta có thể “gặt” ngay lúc đó, nhưng cũng có những thứ cần có thời gian. Dù lâu hay mau, trong khoảng “gieo – gặt” vẫn có một khoảng chờ đợi. Thánh Phaolô nhận xét: “Tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người” (Rm 8:18-19). Đó là khoảng chờ đợi, khoảng hy vọng, luôn rất cần có sự kiên trì, tính kiên nhẫn. Thánh Phaolô giải thích: “Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8:20-21).

Có tự do là có hạnh phúc, khi được giải thoát là được sống tự do. Thánh Phaolô cho biết thêm: “Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở. Không phải muôn loài mà thôi, cả chúng ta cũng rên siết trong lòng: chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí như ân huệ mở đầu, nhưng còn trông đợi Thiên Chúa ban cho trọn quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa” (Rm 8:22-23). Quả thật, đó là lúc thực sự được giải thoát, được thu hoạch chính những gì chúng ta đã “gieo” trong suốt cuộc đời. Ai gieo giống tốt thì bội thu, ai gieo giống xấu cũng có thu hoạch, nhưng là thu hoạch những cái xấu xa và nguy hại.

Kinh Thánh cho biết: Một hôm, thấy Đức Giêsu ra Biển Hồ, đông đảo dân chúng kéo đến tụ họp bên Ngài, thế nên Ngài phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng đứng trên bờ. Khi đó, Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều, một trong các dụ ngôn đó là “Dụ Ngôn Người Gieo Giống” (Mt 13:1-23; Mc 4:1-20; Lc 8:4-15).

Trong dụ ngôn này, Chúa Giêsu đề cập bốn loại hạt: (1) Loại hạt rơi xuống vệ đường, bị chim chóc ăn mất; (2) Loại hạt rơi trên nơi sỏi đá, đất không nhiều, nó mọc ngay nhưng bị cháy khô khi nắng lên; (3) Loại hạt rơi vào bụi gai, bị chết nghẹt vì gai mọc đè lên; (4) Loại hạt rơi vào đất tốt nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.

Kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu nói: “Ai có tai thì nghe” (Mt 13:9). Đây là cách nói khiến chúng ta phài suy nghĩ nhiều. Tại sao Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói? Chúa Giêsu giải thích: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽbị lấy mất. Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìnmà không nhìnnghe mà không nghe không hiểu. Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã rachai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành” (Mt 13:11-15). Ung thư là dạng xơ cứng cơ phận nào đó, rất đáng sợ; “chai sạn” là dạng xơ cứng tâm hồn, chứng ung thư linh hồn, đáng sợ h7n nhiều. Cứng lòng cũng là tội xúc phạm tới Chúa Thánh Thần, một dạng “ung thư tâm linh”, bất trị, thế nên không được tha cả ở đời này lẫn đời sau (x. Mc 3:29; Lc 12:10).

Đối với những người thành tâm, tâm hồn mềm chứ không cứng, Chúa Giêsu đã lên tiếng chúc mừng: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13:16-17). Chúng ta không diễm phúc trực diện với Chúa Giêsu như các tông đồ xưa, nhưng chúng ta lại “gặp gỡ” Ngài bằng con mắt đức tin, và được một mối phúc khác: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Thấy hay không thấy trực tiếp, điều đó không thành vấn đề, mà vấn đề là TIN hay KHÔNG TIN.

Đề cập đức tin và để củng cố đức tin, hãy nghe giáo sư Robert Andrews Millikan Millikan (1868–1953, nhà vật lý danh tiếng người Mỹ, đạt giải nobel vật lý năm 1923) nhận định: “Tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng sự vô tín không có nền tảng khoa học. Tôi thấy giữa đức tin và khoa học không có gì mâu thuẫn với nhau cả”.

Trong tất cả các dụ ngôn, có lẽ dụ ngôn Người Gieo Giống khó hiểu nhất đối với phàm nhân. Vì thế, Chúa Giêsu đã phải giải thích chi tiết: “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục” (Mt 13:19-23). Lời giải thích của Chúa Giêsu chính xác và mạch lạc, chẳng cần lời giải thích nào nữa!

Thiết tưởng, có thể chúng ta chưa đến nỗi là “hạt gieo bên vệ đường”, nhưng rất có thể là “hạt gieo nơi đá sỏi” và “hạt gieo vào bụi gai”, bởi vì chúng ta có nhiều những nỗi sợ hãi và nỗi lo lắng – đôi khi vô cớ và vô lý. Vả lại, đôi khi chúng ta còn ảo tưởng, bởi vì chúng ta có vẻ rất “ngoan ngoãn và hiền lành như chiên” khi ở trong khuôn viên nhà thờ, nhưng khi ra ngoài nhà thờ thì… “khác hẳn”, y như các ảo thuật gia có thể biến Chiên thành Cọp, David Copperfield còn “thua xa”, và chắc hẳn mỗi chúng ta cũng nên “tự xem lại” chính mình lắm. Sự thật thì vẫn hay phũ phàng thế đấy, nhưng chỉ có thuốc đắng mới “đã” tật mà thôi, không thể khác được!

Cuộc sống cho biết rằng công thức là điều cần thiết, bởi vì cái gì cũng cần có “luật” nhất định, và nghi thức hoặc nghi lễ cũng vậy, nhưng đừng quá câu nệ vào hình thức, đừng coi trọng số lượng mà coi thường chất lượng!

Hạt giống là hạt đời, có nhiều dạng hạt lép và cũng có nhiều dạng hạt mẩy. Tính từ “mẩy” hoặc “lép” đôi khi còn do chính chúng ta gán ghép cho người khác, chứ không phải tại hạt. Chí Phèo cũng muốn sống tốt mà tại thành kiến của người đời khiến anh ta không thể “ngóc đầu” lên được, anh ta muốn hoàn lương mà người ta cứ “đè” anh ta xuống. Hạt Chí Phèo muốn “mẩy” mà bị người đời làm cho “lép”. Vì thế mà có những dạng “cùi không sợ lở”. Lỗi tại ai? Lỗi tại tôi ba lần đủ chưa? Và chúng ta có thật lòng “đấm ngực” không? Ai thực sự can đảm mới có thể trả lời!

Hệ lụy Gieo – Gặt mang tính liên đới. Thánh Phaolô nói: “Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy. Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí là sự sống đời đời. Khi làm điều thiện, chúng ta đừng nản chí, vì đến mùa chúng ta sẽ được gặt, nếu không sờn lòng” (Gl 6:7-9). Ước gì mỗi chúng ta đều là “hạt gieo vào đất tốt” và sinh lời, nhiều hay ít cũng được, miễn sao là có sinh lời – cho chính mình và cho tha nhân.

Hãy lưu ý lời cảnh báo của Thánh Gioan Climacus: “Ma quỷ thường hại linh hồn của con người bằng cách lấy đức hạnh và việc thiện tu đức của con người bày ra trước mắt để dẫn con người tới kiêu ngạo”. Kiêu ngạo là “cái tôi” quá lớn, và là đầu mối tội lỗi, đối lập với đức khiêm nhường – nền tảng nhân đức.

Lạy Thiên Chúa hằng sinh, xin giúp con biết gieo những hạt giống tốt và cố gắng hút mầu mỡ tâm linh để phát triển thành cây tốt và sinh trái lành, xin ban cho con được vui hưởng lòng nhân hậu của Ngài và xin củng cố những gì con có thể làm được theo khả năng Ngài trao. Con chân thành cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.

Về mục lục

.

GIEO KHẮP BỐN PHƯƠNG

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội 

I.  LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG GIO-AN (Mt 13,1-23)

 1 Khi ấy, Đức Giê-su từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ. 2 Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. 3 Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. 

Người nói: Người gieo giống đi ra gieo giống.  4 Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. 5 Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu; 6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. 7 Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. 8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục. 9 Ai có tai thì nghe.” 10 Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giê-su rằng: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?” 11 Người đáp: “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không. 12 Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất. 13 Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu. 14 Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; 15 vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành. 

 16 “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. 17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe. 

 18 “Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống. 19 Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. 20 Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. 21 Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. 22 Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. 23 Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” 

II.  TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA

2.1  Nếu gieo lúa theo kiểu được kể trong dụ ngôn “Người gieo giống” trên thì Đức Giê-su không phải là một nông dân chuyên nghiệp. Người nông dân chuyên nghiệp sẽ chỉ gieo hạt vào những luống đất đã dược cầy bừa kỹ càng. Nhưng gieo lúa như trong dụ ngôn thì đúng là cách mà Đức Giê-su gieo hạt lúa Lời Chúa: gieo khắp bốn phưong, gieo tứ tung, gieo tưới sượi…. gieo cách hào phóng! 

2.2  Có nhiểu mảnh đất khác nhau đón nhận hạt lúa cũng như có nhiều tâm hồn khác nhau đón nhận Lời Chúa. Có những hạt rơi xuống vệ đường, có những hạt rơi nơi sỏi đá, có những hạt rơi vào bụi gai, có những hạt rơi nhằm đất tốt… Mỗi mảnh đất đem lại kết quả khác nhau cho hạt lúa cũng như mỗi tâm hồn sinh hoa kết quả khác nhau cho Lời Chúa. 

III. THỰC THI LỜI CHÚA  

3.1  Từ khi tôi có trí khôn, tôi đã được dậy cho biết tôi phải trở thành mảnh đất tốt, để hạt lúa Lời Chúa cho kết quả 100,60 hoặc 30. Tôi cũng đã cố gắng rất nhiều để thành mảnh đất tốt cho hạt giống Lời Chúa sinh hoa kết trái xum xuê. Nhưng chắc chắn không phải lúc nào tâm hồn tôi cũng là mảnh đất tốt, mà có nhiều lúc tâm hồn tôi khô cằn, đầy sỏi đá và gai góc khiến Lời Chúa không thể bén rễ và sinh bông.    

3.2  Tôi thật có phúc vì Chúa Quan Phòng đã sắp đặt để tôi được phục vụ các Khóa Thánh Kinh (Thánh Kinh 100 tuần, Thánh Kinh và Huấn Luyện Lãnh Đạo, Lectio Divina, Chia sẻ Lời Chúa 7 bước, Xem Xét Làm). Nhờ việc soạn bài và hướng dẫn các Khóa này tôi ý thức hơn việc thực thi Lời Chúa trong cuộc sống cá nhân của mình, tức lời nói phải đi đôi với việc làm. 

3.3 Tôi cũng thật có phúc vì Chúa Quan Phòng đã sắp đặt cho tôi được phục vụ Hội Thánh qua các bài “Sống Lời Chúa Hôm Nay” và các bài “Suy Niệm Phúc Âm Chúa Nhật”. Nhờ việc soạn các bài này tôi có giờ suy niệm và thực thi Lời Chúa. 

IV.  CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Lời của Thiên Chúa đã được gieo vào lòng trần gian.  

Con hết lòng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa đã ngự đến trong lòng con, trong cuộc đời con.

Xin Chúa làm cho đời con sinh nhiều hoa trái của Tình Yêu, của Ơn Cứu Độ.  

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Lời của Thiên Chúa đã được gieo vào lòng trần gian.  

Con hết lòng cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Chúa đã ngự đến trong lòng con, trong cuộc đời con.  

Chúa cũng đã mời gọi con phục vụ Lời và ban cho con nhiều cơ hội để gieo vãi hạt giống Lời Chúa vào các tâm hồn. 

Xin Chúa chúc lành cho các lớp Thánh Kinh của con.  

Xin Chúa làm cho các bài diễn giải và suy niệm Lời Chúa của con có sức sống để đánh động người đọc.  

Con cầu xin Chúa là Thiên Chúa, Đấng hằng sống hằng trị cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần đến muôn ngàn đời Amen.

Về mục lục

.

NGƯỜI GIEO GIỐNG LẠ KỲ

JM. Lam Thy

Chúa Giê-su xuống thế làm người, sinh trưởng ở thôn quê, mãi tới năm 30 tuổi, Người mới đi khắp đó đây thu nhận môn đệ và công khai rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Những sinh hoạt nơi thôn dã, nhất là cảnh gieo trồng lúa mạ của người nông dân, Người thường xuyên chứng kiến; nên khi đi rao giảng Tin Mừng, Người đã mượn những hình ảnh dân dã ấy để minh hoạ cho Lời giảng. Đó quả thực là một biện pháp giảng thuyết sinh động, gần gũi, thân tình, giúp cụ thể hoá những ý niệm trừu tượng, khiến người nghe dễ tiếp thu. Một trong những dụ ngôn đầu tiên của Người là dụ ngôn “Người gieo giống” (CN XV TN-A – Mt 13, 1-23)

Nếu khi suy niệm Lời Chúa chỉ ngưng lại ở dụ ngôn “Người gieo giống” (Mt 13, 4-8), chắc chắn sẽ nảy sinh những ý nghĩ cho rằng người gieo giống trong bài Tin Mừng thật là một con người lạ lùng. Chẳng có người nông dân nào có đầu óc bình thường lại đi phung phí hạt giống trên mọi mảnh đất, kể cả những mảnh đất đầy sỏi đá và gai góc; cũng chẳng ai dại gì đem hạt giống gieo bên vệ đường. Cứ suy ngay việc gieo mạ cấy lúa của nông dân Việt Nam cũng đủ thấy đó không phải là một công vịêc đơn giản. Hạt giống phải được chọn lựa kỹ càng, phơi nắng cho thật khô ráo (vì nếu để ẩm ướt, hạt sẽ nảy mầm khi thời vụ gieo trồng chưa tới). Tới mùa, cho hạt giống vào bao và đem ngâm nước (ao, giếng) khoảng chừng ba ngày. Trong thời gian này thì phải cày bừa ruộng cho thật kỹ và sạch sẽ (không còn một cọng cỏ rác nào).

Sau ba ngày, hạt giống nảy mầm (hạt giống mới chỉ nứt vỏ để lộ cái mầm trắng) thì lấy ra rải đều trên mặt chiếu ở nơi mát mẻ (trong nhà hoặc trong bóng râm) để mầm nhú dài ra một chút mới đem gieo (trường hợp nếu vội vàng đem gieo khi mầm chưa ló ra ngoài, thì có thể nhiều hạt giống sẽ bị hư thối, còn nếu cứ để trong bao ngâm dưới nước, chờ mầm nhú dài ra thì khi lấy ra khỏi bao đem gieo, nhiều hạt sẽ gãy mầm và cũng sẽ hư thối khi gieo xuống ruộng; đó là lý do giải thích tại sao phải chờ khoảng ba ngày rồi mới đem hạt giống rải đều lên mặt chiếu trải dưới bóng râm, nơi mát mẻ). Kỹ như vậy, nhưng khi nhổ mạ đem cấy cũng vẫn có lẫn cỏ, nên khi nhổ mạ lại phải lựa bỏ hết cỏ lẫn trong đó rồi mới đem cấy xuống ruộng đã cày bừa kỹ càng. Ấy vậy mà rồi cũng vẫn có cỏ mọc lẫn trong lúa và đến mùa gặt lại phải tim cách loại bỏ cỏ. Đồng bào miền bắc VN còn tổ chức làm cỏ khi lúa “con gái” (lúa đã trưởng thành nhưng chưa trổ bông “đòng đòng”).

Chính vì thế, nên cần phải đọc tiếp phần giải nghĩa dụ ngôn (Mt 13, 10-23), vâng “Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận. Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì. Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” (Mt 13, 19-23). Từ đó, sẽ hiểu được người gieo giống ở đây chính là Thiên Chúa.

Một cách cụ thể, đó chính là Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa. Người muốn dùng hình ảnh cụ thể trong công việc thường nhật của con người để mạc khải cho con người hiểu về tình yêu thương vô bờ bến của Thiên Chúa. Vì tình yêu, Người muốn cứu rỗi tất cả loài người đang ngụp lặn trong tội lỗi, không phân biệt đối xử với bất cứ một ai. Vì thế, có những hạt giống Lời Chúa gieo bên vệ đường, gieo trên sỏi đá, gieo vào bụi gai, và cũng có những hạt gieo vào ruộng đất màu mỡ, tươi tốt. Tuy nhiên, cũng không loại trừ có thể có những con người có một thửa ruộng tâm linh hội đủ những yếu tố trên: Thửa ruộng đó có thực sự là một thửa ruộng màu mỡ, đã được cày bừa, dọn dẹp sạch sẽ, hay cũng vẫn còn nhiều sỏi đá, bụi gai, thậm chí còn hoang hoá như bờ cỏ bên vệ đường?

Chúa hay dùng dụ ngôn để giảng dạy, ấy cũng bởi vì có những sự kiện, những công việc nếu chỉ dùng trí khôn của con người thì không thể hiểu được. Cũng giống như đám người Do-thái “họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu” (Mt 13, 13). Mà cũng vì thế, Chúa mới dùng dụ ngôn để giúp họ sáng mắt, hiểu ra vấn đề mà Chúa muốn truyền dạy. Vâng, không chỉ những người sống cách đây 20 thế kỷ, mà ở ngay thế kỷ XXI này cũng vẫn còn không ít những người không hiểu và cố tình không hiểu Lời Chúa. Khoan thử nói đến những người xung quanh mình đón nhận Lời Chúa như kiểu hạt giống gieo bên vệ đường, gieo trên sỏi đá hoặc gieo vào bụi gai; mà hãy nhìn lại mình xem có phải mình đã thờ ơ, bàng quang với Lời Chúa (như đứng bên vệ đường), hoặc khô khan nguội lạnh chai lì (như sỏi đá) hoặc không tin thì chớ, mà còn chống đối lại (như bụi gai).

Vâng, hãy nhìn lại chính mình xem cái sà trên mắt mình nó lớn tới cỡ nào, trước khi đi tìm cọng rác nơi mắt người anh em. Và để lấy được cái sà nơi mắt mình ra, cũng đừng vội ỷ tài cậy sức mình, mà phải cậy nhờ vào Đức Thánh Linh, và chỉ có như vậy mới mong thửa ruộng tâm hồn trở nên màu mỡ tốt tươi, ngõ hầu đón nhận được hạt giống Lời Chúa. Cũng đừng quên “làm cỏ khi lúa còn con gái” như đồng bào miền Bắc VN vẫn quen làm. Nói cách cụ thể, hãy luôn luôn chăm sóc cho thửa ruộng tâm hồn sạch cỏ tội lỗi, đồng thời cũng phải hết sức cảnh giác kẻo ”Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất” (Mt 13, 25). Nếu làm được như vậy thì mới hy vọng bản thân mình sẽ trở nên “người gieo giống” như Lời Chúa dạy “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16, 15). Ước được như vậy. Amen.






CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN, NĂM A


1. Ngược đời

Đọc lại Phúc Âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu hay dạy những điều ngược đời. Thực vậy, đang khi thiên hạ tranh nhau ngồi chỗ nhất nơi đám tiệc, hay chiếm lấy một địa vị cao nơi một tập thể, thì Chúa Giêsu lại dạy chúng ta phải tìm chỗ rốt hết: ai muốn cầm đầu thì hãy làm kẻ đầy tớ. Đang khi thiên hạ tìm đủ mọi cách để trưng ra nào bằng cấp, nào địa vị, nào chức tước thì Chúa Giêsu lại cho chúng ta hiểu rằng những kẻ bé mọn là những người chiếm ưu thế nơi tình thương của Thiên Chúa: Con xưng tụng Cha vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn.

Về những điều ngược đời ấy Chúa Giêsu không phải chỉ giảng dạy bằng lời nói, mà còn bằng cả cuộc đời của Ngài. Từ trời cao Ngài đã xuống thế làm người. Khi mở mắt chào đời, Ngài có thể sinh ra nơi đền hờ, vì đền thờ vốn được coi là nhà của Ngài, thế nhưng Ngài đã chọn máng cỏ hang đá Bêlem. Ngài đến trong cương vị của Đấng cứu thế, nhưng Ngài lại bị Hêrôđê tìm giết. Trên đường Ngài đi không có thảm đỏ, không có binh lính dàn chào, cũng không có các tư tế nghinh đón. Những người bạn của Ngài và ngay cả những người Ngài đã chọn để tiếp nối sứ mạng của Ngài đều là những kẻ quê mùa dốt nát, những kẻ thu thuế bị đồng hoá với phường tội lỗi. Cả một thế giới những con người không có chỗ đứng trong xã hội bấy giờ.

Và cuối cùng, bản thân Ngài đã bị treo trên thập giá, một án phát cho hạng người nô lệ. Ngài đã ở vào chỗ rốt hết, chẳng có chi là danh giá.

Trở lại đoạn Tin Mừng, những kẻ bé mọn trước tiên là các tông đồ, rồi đến những kẻ nghèo túng, yếu thế, những kẻ chẳng mấy được quan tâm. Vậy thì họ được Chúa mạc khải cho những gì? Tôi xin thưa họ được Chúa mạc khải cho biết chương trình cứu độ mà Ngài thực hiện. Đồng thời bản thân họ cũng đã đón nhận và tin vào Ngài như vị cứu tinh của họ.

Đứng trước ơn cứu độ Thiên Chúa trao ban, hoàn toàn do sáng kiến tình thương của Ngài, những kẻ không có gì để bám víu, để tự mãn, lại là những kẻ có ưu thế nhất. Và như vậy, kẻ rốt hết lại là kẻ đầu hết. Còn chúng ta thì sao, mặc dù đã nghe và đã biết chủ trương ngược đời của Chúa Giêsu như thế, nhưng trong thực tế chúng ta lại muốn xử sự theo sự khôn ngoan của người đời, bởi vì nhiều khi chúng ta muốn rao giảng Tin Mừng bằng uy quyền, bằng sự phô trương giàu sang và thanh thế, bằng sự xa lánh tất cả những gì mang dấu vết của thập giá, thành thử chúng ta không còn những người môn đệ đích thực của Đức Kitô nữa. [Mục Lục]

 

2. Khiêm nhu

Một vị quan tể tướng đời Đường rất lừng danh và có lòng mộ đạo chân thành. Thầy của ông là một bậc cao tăng. Hai thầy trò rất tâm đồng ý hiệp với nhau, không phân biệt địa vị hay chức quyền. Ngày kia quan tể tướng bèn hỏi: Xin thầy giải thích kiêu căng nghĩa là gì? Thầy liền đổi sắc mặt, trợn mắt hỏi với một giọng khinh miệt: Mi hỏi ta gì đó, đồ ngu. Cử chỉ và lời nói bất ngờ ấy làm cho gương mặt quan tể tưởng đỏ bừng lên. Bấy giờ vị cao tăng mới ôn tồn nói: Thưa, đó chính là sự kiêu căng đấy.

Câu chuyện trên như muốn vạch trần cái gốc rễ của tính kiêu căng. Đó là không chấp nhận những giới hạn của mình, không sẵn sàng đón nhận sự thật. Và tệ hơn nữa, sự kiêu căng còn là nguyên nhân làm cho con người không còn biết mở rộng cõi lòng để đón nhận Thiên Chúa. Chính vì thế mà Kinh Thánh đã xác quyết: Chúa hạ bệ những kẻ quyền hành và nâng cao những người khiêm nhu. Hay nói một cách khác, Chúa chán ghét những kẻ kiêu căng và yêu thương những người khiêm nhường.

Thực vậy, một Lucifer kiêu căng, dám ngang nhiên tuyên bố: Tôi không phục tùng Thiên Chúa nữa. Một Adong Eva kiêu căng muốn trở nên bằng Thiên Chúa, số phận họ như thế nào hẳn chúng ta cũng đã biết: Lucifer và các thần dữ thì lãnh nhận bản án lưu đày hoả ngục. Còn Adong Eva thì bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng với cảnh khổ đau và chết chóc.

Trong khi đó, một David khiêm nhường sám hối đã được Thiên Chúa tha thứ và chọn dòng dõi ông làm nơi phát sinh Đấng Cứu Thế. Một Maria khiêm nhường với thân phận người tôi tá Chúa nên đã được đặt làm Mẹ Ngôi Hai giáng trần. Một Gioan khiêm nhường không xứng đáng cúi xuống cởi dây giày cho Ngài, đã được khen ngợi là cao trong hơn hết mọi người nam.

Và qua đoạn Tin Mừng sáng hôm nay, một lần nữa, Chúa Giêsu lại xác quyết như thế: Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xưng tụng Cha vì Cha đã giấu không cho những bậc khôn ngoan thông thái biết những mầu nhiệm Nước Trời, mà lại mạc khải cho người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là sở thích của Cha.

Từ đó chúng ta có thể kết luận, Chúa yêu thương những người khiêm nhu. Đó là một sự thật, một chân lý, một kinh nghiệm sống ngàn đời không hề đổi thay. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã thực sự sống tinh thần đơn sơ bé nhỏ và khiêm cung như Chúa mong muốn hay chưa? [Mục Lục]

 

3. Hiền lành

Mặt trời và gió luôn tranh cãi xem ai mạnh hơn ai. Hôm đó, có một người mặc áo choàng đi trên con đường vắng. Mặt trời nói với gió:

- Ai làm cho người ấy cởi bỏ chiếc áo choàng mau hơn thì sẽ thắng cuộc.

Gió đồng ý và ra tay trước. Chàng ta càng thổi thì người kia lại càng giữ chặt lấy chiếc áo. Cuối cùng chàng gió kiệt sức và đành chịu thua.

Lúc đó mặt trời mới ra tay. Bác ta toả xuống những tia nắng khiến người kia cảm thấy nóng bức. Và thế là người ấy phải cởi áo ra.

Tác giả câu chuyện trên đã kết luận như sau: Bạn có thể thành công nhờ sự hiền lành dễ thương hơn là nhờ bạo lực.

Ngày nay sự hiền lành dễ thương không còn được đánh giá cao như trước, bởi vì ngày nay bạo lực được phổ biến và có mặt khắp nơi, trên báo chí cũng như trên phim ảnh và truyền hình.

Thật khác xa với lời Chúa dạy: Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Tiên tri Isaia đã nói trước về sự hiền lành của Đức Kitô như sau: Ngài không la hét, không to tiếng hoặc ăn nói ồn ào ngoài đường phố. Người không bẻ gẫy cây sậy bị giập, không thổi tắt ngọn đèn còn leo loét.

Một thí dụ tuyệt hảo về sự hiền lành dễ thương của Chúa là cách thức Ngài xử lư đối với người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Ngài chẳng những dễ thương đối với người phụ nữ, mà còn dễ thương với cả những kẻ tố cáo chị ta, vốn tự cho mình là công chính. Chúa Giêsu không la hét, không quát mắng, nhưng Ngài chỉ cúi xuống và viết trên cát.

Ngài khuyên chúng ta bắt chước người mục tử hiền lành trong dụ ngôn con chiên lạc. Người ấy không hề đánh đập hay lôi kéo con chiên về nhà, trái lại đã vác nó trên vai. Ngài cũng khuyên chúng ta bắt chước người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng. Ông ta đã không quở mắng đánh đập, trái lại đã ôm hôn cậu và mở tiệc ăn mừng.

Đoạn Tin Mừng hôm nay chứa đứng một lời mời gọi quan trọng, đó là hãy noi gương bắt chước Chúa sống hiền lành và khiêm nhường. Cố gắng đối xử với mọi người bằng sự nồng thắm chân tình. Tiếp đến là hãy đối xử với những kẻ làm hại chúng ta theo cách đối xử của Chúa đối với người phụ nữ ngoại tình, của người cha đối với đứa con hoang đàng, của người mục tử đối với con chiên lạc. Nghĩa là hãy cảm thông hơn là kết án.

Và sau cùng là hãy đối xử với những người đang phải mang lấy gánh nặng của khổ đau, của bất hạnh một cách khéo léo và tế nhị, hầu đem lại cho họ sự an ủi và khích lệ. Tóm lại, chúng ta hãy thực thi lời khuyên nhủ của Chúa: Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng. [Mục Lục]

 

4. Ách của Tôi êm ái

Suy Niệm

Khi quy hoạch thành phố tương lai, người ta không quên dành một khu vui chơi giải trí.

Nghỉ ngơi thư giãn là một nhu cầu quan trọng cho những ai sống trong nền kinh tế thị trường.

Nghỉ ngơi không chỉ cần cho thân xác hay trí óc. Nghỉ ngơi còn cần cho tâm hồn.

Cái tâm của chúng ta cần được sống trong an tĩnh giữa sóng gió dao động, giữa chợ đời bon chen.

Nhiều người bị suy nhược thần kinh, bị stress.

Có người tự tử vì không đủ sức để tiếp tục sống.

Đức Giêsu mời chúng ta đến với Ngài, tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề.

Gánh nặng của nỗi đau và vấp ngã trong quá khứ

Gánh nặng của trách nhiệm và yếu đuối hiện tại

Gánh nặng phải mang vì người khác...

Tất cả những ai bị căng thẳng và lo âu, chán chường và mệt mỏi. Tất cả những ai muốn tìm một chút nghỉ ngơi. Hãy đến với Ngài, ta sẽ gặp được sự an tĩnh.

Hãy mang lấy ách của tôi.

Đức Giêsu không ngần ngại nói đến ách của Ngài mà những kẻ đến với Ngài phải mang.

Ngài không giấu ta về những đòi hỏi nghiêm túc, về con đường hẹp mà ít người muốn đi, về thánh giá mà ta phải vác để theo Ngài.

Như thế sự an bình thư thái Ngài hứa ban đâu phải là thứ bình an rẻ tiền, không cần từ bỏ.

Đó là thứ bình an ngay giữa khổ đau và nước mắt, vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương, vì xác tín là mình đang làm đúng ý Thiên Chúa.

Nếu ách của Ngài êm và gánh của Ngài nhẹ, thì là vì chúng được đón nhận trong tình yêu.

Tình yêu làm cho mọi sự trở nên êm nhẹ.

"Chỗ nào có lòng yêu mến, thì không cảm thấy vất vả; mà giả như có vất vả đi nữa thì người ta cũng thích cái vất vả đó" (thánh Âutinh)

Hãy học với tôi.

Đức Giêsu kêu gọi chúng ta làm học trò của Ngài.

Chúng ta học trường Giêsu, học Thầy Giêsu, học bài Giêsu.

Bài học nằm nơi chính trái tim Ngài: "Vì tôi có trái tim hiền hậu và khiêm nhu."

Khi mang trong mình những tâm tình của Thầy Giêsu thì tâm hồn ta sẽ được bình an trở lại.

Chúng ta cần theo học Thầy Giêsu suốt đời, cần lột bỏ những tự hào về khôn ngoan thông thái, cần sống hồn nhiên khiêm tốn như trẻ thơ.

Chỉ như thế chúng ta mới được Thầy Giêsu mạc khải, và đưa vào thế giới của Thiên Chúa.

Gợi Ý Chia Sẻ

Theo ý bạn, đâu là những gánh nặng mà con người hôm nay phải mang vác? Đâu là gánh nặng của người nghèo và của người giàu? Đâu là nỗi vất vả và gánh nặng của người trẻ hôm nay?

Bạn thấy theo đạo có phải là một gánh nặng không? Giữ đạo nặng nề ở điểm nào? Có cách nào làm cho nó nhẹ nhàng hơn không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,

Xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ, nhở đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói, dễ thấy Chúa hiện diện và hoạt động trong đời con.

Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa, xin cho con đừng trở nên cứng cỏi, khép kín và nghi ngờ.

Xin dạy con sự hiền hậu để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.

Xin dạy con sự khiêm nhu để con dám buông đời con cho Chúa.

Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm, vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài, hạnh phúc và được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen. [Mục Lục]

 

5. Khiêm nhường – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Chúng ta thường tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, phép tắc vô cùng. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, ta thường nghĩ đến một Thiên Chúa oai nghi bệ vệ, cao sang quyền thế, xa cách. Ta không nghĩ hay không dám nghĩ rằng Thiên Chúa thật rất khiêm nhường. Thực sự Thiên Chúa rất khiêm nhường.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa ẩn mình trong vô hình. Ở đời, một người quyền thế chiếm rất nhiều không gian của người khác. Người quyền thế ở nhà lớn, ngồi ghế rộng. Sự hiện diện của họ khiến mọi người khép nép, nói năng mất tự nhiên, đi đứng phải nhìn trước nhìn sau. Nếu bây giờ Thiên Chúa hiện hình đứng giữa chúng ta. Chắc hẳn chúng ta chẳng thể ngồi thoải mái như bây giờ. Trái lại chúng ta sẽ quì sụp xuống, gục đầu, đấm ngực ăn năn. Nhưng Thiên Chúa đã che giấu dung nhan. Người ẩn mình trong vô hình để cho ta được tự do. Người nhường không gian cho con người. Người tự trở nên một Đấng nghèo hèn, bé nhỏ đến độ bị người đời quên lãng.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa im lặng. Trong xã hội, người uy quyền thường nói nhiều. Người nhỏ phải nghe người lớn, người nhỏ có muốn nói cũng bị tiếng người lớn át đi. Thiên Chúa đã tự trở nên bé nhỏ. Người im lặng nhường lời cho con người. Người lắng nghe con người cả khi họ chỉ trích, chống đối, lên án Người. Người trở nên một Đấng bé nhỏ nghèo hèn, khép nép, im lặng trong thế giới ồn ào của loài người.

Vì khiêm nhường nên Thiên Chúa đã cúi xuống thân phận con người. Con người chẳng là gì mà Chúa vẫn thương. Người còn cúi xuống sâu hơn nữa trước những kẻ tội lỗi để nâng họ lên. Khi người ta cúi xuống trước một kẻ cao trọng, sự khiêm nhường ấy đáng nghi ngờ. Nhưng khi người ta cúi xuống trước một thân phận tội lỗi, nghèo hèn, sự khiêm nhường ấy rất chân thực.

Chính sự khiêm nhường thẳm sâu làm chứng quyền năng vô biên của Thiên Chúa. Thông thường ở đời, quyền năng là để chiến thắng, để chế ngự, để đè bẹp. Ai chống lại quyền lực, quyền lực sẽ nghiền nát người ấy. Trái lại, nơi Thiên Chúa, quyền năng là để chịu thua, để yêu thương, để tha thứ. Sức mạnh không ở nơi quyền lực. Quyền lực bộc phát là quyền lực không tự kiềm chế được. Trái lại, khiêm nhường là chế ngự được sức mạnh của mình. Đó mới chính là quyền năng thực sự mạnh mẽ.

Thiên Chúa vô hình. Có lẽ ta sẽ khó mà hiểu biết sự khiêm nhường của Thiên Chúa, nếu ta không nhìn thấy sự khiêm nhường của Chúa Giêsu.

Cuộc đời Chúa Giêsu là một cuộc đời khiêm nhường. Vì khiêm nhường nên Ngài không ngừng đi xuống. Từ trời cao Người đã hạ mình xuống thế. Từ thân phận là Thiên Chúa Người đã hạ mình xuống làm một người bình thường. Là Thiên Chúa cao sang, Người đã tự nguyện xuống làm một người dân dã nghèo hèn. Là thánh thiện vô cùng, Người đã tự nhận lấy thân phận tội đồ. Là Đấng hằng sống, Người đã tự nguyện chết đi. Suốt cuộc đời, Người đã không ngừng cúi xuống những thân phận tăm tối, nghèo hèn, tội lỗi, bị loại trừ. Và một cử chỉ không thể nào quên là trong bữa tiệc ly, Người đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Người đã hạ mình xuống tận cùng, không còn có thể xuống hơn được nữa.

Vì Thiên Chúa khiêm nhường luôn tìm đường đi xuống, nên những ai kiêu căng tìm nâng mình lên sẽ chẳng bao giờ gặp được Người. Thiên Chúa khiêm nhường nên chỉ ai khiêm nhường nhỏ bé mới gặp được Người.

Hôm nay Chúa Giêsu tha thiết mời gọi: “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Hãy ghi danh vào học trường Chúa Giêsu. Hãy học bài học khiêm nhường. Hãy học bài học Giêsu. Hãy học với Thầy Giêsu. Hãy bước theo Thầy Giêsu xuống những bậc thang khiêm nhường thẳm sâu. Ở bậc thang cuối cùng, Thiên Chúa đang chờ đợi ta, ta sẽ gặp được Người. Ta sẽ kết hiệp với Người. Ta sẽ rũ sạch mọi vất vả lo âu. Ta sẽ được bình an.

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Xin uốn lòng con nên giống như trái tim Chúa. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

  1. Những dấu nào cho thấy sự khiêm nhường của Chúa?
  2. Có quyền ăn nói, nhưng im lặng nhường lời cho người khác. Có vị thế cao, nhưng ẩn mình nhường chỗ cho người khác. Có dễ không?
  3. Sức mạnh bùng nổ trên người khác. Và sức mạnh chế ngự chính mình. Đàng nào mạnh hơn?
  4. Thiên Chúa tuyệt đối khiêm nhường. Khám phá này có tác động gì trên bạn không? [Mục Lục]

 

6. Gió và mặt trời

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Trong tập “Những ngụ ngôn của Ê-xốp”có một câu chuyện ngụ ngôn kể về cuộc tranh cãi giữa mặt trời và gió. Hai nguồn năng lượng này cãi nhau xem ai mạnh hơn ai.

Ngày nọ, một cơ hội xảy đến giúp cả hai dàn xếp được cuộc tranh cãi. Hôm đó, có một người mặc áo choàng đang đi trên một con đường quê hoang vắng. Mặt trời liền thách thức với gió: “Ai làm cho người ấy cởi bỏ chiếc áo choàng ra mau hơn thì người ấy là người thắng cuộc”. Gió ta chẳng những đồng ý mà con quyết định ra tay trước. Chàng gió bèn thổi tới tập, nhưng càng thổi thì người kia càng giữ chặt lấy chiếc áo choàng, sợ nó tung bay mất. Cuối cùng, kiệt sức, gió ta đành phải chịu thua. Lúc đó mặt trời mới ra tay. Ông mặt trời chiếu toả hết vinh quang của mình ra. Chỉ trong mấy phút, người nọ nóng quá phải cởi bỏ chiếc áo choàng ra.

Cuối câu chuyện ngụ ngôn, Ê-xốp bàn luận: “Bạn có thể thành công nhờ sự dịu hiền dễ thương hơn là nhờ bạo lực”.

Anh chị em thân mến,

Trong một thế giới mà những quy luật “mạnh được yếu thua”, “lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng”, hoặc “được làm vua thua làm giặc”, gần như là tất yếu và phổ biến, thì lời giảng dạy của Chúa Giêsu về đức hiền lành và khiêm nhường, quả thực rất khó được chấp nhận và xác tín, nếu không muốn nói là chướng tai và ngược đời.

Hôm nay, Lời Chúa vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta: “Hãy học cùng Thầy vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường”. Hiền lành và khiêm nhường là hai đức tính đặc biệt nhất ở nơi Chúa Giêsu. Thánh Phaolô đã nói: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế, Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8). Phải chăng đó là một sự khiêm nhường tột cùng của một Thiên Chúa làm người; hạ mình xuống rốt chót mọi người, lãnh nhận cái chết của tên nô lệ bị đóng đinh thập giá.

Trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu còn cho biết: những người có tâm hồn bé nhỏ, khiêm nhường là những người được Chúa yêu thương đặc biệt và được Chúa tỏ ra cho biết những Mầu nhiệm Nước Trời. Vì chỉ những ai có tâm hồn bé nhỏ mới có tinh thần và trái tim rộng mở đón nhận Lời Chúa. trong lời cảm tạ Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nói: “Lạy Cha, Con ngợi khen Cha vì đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, mà lại mạc khải cho người bé mọn”.

Nhưng ai là những kẻ bé mọn?

Theo Tin Mừng Thánh Matthêu, những kẻ bé mọn là những người nghèo khổ, những người yếu thế, những kẻ đang vất vả và phải mang gánh nặng. Trong Do Thái giáo, cái ách hay là gánh nặng thường là hình ảnh của những luật lệ. Các thầy thông luật tự cho mình là khôn ngoan thông thái, thường hay bày vẽ ra đủ thứ luật lệ mà những kẻ đơn sơ, bé mọn dù cố gắng đến đâu cũng chẳng thể nào tuân giữ trọn vẹn được. Làm sao đầu óc đơn sơ chất phác của họ phân biệt nổi cái gì chính yếu, cái gì thứ yếu trong những luật lệ chi li lắt léo mà đầu óc mấy ông Pharisêu, những kẻ có tinh thần nệ luật, chỉ biết sống nô lệ, như cái máy, đã chỉ có khả năng là giăng lưới gài bẫy, khiến những kẻ đơn sơ chất phác không thể nào lọt vào được bên trong cái thế giới thánh thiêng cao cả mà họ đã dựng lên. Chúa Giêsu không thể chấp nhận một thứ vương quốc của Thiên Chúa chỉ dành riêng cho những kẻ khôn ngoan thông thái và những kẻ đạo đức giả chỉ biết cậy vào thành tích giữ luật của mình. Ngài đã đến như một người nghèo sống giữa người nghèo và loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Nước Trời mà Ngài loan báo là một vương quốc mở ra cho những người bé mọn, nghèo hèn, nghèo về thể chất đã đành, nhưng cũng nghèo về tinh thần nữa, nghĩa là những người tội lỗi.

Nhưng Chúa Giêsu không phải là người chủ trương vô luật lệ. Ngài cũng có những đòi hỏi của Ngài. Nhưng luật lệ của Ngài là “cái ách êm ái”, “cái gánh nhẹ nhàng”. Vì ách đó, gánh đó chính là lòng yêu thương. Lòng yêu thương này Ngài mời gọi chúng ta cùng chia sẻ với Ngài. Nhưng để có thể yêu thương, con người phải biết sống hiền từ và khiêm tốn. Bởi vì kẻ kiêu ngạo không thể biết yêu thương: họ chỉ biết chiếm đoạt và thống trị. Họ cũng không thể hiền từ với tha nhân, trái lại, luôn luôn là những kẻ độc ác.

Thưa anh chị em,

Cuộc đời của Chúa Giêsu thật đơn sơ giản dị. Ngài sống giữa loài người như một người anh em nhỏ bé nghèo hèn, không thích giàu sang, chẳng muốn dùng quyền để thống trị và cũng chẳng tỏ ra khinh khi chê ghét một người nào, cho dù là kẻ tội lỗi. Trái lại Ngài đã đặc biệt ưu ái những người này, tới mức bị thiên hạ dị nghị, coi Ngài là bạn thân của những người tội lỗi. Sở dĩ như thế là vì chân lý Ngài mặc khải không phải là thứ chân lý trừu tượng cao siêu mà những bậc khôn ngoan thông thái của trần gian ưa suy luận, nhưng chân lý của Chúa là chân lý của tình thương mà tình thương là ngôn ngữ mà cả trẻ thơ măng sữa cũng hiểu được.

Nhân loại chúng ta có quá nhiều những nhà bác học, những nhà hiền triết thông hiểu những điều cao siêu huyền bí. Và trong Giáo Hội chúng ta cũng không thiếu những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng có lẽ chúng ta hơn bao giờ hết lại cần đến thứ ngôn ngữ giản dị nhất, đó là tình thương, một thứ ngôn ngữ có khả năng tuyệt vời để mặc khải chân lý của Chúa, bởi vì Thiên Chúa là tình thương và chỉ có ai yêu thương mới biết Thiên Chúa, còn ai không yêu thương thì không biết Ngài. Mà đã không biết Thiên Chúa thì làm thế nào có thể rao giảng hay làm chứng về Ngài được?

Là con cái của Chúa và là anh chị em của nhau, chúng ta hãy lấy tình thương, lòng hiền hoà mà đối xử với nhau, thay vì tàn nhẫn, xâu xé lẫn nhau. Hãy khiêm tốn phục vụ nhau, thay vì tự tôn, tự phụ mà đè đầu cỡi cổ người khác. Chính tình yêu làm cho con người trở nên đơn sơ, hiền hoà và khiêm tốn. Cũng chính tình yêu làm cho con người sẵn sàng nâng đỡ gánh nặng cho người khác, hơn làm khổ cho người mình yêu. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu, Đấng là hiện thân của chân lý tình thương lại sống đơn sơ, hiền từ, khiêm tốn và đã mời gọi chúng ta hãy đến học với Ngài.

Là Kitô hữu, chúng ta tin rằng sự dịu hiền của Chúa Kitô và tình yêu của Ngài cuối cùng sẽ thắng được bạo lực và áp bức. [Mục Lục]

 

7. Ở hiền gặp lành – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Cha ông ta vẫn thường dạy con cái: "Ở hiền gặp lành". Người ăn ở hiền lành, người sống có nhân, có nghĩa ắt trời sẽ ban cho nhiều phúc lộc dư tràn. Ngược lại, nếu sống ác nhân ác đức, trời sẽ quả báo những tai hoạ khó lường.

Thế nhưng, hiền lành có phải là "tĩnh tọa như Bụt"? Ai muốn làm gì thì làm hay không? Thưa không, mà hiền lành ở đây là biết sống đúng với vị trí của mình. Là biết sống đúng với phẩm giá của mình. Là biết tôn trọng phẩm giá của mình. Một con người có phẩm giá cao đẹp là một con người có lý trí đủ để suy biết điều hay lẽ phải, có ý chí vững mạnh để không bị sự gian ác làm hại bản thân và tha nhân, có sự chọn lựa đúng đắn và chuẩn mực về cái hay, cái đẹp, cái phải, cái trái. Là người phải biết phân biệt phải quấy. Biết nói không với điều ác. Không thỏa hiệp với gian tà. Vì "im lặng là đồng lõa" và hùa theo là "đồng phạm". Người không có trí khôn, làm theo lời người khác thì không có tội, nhưng người hiền lành không thể làm chuyện ác, chuyện lừa dối để rồi đổ lỗi cho hoàn cảnh. Nếu đổ lỗi cho hoàn cảnh thì trên đời này ai phạm tội cũng vì hoàn cảnh mà ra. "Túng quá hóa liều", "Nóng mất khôn", "Tức nước vỡ bờ". Trong một phân tích về lý do phạm tội của các tù nhân thì có 80% tội nhân cho rằng mình phạm tội là do hoàn cảnh. Như vậy, sự hiền lành là một thái độ sống dung hoà với mọi người. Sự hiền lành sẽ giúp cho con người hành xử theo tình, theo lý và theo lẽ phải nhưng với một thái độ ôn hoà với đầy lòng bác ái bao dung.

Hôm nay Chúa nói: "hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng". Sự hiền lành của Chúa không phải là đi tìm sự thỏa hiệp với thế gian. Chúa không im lặng trước sự dữ. Chúa đã từng lên án gắt gao thói giả hình và gian tà của những kẻ biệt phái. Chúa đã từng xô đuổi con buôn ra khỏi đền thờ. Chính vì những điều Chúa làm, những lời Chúa nói đã ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo, đến địa vị, chỗ đứng của các biệt phái mà người ta tìm cách giết Chúa. Sự hiền lành của Chúa là vì công lý mà chịu nhiều thiệt thòi không kháng cự. Vì dám nói sự thật mà phải chết nhục nhã trên cây thập giá, nhưng Ngài không oán hận, và còn xin cùng Chúa Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm. Chúa đấu tranh nhưng bất bạo động, vì "ai dùng gươm sẽ chết vì gươm", "oán báo oán, oán chập chùng" và còn tha thứ cho sự xúc phạm của tha nhân không chỉ "7 lần mà là 70 lần bảy".

Trong tám mối phúc, Chúa đã chúc phúc những cho ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nườc Trời là của họ. Như thế hiền lành ở đây là sống thật và làm chứng cho sự thật. Không nhượng bộ, không thỏa hiệp với dối gian. Cho dù vì lẽ công chính mà mình bị bách hại, bị thiệt thòi vẫn chấp nhận, vì phần thưởng của chúng ta là Nước trời.

Sự hiền lành của Chúa còn hệ tại ở sự cảm thông với lỗi lầm của người khác. Không thành kiến đối với những người bị xã hội ruồng bỏ. Ngài yêu thương họ. Ngài đến để đối thoại với họ. Ngài mở cho họ một con đường mới. Ngài giúp họ làm lại cuộc đời như Madalena, như Giakêu, hay như người thiếu phụ bên bờ giếng Giacóp.

Sự hiền lành thường đi song song với khiêm tốn. Hiền lành để tha nhân dễ gần chúng ta và khiêm tốn để ta dễ hòa đồng với tha nhân. Tuy hai nhưng là một mục đích. Tạo cơ hội cho chúng ta đến với tha nhân và tha nhân đến với ta. Kẻ kiêu căng thường phân loại để chơi. Người khiêm nhường thì đối xử mọi người như nhau. Người hiền lành ai cũng muốn tới gần. Kẻ gian ác ai cũng chạy xa. Chúa Giêsu Ngài hiền lành và khiêm nhường nên ai cũng có thể tiếp xúc với Ngài, và Ngài cũng có thể gặp gỡ trao đổi với mọi người. Từ em bé đến người già. Từ người giầu có đến kẻ hèn. Từ người công chính đến tội lỗi.

Xin Chúa giúp chúng ta biết học nơi trái tim yêu thương của Chúa: "sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng". Ngài không ở trên cao nhưng tự hạ mặc lấy thân phận con người. Ngài còn dạy chúng ta bài học khiêm tốn khi quỳ gối rửa chân cho các môn đệ. Một cử chỉ khiêm tốn đến nỗi Phêrô đã bộc trực thốt lên: "Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con sao?". Đó là một sự tự hạ không ủy mị hay luồn cúi mà là bài giáo huấn sống động về tinh thần hy sinh phục vụ lẫn nhau. Ngài đã dạy chúng ta hãy sống đúng với thân phận con người là lệ thuộc vào Chúa. Ngài đã dạy chúng ta hãy hạ mình để sống hòa hợp với tha nhân. Đừng tự cao tự đại để gạt Thiên Chúa ra bên ngoài như Adam - Evà năm xưa chỉ dẫn tới diệt vong. Đừng tự cao tự đại đến nỗi đè bẹp người khác để mình được tôn vinh. Đừng khinh bỉ người tội lỗi, bất hạnh nhưng yêu thương và tôn trọng họ. Và trên hết, hãy mang lấy tâm hồn trẻ thơ để luôn đơn sơ và bé nhỏ trước mặt Chúa, trước mặt tha nhân. Vì sự đơn sơ và bé nhỏ là dấu chỉ đặc thù của sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Đây cũng là phương thế để chúng ta đón nhận mạc khải Nước Trời và đón nhận tình thương của Chúa tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta. Amen. [Mục Lục]




CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN - A
Lời Chúa: 2V. 4, 8-11.14-16a; Rm. 6, 3-4.8-11; Mt. 10, 37-42

1. Theo Chúa
Thảo kính cha mẹ là một giới răn của Thiên Chúa và chúng ta không thể nghĩ rằng Đức Kitô lại chủ trương bất hiếu, đi ngược lại với đòi hỏi của Thiên Chúa. Chính Ngài cũng có một người cha, một người mẹ và Tin Mừng cho thấy Ngài luôn phục tùng cha mẹ Ngài. Tuy nhiên đoạn Phúc Âm vừa nghe muốn trình bày với chúng ta một bậc thang giá trị mới.
Thực vậy, Ngài không đòi hỏi những kẻ theo Ngài phải từ bỏ cha mẹ hay con cái. Bởi vì việc theo Chúa tự nó không phải là một cái gì mâu thuẫn với tình thương yêu cha mẹ và con cái. Thế nhưng cũng có những lúc kẻ theo Chúa bị đặt trước sự lựa chọn: hoặc nghe lời những kẻ thân yêu nhất hoặc đi theo Đức Kitô. Những quan hệ gia đình có thể trở thành những cản trở trên bước đường theo Chúa, không phải chỉ một số người đã đi tu hay vào chủng viện mới có cơ hội trải qua những kinh nghiệm đau thương ấy. Một người con trai muốn làm linh mục để đáp lại lời mời gọi của Chúa: Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Nhưng anh lại được cha mẹ coi như là cột trụ, là tương lai của gia đình. Các ngài mong anh có một nghề hái ra tiền để bảo đảm tuổi già của ông ba, hay lập gia đình để các cụ có tí cháu bế cho vui cũng như để nối dõi tông đường. Anh bị đặt trước một sự giằng co.
Nhưng theo Chúa ở đây không chỉ có nghĩa là đi tu hay vào chủng viện, mà còn phải hiểu là sống theo những đòi hỏi của Ngài, là thực hiện những điều Ngài truyền dạy. Đòi hỏi ấy phải vượt lên trên tất cả mọi thứ đòi hỏi khác. Không phải vì Chúa Giêsu là một con người độc đoán, mà bởi vì Ngài biết rõ Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Hẳn rằng mỗi người chúng ta cũng có dịp sống qua những lựa chọn này.
Một thanh niên làm ở sở thuế. Anh có một vợ và ba con. Vợ anh không có việc làm, còn 3 con anh thì phải đi học. Gia đình anh lại rất nghèo. Vợ anh nhiều lần khuyên anh hãy làm như người ta. Nếu anh nghe vợ, xiêu lòng trước những lời than khóc của cô ấy, thì anh quả thực không còn xứng đáng với Đức Kitô, anh đã từ khước cuộc sống mới mà Chúa Giêsu đã thiết lập bằng giá máu của Ngài. Trong trường hợp của anh, thì chính những người thân yêu lại là một cản trở trên con đường anh bước theo Chúa.
Tuy nhiên không phải chỉ những người thân, mà còn cả bản thân chúng ta nữa, cũng có thể là những cám dỗ thúc đẩy chúng ta đi ngược lại với những đường lối của Chúa. Chẳng hạn như lòng tham lam, tính ích kỷ, những khát vọng về tiền tài và địa vị nhiều lúc làm cho chúng ta phản bội lại lý tưởng của mình. Thế nhưng, chúng ta có dám liều, dám hy sinh, dám từ bỏ tất cả để bước theo Chúa hay không?
 
2. Bước theo Chúa
“Ai không vác thập giá mình mà theo Ta, kẻ ấy không xứng đáng làm môn đệ Ta”.
Nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy nhiều người đã lên tiếng thán phục Chúa, nhưng lại không dám bước theo Người. Họ giống như một em bé ngồi xem xiếc. Em há hộc miệng ngạc nhiên và khâm phục người đi thăng bằng trên sợi dây mong manh. Khi người ấy nhìn xuống và hỏi:
- Em có tin rằng tôi có thể vác em mà đi trên sợi dây này không?
Em không ngần ngại trả lời:
- Chắc chắn là ông làm được.
Thế nhưng, khi người ấy nói với em:
- Vậy em hãy lên đây và tôi sẽ vác em mà đi trên dây.
Nghe vậy, em bé liền sợ hãi và từ chối lời mời gọi, mà theo em, thật là đầy nguy hiểm.
Với chúng ta cũng thế. Nhiều người trong chúng ta luôn nói rằng mình tin Chúa, nhưng lại không dám bước theo Người. Họ chỉ là những kẻ dám đốc, dám xúi mà lại chẳng dám làm. Và nếu có làm, có bước theo Chúa, thì chỉ làm, chỉ bước theo trong một mức độ nào đó mà thôi. Họ theo Người đến bên thập giá, chứ không dám theo Người đến độ đóng đinh mình vào thập giá.
Có những lúc trong cuộc sống, đau khổ và thử thách đã xảy ra như muốn vùi dập chúng ta, khiến chúng ta bị cám dỗ chối bỏ Chúa, khước từ thập giá và không bước theo Người nữa. Trong những hoàn cảnh như thế, chúng ta phải làm gì?
Tôi xin thưa:
- Chúng ta hãy thầm nhủ rằng chính Chúa đã từng có những lúc cảm thấy thập giá của mình như nặng quá sức. Chẳng hạn trong cơn hấp hối tại vườn Cây Dầu, Người đã cầu nguyện: Xin Cha cất chén đắng này cho con, nhưng không theo ý Con, một theo ý Chúa mà thôi. Đề rồi cuối cùng Người đã chấp nhận thập giá, đồng thời cũng đã chấp nhận cho một kẻ xa lạ là ông Simong vác đỡ Ngài trên đường lên đỉnh Canvê.
Thực vậy, là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian, thế mà Người đành thú nhận với bản thân và với thế gian răng mình không đủ sức vác nồi thập giá, huống nữa là chúng ta. Bởi đó, phải khiên nhường noi gương Người, khi thập giá đè nặng trên đôi vai nhỏ bé của chúng ta.
Ngoài ra, chúng ta cũng hãy kêu xin Người giúp đỡ. Người đã biết tjhế nào là sức nặng của thập giá, thế nào là lảo đảo và té ngã khi vác thập giá, chắc hẳn Người sẽ hiều biết và thông cảm với chúng ta, vì “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”.
Đồng thời chúng ta cũng cần phải nhờ đến những người chung quanh, như cha mẹ, anh em và bè bạn, như Chúa Giêsu đã nhờ đến ông Simong ngày xưa.
Tin Mừng hôm nay mời hỏi chúng ta hãy kiểm điểm đời sống và tự vấn lương tâm xem chúng ta có khiêm nhường như Chúa Giêsu khi thập giá đổ xuống trên cuộc đời chúng ta hay không? Chúng ta có kêu cầu Chúa và những người thân yêu để giúp đỡ chúng ta khỏi thất vọng nản chí hay không?
Và cuối cùng, bản thấn chúng ta cần phải cố gắng để không trở nên một thập giá, một gắnh nặng cho người khác đã đành, mà hơn thế nữa, còn phải tích cực giúp đỡ họ vác lấy cây thập giá cuộc đời, là những hy sinh gian khổ trong cuộc sống. Vì thế, chúng ta cũng phải kiểm điểm và tự vấn lương tâm xem chúng ta đã cư xử thế nào đối với những người đang cần chúng ta giúp đỡ. Chúng ta đã sẵn sàng hay tứ chối, chúng ta đã giúp đỡ họ một cách vui vẻ hay miễn cưỡng.
Hãy bắt chước Chúa Giêsu mà vác lấy cây thập giá đời mình, đồng thời cũng hây bắt chước ông Simong, giúp đỡ người khác trong khi họ đang vác lấy thập giá mà bước theo Chúa.
 
3. Chỗ đứng của Thiên Chúa
Thiên Chúa có chỗ đứng nào trong cuộc đời chúng ta?
Đọc lại Kinh Thánh chúng ta thấy ngày xưa dân Do Thái rất nhiều lần đã quì gối thờ lạy con bò vàng. Họ chọn con bò vàng làm thần tượng thay cho Thiên Chúa. Còn ngày hôm nay, nhiều người trong chúng ta cũng đã chọn lầm thần tượng cho mình. Con bò vàng ngự trị trong thẳm sâu cõi lòng họ là tiền tài, là danh vọng, là lạc thú…
Còn chúng ta thì sao? Mang danh hiệu là Kitô hữu, rất nhiều lần chúng ta đã tuyên xưng đức tin, đã chọn lựa Đức Kitô và đã dành cho Ngài địa vị số một trong cuộc sống của chúng ta. Chúng ta liên tục thực hiện khẩu hiệu sau đây:
- Thiên Chúa là thứ nhất, tha nhân là thứ hai, còn tôi là thứ ba.
De Leo là một quân nhân Hoa Kỳ, sau khi từ giã chiến trường Việt Nam trở về, anh kiếm được một chân canh giữ tượng nữ thần tự do ở Nữu Ước. Công việc của anh là chăm sóc cho ngọn đuốc trong tay và chiếc mũ triều thiên trên đầu bức tượng.
Anh phải làm thế nào cho ngọn đuốc luôn cháy, những khung cửa sổ bằng kính nơi ngọn đuốc và mũ triều thiên lúc nào cũng sạch sẽ. Chỉ vào ngọn đuốc, anh hãnh diện nói:
- Đó là ngôi nhà nguyện của tôi. Tôi dâng hiến nó cho Chúa và tôi thường lên đó để cầu nguyện vào những lúc rảnh rỗi.
Đối với anh, Thiên Chúa là thứ nhất.
Tuy nhiên, anh còn làm được nhiều việc khác nữa. Hội Hồng thập tự đã cấp giấy khen cho anh sau khi anh hiến nửa lít máu lần thứ sáu mươi năm. Khi hay biết những công việc bác ái Mẹ Têrêsa đang làm bên Ấn Độ, anh đã gửi tặng Mẹ 12.000 đô la, ngòai ra anh còn bảo trợ cho sáu em bé mồ côi, thông qua các tổ chức từ thiện.
Và như thế, đối với anh, tha nhân là thứ hai.
Riêng bản thân anh thì như thế nào? Chính anh đã nói với phóng viên tờ Los Angeles Times như sau:
- Tôi chẳng giàu xã hội tính, cũng chẳng bận áo quần hợp thời trang, nhưng tôi có được tính khôi hài. Tuy nhiên vấn đề là tôi không có đủ tiền để cưới vợ, và cũng chả giữ lại được đồng nào làm của riêng.
Và như thế đối với anh, bản thân mình là thứ ba.
Lúc đầu mọi người đều nhìn anh bằng cặp mắt nghi ngờ và họ mỉm cười, nhưng giờ đây thì tất cả đều nhìn nhận anh một cách nghiêm chỉnh và anh thực xứng đáng với danh hiệu là người giữ ngọn lửa của nữ thần tự do.
Với chúng ta cũng vậy. Chúng ta phải đặt Chúa vào địa vị, vào chỗ đứng số một, đồng thời phải cố gắng thực thi sự lựa chọn ấy suốt dọc cuộc đời của mình. Như trái đất xoay quanh mặt trời thế nào, thì mọi tư tưởng, mọi lời nói và mọi việc làm của chúng ta cũng phải xoay quanh Đức Kitô như vậy, để rồi chúng ta có thể nói lên như thánh Phaolô:
- Tôi sống, những không còn là tôi sống, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi.
Nói cách khác, Đức Kitô chính là thần tượng số một của lòng chúng ta.
Có như vậy thì trong ngày sau hết, chúng ta mới được Ngài đón nhận vào quê hương nước trời.
 
4. Từ bỏ
Năm 1994 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong chân phước cho chị Mác-đa-la Mô-ra-nô, là một nữ tu thuộc dòng Đức Mẹ Phù Hộ. Ngay từ thuở niên thiếu, Mác-đa-la đã phải nếm mùi tang tóc, chỉ trong vòng một tháng, thần chết đã hai lần đến gõ cửa nhà chị và cướp mất hai cột trụ của gia đình: người cha và người chị cả, những ngày đen tối bắt đầu đè nặng trên vai bà quả phụ Cartarina với bốn đứa con thơ dại.
Hồi đó Mác-đa-la mới 8 tuổi, nhưng đã tỏ ra khôn ngoan và chín chắn, thấy mẹ đau buồn và khóc hoài, chị thường nói với mẹ: “Mẹ ơi, thôi đừng khóc nữa, chẳng bao lâu con sẽ khôn lớn và con hứa sẽ giúp mẹ thật nhiều như bố và chị Phanxica đã giúp mẹ vậy”. Nhưng không phải tới lúc khôn lớn mà ngay từ bây giờ, vì nhu cầu và hoàn cảnh khó khăn của gia đình, Mác-đa-la đã ngồi xuống trước guồng tơ dệt chỉ mà chị Phanxica đã để lại.
Một hôm, tình cờ cha Bandenla, người anh họ của mẹ đến chơi và biết Mác-đa-la không được đi học, cha hứa sẵn sàng phụ giúp thêm vào nhu cầu vật chất của gia đình và trả tiền học phí cũng như tiền sách vở cho Mác-đa-la đi học. Sau hơn mười năm chăm chỉ học tập, chị đã tốt nghiệp và trở thành một cô giáo trường làng, thế là Mác-đa-la đã bắt đầu làm việc để phụ giúp gia đình. Suốt 16 năm trời, chị đã giữ lời hứa với mẹ, hơn nữa, chị biết mẹ luôn ấp ủ một ước muốn thầm kín là có được một căn nhà với mảnh vườn nho nhỏ, những luống rau và mấy giàn nho ngon ngọt. Vì thế, chị đã chuyên cần làm việc và âm thầm dành dụm, giảm bớt chi tiêu không cần thiết. Đến ngày sinh nhật thứ 30 của mình, Mác-đa-la dẫn mẹ đến xem mảnh đất với căn nhà và khu vườn như mẹ mong ước, chị âu yếm nói với mẹ: “Thưa mẹ, đây là món quà con xin biếu tặng mẹ, con chỉ xin mẹ một điều là cho phép con tận hiến cuộc sống còn lại của con cho Chúa để đáp lại tiếng gọi của Ngài vẫn thúc giục con từ lâu rồi”.
Quyết định của Mác-đa-la đã gây đau khổ nhiều cho mẹ chị, cho cha xứ, bạn bè và các phụ huynh học sinh của chị, vì họ mất đi một người con hiếu thảo, một người bạn tốt, một giáo viên gương mẫu, một người giáo dân nhiệt thành việc tông đồ. Trái lại, trong tâm hồn chị trào dâng một niềm vui mừng, vì chị có thể thực hiện được ước mơ chị đã ấp ủ từ lâu.
Ngày chia ly không khỏi ngậm ngùi đau xót, nhưng chị đã tìm được sức mạnh nơi tình yêu và lời nói của Chúa: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với thầy”. Đồng thời chị cũng được sự an ủi vì tin vào lời Chúa đã hứa: “Quả thật, Thầy bảo cho anh em rõ, không ai bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ con, anh chị em vì nước Thiên Chúa mà lại chẳng lãnh nhận gấp trăm ở đời này và sẽ được sống đời sau”. Thật vậy, lời hứa ấy đã thể hiện qua suốt 30 năm sống đời tận hiến, trong đó, hơn 25 năm hăng say với sứ mệnh tông đồ giữa giới trẻ nghèo khổ, bị bỏ rơi tại đảo Xixilia. Và Chúa đã thưởng cho chị qua việc Đức Giáo Hoàng tôn phong chị lên bậc chân phước để mọi người ngưỡng mộ và tôn kính.
Kể lại câu chuyện trên để minh họa cho bài Tin Mừng hôm nay. Bài Tin Mừng này là đoạn cuối trong bài giảng dạy về truyền giáo của Chúa Giêsu. Ngài nói với các tông đồ, và qua các ông, nói với mọi Kitô hữu về sự từ bỏ tất cả mọi sự để đi theo làm môn đệ Ngài và Ngài hứa ban thưởng bội hậu cho họ. Tại sao Chúa đòi hỏi như vậy và đòi hỏi như vậy có nghịch lý không? Quả thực, con đường theo Chúa vốn đầy những nghịch lý, một trong những cái nghịch lý ấy là điều kiện để theo Chúa. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu cho biết điều kiện đó là phải từ bỏ tất cả: gia đình, của cải, nghề nghiệp và chính bản thân mình. Cái nghịch lý là ở chỗ đó. Muốn theo Chúa, phải từ bỏ hết, phải từ bỏ tất cả, nghĩa là phải coi Chúa hơn hết tất cả mọi người, hơn hết tất cả mọi sự và tin vào một mình Chúa thôi.
Có người cho rằng: những điều trên đây Chúa chỉ dạy riêng cho những người đi tu mà thôi, nói thế cũng đúng, nhưng những lời Chúa dạy đây không phải là không áp dụng được cho tất cả chúng ta, bởi vì với mỗi người, Chúa cũng đòi hỏi phải từ bỏ, không phải từ bỏ để đi tu hay để làm tông đồ cho Chúa, nhưng trong cuộc sống, chúng ta cũng có nhiều cái, nhiều điều và nhiều lần phải từ bỏ.
Tóm lại, trong đời sống thường ngày, người Kitô hữu bị giằng co giữa một bên là tình cảm gia đình, bên kia là đòi hỏi của Chúa; hoặc một bên là quyến rũ của tiền tài, danh vọng, sống buông thả, một bên là sự trung thành với lý tưởng Kitô giáo. Trong những trường hợp giằng co như vậy, chúng ta sẽ chọn thế nào và phải làm gì? Bài Tin Mừng hôm nay soi sáng và hướng dẫn chúng ta hãy chọn đúng và thực hành đúng.
 
5. Đón tiếp
Một số người nghĩ rằng Giáo Hội đã lỗi thời và không còn cần thiết nữa. Có người cho rằng giảng huấn của Tin Mừng là khùng điên. Trong số báo The World xuất bản tháng 11 năm 1989, Ted Turner chủ nhân của cơ quan truyền thông Turner Broadcasting đã tuyên bố: “Kitô giáo là một tôn giáo dành cho những kẻ thua cuộc”. Ngoài câu nói này, ông còn vung vít nhiều điều khác nữa, nhưng câu này gồm tóm điểm chính yếu những gì ông ta đã phát biểu.
Trước mặt người đời những người Kitô hữu là những người khùng điên, dại khờ, thua lỗ. Nhưng điều người đời nghĩ rằng điên dại thì thật ra lại là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Đây là điều thánh Phaolô đã nói: “Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa”.
Bài Phúc âm hôm nay, là phần kết luận của chương 10, “Bài giảng về những Sứ Mệnh Truyền Giáo”. Đây là những hướng dẫn của Chúa Giêsu ban cho các tông đồ trước khi sai họ ra đi rao giảng Tin Mừng. Sau khi chọn 12 tông đồ, Chúa Giêsu đã ban quyền hành và sai họ ra đi thi hành mục vụ trong cánh đồng truyền giáo. Người ta chỉ thị cho họ phải chấp nhận cuộc sống hy sinh, khó nghèo, làm việc vất vả, gặp nhiều thử thách, bị bắt bớ hành hạ và bị giết chết. Đứng trước viễn tượng đó Người đã khuyên họ không nên vì sợ hãi mà thiếu lòng tự trọng, rồi mang mặc cảm tự ti làm hủy diệt nhân cách con người. Bởi, tuy không được tôn trọng trước mặt người đời, nhưng trước mặt Thiên Chúa họ rất quan trọng. Đây chính là Tin Mừng đối với các tông đồ.
“Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”. Chúng ta có bao giờ thực sự nghĩ rằng khi một người nào đó đón tiếp chúng ta là họ đón tiếp Chúa Giêsu Kitô không?
Theo những cuộc thăm dò cho biết hai trong ba người có quan niệm rất thấp về bản thân mình. Các nhà tâm lý học gọi đó là sự tự đánh giá thấp về chính mình. Thiếu lòng tự trọng thường là nguyên do của nhiều vấn đề xã hội và tâm lý. Người có lòng tự trọng cao thường lành mạnh hơn là những người thiếu lòng tự trọng. Họ sống lâu và ít có tai nạn hơn. Họ tránh được những thái độ khiêm nhã. Họ không cần phải dùng đến thuốc kích thích hay bia rượu, và cũng không cần phải khoe khoang hay làm những sự liều lĩnh ngu xuẩn để gây sự chú ý. Những người có lòng tự trọng cao thường thành công và kiếm được những việc làm lương bổng cao hơn. Tại sao? Những nhà tâm lý học trả lời rằng vì họ có niềm hy vọng và tinh thần lạc quan. Đây chính là yếu tố tạo nên thành công.
Martin Seligman, giáo sư tâm lý học của trường đại học University of Pennsylvania đã làm cuộc thăm dò các nhân viên của một hãng bán bảo hiểm lớn. Kết quả cho thấy rằng những người mong mỏi thành công đã bán bảo hiểm được 37/o nhiều hơn những người không mong đợi gì. Điểm then chốt là khi một người tự coi mình là một người thất bại thì tương lai sẽ thể hiện đúng điều dự đoán đó!
Tôi nghĩ Chúa Giêsu cũng đã hiểu tâm trạng của các tông đồ khi bị hất hủi và bị bắt bớ, họ phải trải qua những thời gian khó khăn để kiến tạo sự tự trọng. Suy nghĩ tích cực về chính mình đang khi bị phê bình gay gắt là những thử thách tâm lý khó khăn nhất các môn đệ đang gặp phải
Những lời khích lệ của Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có giá trị vì được Thiên Chúa yêu thương. Giá trị của chúng ta không hệ tại ở lời phê bình của người đời, hay do tài năng khéo léo của chúng ta, nhưng vì chúng ta là môn đệ của Người, cho dù nam hay nữ, già hay trẻ, giáo dân hay tu sĩ, hay chỉ là một trong những con người “bé nhỏ”.
“Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần của tiên tri… Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy… người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Có khi nào chúng ta nghĩ rằng chúng ta đón tiếp một người nào đó là chúng ta đón tiếp chính Chúa Giêsu không? Những người Công giáo ở Ao Quốc thường treo khẩu hiệu này ở nhà mình: “Người khách là Chúa Kitô”.
Trong suốt 58 năm làm linh mục (1910-1968), thánh Padre Piô đã nghe hàng ngàn người xưng tội. Thế nhưng, hiều vị giáo sĩ lúc bấy giờ đã coi cha Padre Piô là kẻ dối trá. Từ những năm mới bắt đầu, dân chúng tung tin đồn ngài là nhà huyền bí giả hiệu với những vết thương tự làm khổ mình, và cả chuyện lăng nhăng về tình dục. Năm 1931 với sự đồng ý của Vatican, bề trên đã cấm ngài không được giải tội và dâng thánh lễ công khai. Phải mất 2 năm để điều tra và phục hồi năng quyền cho ngài được dâng thánh lễ. Mãi đến ngày 5 tháng 3 năm 1934 ngài mới được phép giải tội, nhưng chỉ ngồi tòa cho đàn ông mà thôi. Hai tháng sau đó, ngày 12 tháng 5, ngài mới được phép giải tội cho cả phụ nữ nữa. Vì sự nghi ngờ này, nhiều vị trong Giáo Hội tránh né cha Padre Piô. Nhưng vị giáo hoàng tương lai đã không thèm để ý tới những tin đồn. Ngài đã chỉ dựa vào cảm giác tốt lành của những người Công giáo bình thường: “Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần của tiên tri “.
Đức Giáo Hoàng đã đón nhận một phần thưởng tốt đẹp. Năm 1962, đang khi tham dự Công đồng Vatican II, ngài nghe tin một bè bạn đang hấp hối vì ung thư cổ họng. Ngài viết thư xin cha Padre Piô cầu nguyện cho bà. Dr Wanda Poltawka đã được khỏi bệnh và phục hồi sức khỏe. Và 40 năm sau, bà đã có mặt trong buổi lễ phong thánh của cha Padre Piô.
Chúng ta cầu xin Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta những vị thánh, giống như cha Padre Piô. Nhưng chúng ta cũng phải cầu xin cho chính chúng ta có sự khiêm tốn để đón nhận họ như một vị thánh nữa.
 
6. Đón tiếp
Cách đây vài năm có dịp lên thăm người bạn ở tiểu bang Minnesota tôi nghe kể câu chuyện như sau. Tiểu bang Minnesota ở phía trung bắc nước Mỹ, giáp với Canada, vào mùa đông thường có những trận bão tuyết và nhiệt độ tụt xuống -30 hay -40 độ âm Farenheit. Vào một đêm bão tuyết, chiếc xe hơi của người phụ nữ bị chết máy trên đường tới Rochester. Chị biết rằng sẽ bị chết cóng nếu cứ ngồi lại ở trong xe. Tuy là vùng miền quê, nhưng trên trục lộ chính, cũng có một số nhà dọc theo đường lộ. Chị vào gõ cửa khoảng trên một chục căn nhà nhưng chẳng có ai mở cửa. Sau cùng, có một người lái xe ngang qua thấy chị nằm gục ngã bên vệ đường bèn đưa chị vào nhà thương cấp cứu. Chị được cứu sống, nhưng đã bị chết tất cả các ngón tay, ngón chân và một bàn chân vì giá lạnh.
Phần xấu nhất của câu chuyện là tại mỗi căn nhà nơi chị bước vào gõ cửa, mọi người đều ở trong nhà đêm hôm đó. Tất cả mọi người đều nghe tiếng gõ cửa. Tất cả mọi người đều là các Kitô hữu. Nhưng không một ai đã mở cửa, vì họ sợ trộm cướp sẽ đột nhập vào nhà giữa đêm bão tuyết. Câu chuyện bi thảm này đã xảy ra ở một vùng quê hiền hòa chứ không phải là ở Chicago hay New York, nơi mà thường xảy ra những vụ bắn nhau và giết người mỗi ngày!
Theo tự điển Webter’s, để định nghĩa chữ “hospitality”, “hiếu khách”, tác giả đã đặt nó nằm ở giữa hai chữ “hospice”, chỗ ở săn sóc cho người hấp hối, hay nhà nghỉ chân cho khách vãng lai, và chữ “hospital”, “bệnh viện”, nơi chữa lành. Ý nghĩa đích thực của sự hiếu khách là cái mà chúng ta ban tặng cho khách khi chúng ta mở cửa nhà ra trong tinh thần thực sự là cống hiến chỗ ở và chữa lành cho họ.
Sự tốt lành, tử tế, và cử chỉ bác ái yêu thương với tha nhân là một trong những hoa trái của Chúa Thánh Thần. Sách Giáo lý Công giáo số 901, đã trích dẫn lại tinh thần của Công đồng Vaticanô II trong Hiến chế Lumen Gentium – Anh sáng Muôn dân, đoạn 34 như sau:
“Nhân vì đã được thánh hiến cho Chúa Kitô và được Chúa Thánh Thần xức dầu, các giáo dân đã lãnh nhận ơn gọi kỳ diệu và những phương tiện giúp cho Chúa Thánh Thần sinh ra trong họ những hoa trái ngày càng dồi dào hơn. Đúng thế, tất cả các hoạt động của họ, những việc cầu nguyện và các việc tông đồ của họ, đời sống phu phụ và gia đình của họ, những lao nhọc hàng ngày của họ, những giải lao về tâm trí và thân thể của họ, nếu họ sống những điều này trong Thần Khí của Chúa, rồi cả những thử thách của cuộc đời, nếu được chịu đựng cách nhẫn nhục, thì tất cả mọi sự sẽ trở thành “lễ tiến dâng thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô”. Và trong việc cử hành Thánh thể, các lễ vật này sẽ hợp với sự hiến dâng Thân thể của Chúa để được dâng lên Chúa Cha với tất cả niềm kính thảo. Đó là cách giáo dân hiến dâng tất cả thế giới lên Thiên Chúa, bằng cách dâng lên Chúa từ khắp nơi một sự phụng tự tôn thờ do cuộc sống thánh thiện của họ”.
Nếu “Người khách là Chúa Kitô” thì cuộc sống thánh thiện là cuộc sống biết đón nhận “Người khách” đó.
 
7. Ân tình
Willton Rix có kể một câu chuyện đầy kịch tính như sau “Vào một sáng mùa đông tuyết lạnh, Sadhu Sundar Singh và một người bạn du lịch qua miền núi Bắc Ấn Độ. Thình lình một cơn bão tuyết ào ào đổ tới, gió lạnh gào thét bên tai họ, khiến hai người phải chống trả hết sức khó khăn.
Đang lúc “dầu sôi lửa bỏng” ấy, họ lại thấy một người đàn ông nằm vất vưởng bên đường chờ chết. Sadhu muốn dừng lại để cứu giúp người bị nạn, nhưng bạn ông cho rằng, nỗ lực ấy chỉ hoài công thôi. Vì để cứu lấy chính mình trong lúc này cũng đã vất vả lắm rồi. Và ông bạn ấy đã bỏ đi.
Chạnh lòng xót thương, Sadhu ở lại bên kẻ bất hạnh, xoa nóng tay chân con người sống dở chết dở ấy. Với sức lực còn lại, Sadhu cố gắng cõng anh trên lưng và khó nhọc đi qua vùng bão tuyết. Hơi ấm của hai thân thể hòa quyện lấy nhau khiến người kia hồi sinh và cả hai cùng mạnh sức.
Đi khoảng một dặm, họ kinh ngạc khi nhìn thấy một xác chết lạnh cóng bên vệ đường. Họ càng sững sờ hơn nữa khi nhận ra đó chính là anh bạn cùng đi với Sadhu sáng nay.
Nghĩa cử yêu thương của Sadhu đã minh chứng hùng hồn cho lời nói của Đức Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay:”Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”. Ông bạn của Sadhu đã cố giữ lấy mạng sống mình nên đã mất mạng, còn Sadhu liều mất mạng “Vì anh em” nên đã được sống. Một người không có khả năng từ bỏ mình “Vì anh em” thì họ cũng không có khả năng yêu thương. “Phải liều mất đi” để “tìm thấy lại”. Đó là nghịch lý mà Đức Giêsu đã trải qua để nêu gương cho chúng ta. Người đã sẵn lòng chịu chết ô nhục để rồi sống lại vinh quang, và cũng để nói lên lời yêu thương con người.
“Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy”. “Vì Thầy” cũng chính là “Vì anh em”. Biết bao lần, Đức Giêsu đã đồng hóa mình với tha nhân. Đó là sợi chỉ hồng xuyên suốt các Tin mừng. Người tuyên bố:”Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy”. Đến ngày phán xét, Người cũng sẽ nói với mỗi người chúng ta:”Mỗi lần các ngươi làm cho một người nhỏ bé nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy”.
“Người bé nhỏ nhất” không cần phải tìm đâu xa. Họ không ở tận Châu Mỹ, Châu Âu, cũng không sống nơi chân trời góc biển. Họ ở trước cửa nhà chúng ta, họ là những kẻ nghèo hèn khốn khổ, họ là những người cô thế cô thân, họ là những ai không cửa không nhà, họ là những người già cả cô đơn, họ là những kẻ nghiện ngập sa đọa, họ là những ai bị hất hủi lãng quên.
Đức Giêsu còn hứa: “Ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã mà thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì không mất phần thưởng đâu”. Cho “một chén nước lã” là cử chỉ nhỏ bé ai cũng có thể làm được, dù là một đứa trẻ.
“Một chén nước lã” đối với Chúa lại là “một chén ân tình”. Điều đó cho thấy, Thiên Chúa không hề bỏ sót một nghĩa cử yêu thương nào của chúng ta. Đồng thời Người cũng muốn nói, cho dù chỉ là nghĩa cử bé nhỏ âm thầm, một khi đã được khoác vào tấm áo tình yêu thì nó liền trở nên vô cùng cao cả. Tình yêu chính là trọng tâm của đời sống người tín hữu.
Tình yêu là chiếc đũa thần biến thập giá trở nên nhẹ nhàng, vừa sức cho mỗi người.
Tình yêu là liều thần dược giúp người tín hữu dám liều mất mạng sống vì Thầy.
Tình yêu đã làm cho người tín hữu mến Chúa hơn cha mẹ, con cái, cũng sẽ giúp họ yêu thương phục vụ mọi người cách thiết thực, chân tình.
Sức mạnh phi thường khiến thánh Phaolô vượt qua bao gian nan thử thách trên đường truyền giáo chính là tình yêu. Ngài viết: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi”.
Lạy Chúa, xin cho chúng con dám sống chết cho tình yêu Chúa, cho chúng con biết: Chân thành hơn trong yêu thương, bác ái hơn trong lời nói, nhân từ hơn trong cách cư xử.
Xin cho cuộc đời chúng con mãi mãi là mùa hoa nhân ái.
 
8. Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên
Lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay nếu chỉ nghe thoáng qua, chúng ta dễ có cảm tưởng là Chúa phế bỏ mọi giá trị đã làm nên con người tại thế. Thực vậy, ai trong chúng ta cũng chỉ có thể xác định được chính mình khi quy chiếu với những tương quan thiết thân nhất: tương quan với cha mẹ, tương quan với con cái, tương quan với chính bản thân. Một khi tước bỏ hết những tương quan ấy, chúng ta còn là gì? Thực ra Lời Chúa không nhằm phế bỏ, nhưng là đặt mỗi tương quan vào đúng trật tự của nó.
Trong thực tế cuộc sống nhân sinh, tùy theo mỗi thời đại, mỗi nền văn hóa, mỗi thể chế, những tương quan này đã chịu biết bao thay đỗi. Trong bối cảnh văn hóa Á Đông xưa, người cha vẫn được nhìn nhận như là thay Trời, nắm toàn quyền trong gia đình, thậm chí có toàn quyền trên sự sống, sự chết của người con. Chúng ta cũng từng nghe câu chuyện Abraham sát tế con mình là Isaac. Một cái quyền mà ngày hôm nay hầu như mọi pháp luật đã đều bác bỏ. Đạo Hiếu là đạo khẳng định nhân tính con người. Kẻ bất hiếu vô đạo không được một nền văn hóa nào chấp nhận, và nó bị loại trừ khỏi cõi nhân sinh. Thế nhưng đạo hiếu cũng không thể miễn trừ cho con người phải coi xã tắc là trọng, phải coi đạo Trời là lớn, từ đó con người nhiều khi phải vị nghĩa diệt thân. Trong chừng mực nào đó, những quan niệm như vậy, tuy từng khống trị suy nghĩ và lối sống bao thời đại, nhưng vẫn chỉ là những nỗ lực nhằm thiết lập trật tự xã hội, gia đình và an sinh của mỗi con người. Và cũng chịu nhiều biến động, khủng hoảng, kéo theo biến động và khủng hoảng toàn xã hội. Ngày nay, với tuyên ngôn nhân quyền, với những thể chế dân chủ, một lần nữa những tương quan thiết thân ấy đã có những thay đổi tận căn: trong đăng ký kết hôn, ngày nay không thấy nói tới cha mẹ đôi bạn; trong giáo dục gia đình, cha mẹ không có quyền đánh con... quyền cá nhân trở thành trung tâm của mọi quyền lợi và nghĩa vụ.
Thực tế ấy, cho thấy những tương quan căn bản làm nên cuộc sống con người luôn luôn phải tự điều chỉnh. Và Lời Đức Giêsu phải được hiểu trong nỗ lực đem lại điểm quy chiếu chân thật nhất cho cuộc sống.
Trước khi nói tới chữ "Từ Bỏ", chúng ta cần phải nhắm thẳng tới đích điểm mà Chúa nêu lên như là đối tượng của hành vi "Từ Bỏ" này: "mà theo Thầy". "Theo Thầy" là đi trên con đường đồng hành với Thiên Chúa để "Yêu Thương", "Hiến dâng mạng sống vì anh em","Rửa chân cho nhau", "đón tiếp anh em", để "cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy"... "Từ Bỏ" là để có "Tình yêu" lớn hơn, "Tình Yêu" của chính Thiên Chúa "Đấng Sáng Tạo", và đấy là trở về với Tình Yêu mà con người đã được tạo dựng, đước trao ban, để là "Hình Ảnh" của Thiên Chúa. Tình Yêu "mà bởi đó người nam đã bỏ cha mẹ mình, để kết hợp với người nữ...". Thánh Phaolô đã nói về tình yêu ấy nơi người Kitô hữu như thế này "chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người." Đi theo Đức Giêsu, tuy là phải bỏ nhưng là để nhận lãnh gấp trăm "Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp." Đó là quy luật của Tình Yêu "Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối rữa đi, nó chẳng sinh bông trái..." Người môn đệ sẽ đón nhận mọi tương quan thân thiết nhất của mình trong Đức Giêsu. Bài học này đã trở nên hiện thực dưới chân Thánh Giá: vào lúc đó cả người mẹ, lẫn người môn đệ đã nghe lời gọi "Người ấy là con bà" và "Người ấy là Mẹ con". Và chúng ta đã thấy ở đó Đức Giêsu đã đổi mới mọi tương quan, làm cho nó mang chiều kích siêu việt của Tình Yêu Thiên Chúa, trở nên nguồn sự sống và hạnh phúc thật cho nhân loại.
Quả thật, có thể con người vẫn cố chấp trong nỗi hoài nghi đối với Tình Yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Câu chuyện người đàn bà giàu có Sunêm chỉ là trong muôn một. Nhưng Lời Chúa đã nên hiện thực nhờ niềm tin của Êlisa, và Lời Chúa cũng đã nên hiện thực nhờ niềm tin của Đức Maria, của mọi thế hệ môn đệ trong lòng Hội Thánh, mà gần đây nhất trong lòng tin của Cha Thánh Pio, con người tuy giam hãm mình trong 4 bức tường khổ tu, lại làm nên chung quanh mình một đại gia đình thân yêu, mà hằng triệu triệu con tim đã say mến đến với Ngài.
 
9. Chọn lựa
Một trong những lý do khiến nhiều anh em lương dân không muốn gia nhập Kitô giáo, đó là vì họ nghĩ rằng nếu vào đạo họ sẽ phải bỏ ông bà, bỏ cha mẹ. Sẵn có một ý nghĩ như vậy, nếu họ lại được nghe lời Chúa Giêsu nói trong bài Tin mừng hôm nay, họ sẽ càng tin chắc rằng suy nghĩ của họ về đạo Công giáo là đúng. “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy”. Thật rõ ràng và dứt khoát. Nhưng có thật là khi vào đạo Công giáo người ta sẽ phải từ bỏ cha mẹ của mình không?
Để trả lời cho câu hỏi trên, ta có thể nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói về đời sống vợ chồng: “Người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ và luyến ái với vợ mình và cả hai sẽ nên một huyết nhục”.
Trong cuộc đời này có mối quan hệ nào thân thương, gắn bó mật thiết cho bằng mối tình của cha mẹ và con cái? Ta càng cảm nghiệm điều này rõ ràng hơn khi cha mẹ qua đời. Cha mẹ qua đời là một mất mát to lớn không thể bù đắp được trong cuộc đời của những đứa con. Dù thân thương gắn bó như vậy, thế mà anh thanh niên vẫn có thể lìa bỏ cha mẹ để sống với một người thiếu nữ xa lạ nào đó mà anh đã chọn làm bạn đời. Thì ra có một cái gì đó thật mãnh liệt đã kéo anh thanh niên ra khỏi vòng tay yêu thương của cha mẹ để gắn bó với người bạn đời của mình. Điều mãnh liệt ấy là gì nếu không phải là tình yêu? Và thật ra, dù lìa bỏ cha mẹ để gắn bó với người bạn đời của mình, thì không phải anh thanh niên cắt đứt tình nghĩa với cha mẹ. Tình nghĩa vẫn còn đó, nhưng lìa bỏ cha mẹ là để cho cuộc sống mới được phát sinh và vươn cao.
Nếu chỉ có tình yêu mới lý giải được sức mạnh đã lôi kéo người thanh niên ra khỏi cuộc sống chung với cha mẹ để gắn bó với người yêu, thì cũng chỉ có tình yêu mới lý giải được lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy sẽ không xứng đáng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống vì Thầy sẽ lại tìm thấy”. Phải có lòng yêu mến Đức Giêsu mãnh liệt lắm người ta mới dám từ bỏ và đánh đổi mọi sự, kể cả mạng sống của mình. Và khi từ bỏ những mối liên hệ thân thương của đời mình, thì không phải là phủ nhận giá trị của những mối liên hệ ấy, lại càng không phải là hủy diệt đi, nhưng là để cho cuộc sống mới, cuộc sống của Đức Kitô được vươn cao trong lòng mình, trong đời mình.
Đi đạo, theo đạo là sống cuộc sống của Chúa Giêsu, là yêu mến và gắn bó với Người, là đi vào một cuộc tình với Người. Mà dấu chỉ cho thấy một người có lòng yêu mến Đức Kitô chính là người ấy biết yêu thương anh em mình. Chúa Giêsu đã khẳng định rõ ràng điều ấy: “Bất cứ sự gì các ngươi làm cho một người trong các anh em bé mọn của Ta đây là các ngươi làm cho chính Ta”. Và “Ai cho một trong những kẻ bé mọn này dù chỉ là một ly nước lã thôi sẽ không mất phần thưởng đâu”.
Nếu đối với những người khác mà Chúa Giêsu còn đòi ta phải quan tâm, phải đối xử tốt như vậy huống chi là tổ tiên, là ông bà, là cha mẹ của ta? Chỉ có điều là Người muốn chúng ta đừng để bất cứ mối liên hệ nào, bất cứ giá trị trần gian nào ngăn cản lòng yêu mến của ta đối với Người. Càng yêu mến Chúa nhiều ta càng được thôi thúc để yêu mến ông bà, cha mẹ và mọi người nhiều hơn. Thế thì đâu có phải khi theo Chúa là phải bỏ ông bà, cha mẹ.
 
10. Tình yêu
Tại đảo Sycilia, dân chúng còn truyền miệng nhau câu chuyện về một họa sĩ tài danh trong vùng sống cách đây vài trăm năm trước và là tác giả của bức họa nổi tiếng về cuộc đời Chúa Giêsu hiện được trưng tại nhà thờ chánh tòa trong vùng.
Sau thời gian làm việc, họa sĩ này đã vẽ xong dung mạo các tông đồ, nhưng còn hai dung mạo không vẽ được, đó là dung mạo của Chúa Giêsu và dung mạo của Giuđa người môn đệ phản Thầy.
Ông phải đình lại công việc để đi tìm người mẫu cho dung mạo của Chúa Giêsu. Sau nhiều tháng đi tìm, ông chọn được một thanh niên làm mẫu cho dung mạo của Chúa Giêsu. Vấn đề khó khăn cuối cùng là đi tìm người làm mẫu cho dung mạo Giuđa. Ông đã phải đi tìm rất nhiều năm mà không gặp, đến lúc gần cuối đời tưởng mình sẽ không thể nào hoàn thành bức tranh được nữa, ông buồn bã đi dạo trên đường phố quanh đó, thì bỗng gặp một người hành khất rách rưới với dung mạo đầy khổ đau mà cũng vừa gian ác. Cho đây là mẫu người lý tưởng cho dung mạo của Giuđa, ông mời người hành khất về nhà làm mẫu cho bức tranh còn dang dở.
Nhìn thấy bức tranh Chúa Giêsu và các môn đệ được trình bày trong phòng, người hành khất bỗng biến sắc và càng lúc càng trở nên bối rối hơn.
Người họa sĩ hỏi lý do tại sao?
Người hành khất trả lời:
- Thưa ông, chính tôi đây là người đã ngồi làm mẫu cho ông vẽ chân dung Chúa Giêsu trong bức tranh này cách đây vài chục năm về trước, và bây giờ cũng chính tôi là người làm mẫu cho ông vẽ chân dung của Giuđa, người phản bội Chúa. Thật tôi không ngờ là tôi đã trở nên tồi tệ như vậy.
Câu chuyện trên giúp chúng ta đi sâu hơn một chút vào ý nghĩa câu nói của Chúa Giêsu ghi lại nơi đoạn Phúc âm của Chúa nhật hôm nay: “Người nào đón tiếp chúng con là đón tiếp Thày, và người nào đón tiếp Thày là đón tiếp Đấng đã sai Thầy”.
Trên con đường trở về nhà Cha, đón tiếp Thiên Chúa và được Thiên Chúa đón tiếp, chúng ta cần đi qua một con đường duy nhất, đó là anh em, đó là mỗi người chúng ta cần trở nên giống Chúa Giêsu Kitô, trở nên một Chúa Giêsu Kitô khác, đến độ anh em có thể nhìn vào dung mạo tinh thần của chúng ta mà nhận ra sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô, để rồi từ đó mà lên gặp gỡ Thiên Chúa Cha, Đấng vô hình: “Người nào đón tiếp chúng con là đón tiếp Thầy”.
Kể từ giây phút Con Thiên Chúa Nhập Thể làm người để con người có thể nhìn được Thiên Chúa vô hình nơi dung mạo hữu hình của Chúa Giêsu Kitô: “Ai thấy Thầy là thấy Cha Thầy”. Kể từ giây phút đó con người chúng ta, mỗi người chúng ta cũng được ban cho quyền năng để trở nên giống như Chúa Giêsu Kitô, để trở nên dấu chỉ hướng dẫn anh em đến cùng Thiên Chúa Cha: “Ai đón tiếp chúng con là đón tiếp Thầy”. Và để chúng ta được trở nên một Chúa Giêsu khác, được giống như Chúa Giêsu thì dường như chỉ có một bí quyết duy nhất và bí quyết đó được Chúa Giêsu nhắc lại trong đoạn Phúc âm hôm nay, đó là tình yêu vô điều kiện. Đối với Chúa Giêsu, yêu mến Chúa trên hết mọi sự, trên hết mọi người, tình yêu sẽ làm cho hai người trở nên giống nhau.
Chúng ta hãy nhìn lại cuộc sống của mình, chúng ta đã được Chúa ban cho hồng ân để trở nên giống như Chúa từ ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa tội, như được thánh Phaolô đã nhắc lại trong bài đọc thứ hai hôm nay qua cách nói: “Chúng ta đã chịu phép rửa trong Đức Kitô, là chịu phép rửa trong sự chết với Người và cùng chịu mai táng với Người, để được thanh tẩy trong sự chết của Người và nhờ sức mạnh của Người, như Chúa Giêsu sống lại thế nào thì chúng ta cũng sẽ được sống lại như vậy”. Mỗi người chúng ta đã được đón nhận hồng ân trở nên giống như Chúa và hồng ân này cũng là trách nhiệm mỗi người chúng ta, mỗi người chúng ta cần phải thực hiện điều mà Chúa ban cho, là trở nên giống như Chúa. Hồng ân và trách nhiệm luôn đi đôi với nhau.
Thử hỏi tình yêu được Chúa đổ vào trong tâm hồn chúng ta hiện tại đã được phát triển như thế nào? Chúng ta có trở nên giống như Chúa hơn hay chúng ta đã phung phí tình yêu đó? Phung phí ân sủng Chúa ban cho để rồi chúng ta không còn thể hiện dung mạo của Chúa nữa mà thể hiện dung mạo của một người phản bội của Chúa, như dung mạo của Giuđa.
 



1. Đừng sợ

Trong xã hội ngày nay, có người vì sợ nghèo đói, sợ lao động mà lao vào một cuộc sống phi đạo đức. Có người trái lại, vì muốn làm giàu nhanh chóng, cũng đã thẳng tay chà đạp nhân phẩm của người khác và của chính mình nữa. Cả hai loại người trên đều đánh mất giá trị làm người và đã gây ra những thiệt hại to lớn không chỉ về kinh tế, xã hội mà còn về tinh thần, đạo đức cho cộng đồng nhân loại. Trong đời sống tôn giáo nói chung và Kitô giáo nói riêng, cũng luôn có mối đe doạ rình rập giết chết lòng tin của người có đạo. Đó là nỗi sợ hãi. Sợ không kiếm được hay mất việc làm, sợ bị người đời gièm pha, chê cười, khinh khi, sợ bị xã hội kết án và loại trừ chỉ vì họ muốn sống theo những giá trị của Tin Mừng. Không thiếu những Kitô hữu đã đầu hàng, đã thoả hiệp để được yên ổn, để được vinh thân phì da, để được chức tước, địa vị xã hội. Họ sợ những người, những thế lực có thể giết hại họ phần xác.
Tuy nhiên, cũng không thiếu những Kitô hữu, có khi rất bình thường, lại thắng vượt được nỗi sợ hãi ấy, để sống chết với niềm tin vào Thiên Chúa. Họ vững tin rằng mọi sự, mọi chuyện đều nằm trong bàn tay Thiên Chúa. Họ vững tin rằng Thiên Chúa quan phòng và yêu thương mọi người. Họ tin vào lời của Thiên Chúa là Đức Kitô. Khi vượt thắng nỗi sợ hãi, họ thường phải chịu thiệt thòi cách này hay cách khác, có khi liên luỵ tới cả mạng sống, tài sản, danh dự và địa vị xã hội. Họ là những người mà ngay từ đầu, Hội Thánh đã dành cho một danh xưng đầy trân trọng: Martyrion, có nghĩa là các chứng nhân, các vị tử đạo.
Tôn giáo nào cũng có những chứng nhân đích thực của mình. Họ luôn được tôn kính và noi theo. Họ luôn là niềm vinh hạnh của cộng đồng tôn giáo. Nhìn sâu hơn nữa, chúng ta sẽ thấy được rằng: cuộc sống theo niềm tin Kitô giáo luôn là một sự chọn lựa. Trong mọi sinh hoạt như kinh tế, xã hội, văn hoá và chính trị, chúng ta đều được mời gọi sống tin vào Thiên Chúa và phó thác trong tay Ngài. Chúng ta đều được mời gọi chứng tỏ cho mọi người thấy chúng ta nhận ai, theo ai, tin ai, bằng lời nói và bằng việc làm một cách dứt khoát, không hèn nhát, không thoả hiệp, không đầu hàng.
Hơn bao giờ hết, trong lúc xã hội đang đi vào cái thế bất ổn, thì người tín hữu chúng ta nên tự kiểm điểm một cách bình tĩnh và khách quan, để thấy hết được những đòi hỏi của Tin Mừng trong cuộc sống hôm nay, hầu nhờ đó sống trung tín với những lựa chọn của mình. Có như thế, chúng ta mới không hổ thẹn với Thiên Chúa và với dân tộc như lời Ngài đã phán: “Ai xưng tụng Ta trước mặt thiên hạ thì Ta sẽ xưng tụng nó trước mặt Cha Ta”.

 

2. Nhận & chối – Anmai.

Một sĩ quan quân đội Nga đến gặp một vị mục sư Hungary và xin được nói chuyện riêng với ông. Viên sĩ quan là một chàng trai trẻ, tướng khí hung hãn và dương dương tự đắc trong tư thế của kẻ chiến thắng.
Khi cửa phòng khách đã được đóng lại rồi, viên sĩ quan chỉ cây thánh giá treo trên tường và nói với vị mục sư rằng: “Ông biết không, cái đó là sự dối trá do các mục sư bày đặt ra để làm mê hoặc đám dân nghèo, để giúp những người giàu dễ dàng kềm hãm họ trong tình trạng ngu dốt. Bây giờ chỉ có tôi và ông, ông hãy thú nhận với tôi rằng: ông không hề bao giờ tin rằng Chúa Giêsu Kitô là con Thiên Chúa”.
Vị mục sư cười và trả lời rằng: “Ông bạn ơi, tôi tin thật đấy, vì đó là sự thật”. “Ông đừng có lừa dối tôi, cũng đừng diễu cợt tôi”, viên sĩ quan hét lên. Anh ta rút ra một khẩu súng lục, chĩa vào vị mục sư và hăm doạ: “Nếu ông không nhận rằng đó chỉ là một sự dối trá, thì tôi sẽ nổ súng”.
Vi mục sư điềm tĩnh trả lời: “Tôi không thể nói như thế, vì không đúng. Đức Giêsu thật sự là Con Thiên Chúa”.
Viên sĩ quan vứt khẩu súng xuống sàn nhà và chạy đến ôm vị mục sư. Anh ta vừa khóc vừa nói: “Đúng thế, đúng thế. Tôi cũng tin như vậy, nhưng tôi đã không thể tin rằng có những người dám chết vì đức tin cho đến khi chính tôi khám phá ra điều này. Tôi xin cám ơn ngài. Ngài đã củng cố lòng tin của tôi. Bây giờ chính tôi cũng có thể chết cho Đức Kitô. Ngài đã chứng minh cho tôi rằng: Điều này có thể làm được”.
“Các vị tử đạo nhắc nhở chúng ta rằng: chết vì niềm tin là hồng ân được trao ban cho thiểu số, nhưng sống niềm tin là ơn gọi của mọi tín hữu”.
Công đồng Vatican II đã mở ra một kỷ nguyên mới, đã mang đến cho Hội Thánh và mỗi tín hữu một mùa xuân mới, đã nêu bật và tạo cho mọi tín hữu nhiều cơ hội để biểu lộ niềm tin qua hành động sống đạo và hành đạo. Nhờ quan điểm nay. Đạo đã không bị giới hạn trong nhà thờ và trong những giờ kinh, nhưng đạo và niềm tin đã được đem ra sống và thực hành trong mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Nhưng câu vấn nạn thường gây nhiều thắc mắc vẫn là: sống niềm tin và thực hành niềm tin nào?
Quan trọng nhất có lẽ là tin vào Thiên Chúa tình yêu. Đối với mỗi người trong chúng ta Thiên Chúa tình yêu nào có một chương trình để dẵn dắt chúng ta đi trong tin yêu và đạt được tình yêu hoàn hảo. Rồi bước thứ hai là thực hành tình yêu với câu hỏi đơn sơ: nếu Chúa là tôi, thì trong hoàn cảnh cụ thể này, Ngài sẽ xử trí và hành động như thế nào?
Trang Tin mừng hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta về vấn nạn niềm tin. Chúa hỏi chúng ta rằng chúng ta có can đảm tuyên tín, tuyên xưng Chúa trước mặt thiên hạ hay là chúng ta chối Chúa trước mặt thiên hạ?
Tưởng chừng vấn nạn này đơn giản nhưng phải nói là vấn nạn này là vấn nạn lớn của cuộc đời mỗi người chúng ta.
Chưa đề cập đến lòng tin vào Thiên Chúa, chỉ đề cập đến đời sống thường nhật của chúng ta thôi chúng ta sẽ thấy một sự thật thật phũ phàng.
Phải nhìn nhận với nhau một điều là ngày hôm nay con người ta không biết do ảnh hưởng từ đâu mà người ta sống với nhau thật vô trách nhiệm, hay trốn tránh trách nhiệm. Nhan nhản các phương tiện thông tin đại chúng như tivi, báo chí đưa tin đấy, quá nhiều, quá nhiều người đã không can đảm đón nhận sự thật, đón nhận trách nhiệm của mình và cứ cố đẩy đưa trách nhiệm cho người khác được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Không biết thời trước có vậy không nhưng thời này con người sống thiếu trách nhiệm quá! cái sự vô trách nhiệm hình như nó được luyện từ ngày còn bé thì phải. Nhiều và nhiều vị phụ huynh có con trẻ, khi cho chúng ăn, khi cho chúng chạy nhảy, khi cho chúng chơi … thế nào chúng cũng bị vấp té. Vấp té vì hấp tấp, vì lăng tăng, vì thiếu quan sát chướng ngại vật của trẻ vậy mà đa số các ông bố, các bà mẹ sau khi thấy con té thì vực con dậy và lấy tay đập vào cạnh bàn, đập vào cái ghế và dạy cho con trẻ biết rằng nó chính là thủ phạm gây cho con trẻ té chứ không phải là lỗi do chính con trẻ.
Tưởng chừng là chuyện nhỏ nhưng dần dần cái lối sống, lối nghĩ, lối hành động của trẻ nó sẽ in sâu vào tư tưởng của trẻ là vô trách nhiệm, chối bây bẩy những hành vi của mình. Từ những chuyện nhỏ đó nó vô tình đã dẫn đến cho con người tác hại vô cùng to lớn đó là trốn trách trách nhiệm.
Nhìn rộng hơn một chút chúng ta sẽ thấy ngay trong gia đình ngày hôm nay. Khi vui, khi hạnh phúc thì ai cũng giành phần của mình rằng mình là tác nhân mang đến hạnh phúc trong gia đình nhưng khi khốn khó một chút, khi gặp điều chẳng may chẳng lành thì từ chồng đến vợ đến con chẳng ai dám đứng ra lãnh cái trách nhiệm về mình cả. Vì trốn tránh trách nhiệm, từ chối bổn phận của mình trong gia đình nên rồi chuyện nhỏ nó xé ra thật to. Lỗ nó nhỏ vậy mà nó gây đắm thuyền ngày nào không hay. Mạnh chồng chồng chối, mạnh vợ vợ chối, mạnh con con chối bổn phận và trách nhiệm trong gia đình để rồi dẫn nhau ra toà. Ra đến toà cũng chẳng tránh khỏi cái kịch bản chối.
Ngày hôm nay, nhiều đôi hôn phối chia ly vì cái nguyên nhân căn bản đó là chẳng ai chịu nhìn vào bổn phận và vị trí phải có của mình trong gia đình. Vì chối từ đời sống gia đình thì chẳng chóng thì chày một ngày nào đó cũng chia tay.
Mở rộng ra một chút, khi sống trong xã hội, hoà nhập với xã hội trong công việc làm ăn. Thử hỏi mấy người trong công ty, trong xí nghiệp dám đứng ra lãnh phần trách nhiệm của mình sau khi để lại hậu quả không tốt. Buồn cười ở chỗ là khi có nguồn lợi, khi đạt thành tích thì ai ai cũng đua nhau chen vai vào giành một phần của mình đã đóng góp để được cái thành tích ấy. Để rồi cuối cùng con người cứ quấn quýt với nhau trong cái vòng xoắn của sự vô trách nhiệm.
Nhìn lên một chút nữa, những vị có trách nhiệm với nước với dân. Đã là người thì chẳng ai tránh khỏi thiếu sót, sơ xuất nhưng nhiều vụ án, nhiều sự việc xảy ra để lại những hậu quả khôn lường vậy mà người ta chỉ bị khiển trách vì vô ý đã gây hậu quả to lớn cho dân và cho nước.
Nhìn vào đời sống kitô hữu, lời Chúa trong trang Tin mừng hôm nay quả là một lời nhắc nhớ mỗi người chúng ta. Chúng ta là công dân Việt Nam: Đúng! nhưng thật sự nó chỉ đúng ở khía cạnh vật chất, khía cạnh con người còn khía cạnh tâm linh, thiêng liêng thì phải nói chúng ta là công dân nước trời. Nước Trời có Thiên Chúa làm chủ như Chúa Giêsu nói Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Chúng ta sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian vì nước của chúng ta không thuộc về thế gian này như Chúa Giêsu đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta. Chúng ta được Chúa mời gọi là chúng ta phải tuyên xưng Chúa trước mặt thế gian này để mai kia Chúa cũng sẽ tuyên xưng chúng ta trước mặt Thiên Chúa Cha.
Quả thật, chuyện tuyên xưng Chúa trước mặt thế gian này không phải là chuyện đơn giản. Chúng ta phải làm chứng về Chúa như vị mục sư đã can đảm tuyên xưng lòng tin vào Chúa trước mặt thế gian dẫu rằng họng súng, cái chết gần kề với ông.
Chúa Giêsu không thử thách chúng ta nghiệt ngã như viên sĩ quan thử thách vị mục sư kia là phải chết nếu không tuyên xưng. Chúa mời gọi chúng ta tuyên xưng lòng tin của chúng ta vào Chúa ngay trong đời sống thường nhật nhỏ bé hằng ngày.
Có nhiều người ngày hôm nay không dám làm dấu Thánh giá trước khi ăn cơm vì ngại! Dấu Thánh Giá và lời tạ ơn trước khi ăn là một nghĩa cử đẹp của một người biết ơn và một người nhìn nhận Chúa là Chúa của đời mình. Biết ơn trước mỗi bữa ăn điều này thật đúng và phải đạo vì lẽ ta có bữa ăn tạm gọi là cũng chẳng cao lương mỹ vị gì nhưng nhiều người khó nghèo hơn chúng ta, những nạn nhân của những cơn bão lụt, những vụ động đất làm gì mà có như ta, họ nằm mơ cũng chẳng có được như ta để rồi ta cảm ơn cũng chẳng thừa. Khi làm dấu ta tuyên xưng Chúa là chủ đời ta cũng đúng thôi vì thật ra cuộc đời của ta có nằm ngoài bàn tay của Chúa đâu như Chúa nhắc chúng ta: “thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu của anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,30.31).
Có người thì tham dự Thánh lễ cắt đầu cắt đuôi. Có khi cha giảng mới đến và khi mọi người rước lễ thì kéo nhau về. Hành động như thế tự nó nó nói lên sự chối Chúa trước mặt người đời. Thử hỏi ai trong chúng ta đãi tiệc mà thực khách đến muộn về sớm không? Thử hỏi Chúa có buồn không khi con cái Chúa cư xử với Chúa như vậy?
Chưa hết, không phải đi lễ cắt trước cắt sau như thế mà thậm chí còn bỏ lễ Chúa nhật. Người ta vẫn thường nói “ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt” để rồi có những người vô tư bỏ lễ Chúa nhật. Vì lẽ thường thì bỏ một lần xong lại cứ bỏ tiếp thôi, dần dần cái thói quen xấu bỏ lễ nó thâm nhập vào người ta lúc nào mà người ta không biết. Giữ đạo như thế phải chăng là một cách chối Chúa trước mặt người đời.
Còn những người đi lễ, thật sự thì có đi lễ đấy nhưng có làm cho thánh lễ nối dài trong cuộc sống hay là bước chân ra khỏi nhà thờ thì mọi chuyện đâu vào đấy. Sống Thánh lễ nối dài đó chính là một cách tuyên xưng Chúa trước mặt người đời.
Chắc có lẽ Chúa không đòi buộc con cái Chúa sau khi tham dự Thánh lễ ra khỏi cổng nhà thờ là hô hoán lên rằng tôi mới đi lễ xong, tôi là người Công Giáo. Ngày nay cũng chẳng còn cấm đạo như thời Minh Mạng hay những thời khó khăn để Chúa đòi hỏi kitô hữu phải đổ máu đào để minh chứng về Chúa.
Phải nhìn nhận thẳng rằng chính những lúc cấm đạo, những lúc bắt đạo thì đời sống đạo của Kitô hữu rất cao, không chỉ là đời sống đạo mà cách hành đạo rất tốt. Ngày xưa càng cấm đạo người ta càng giữ đạo và càng làm chứng về đạo. Ngày nay tình hình tự do tôn giáo được mở ra một chút thì đời sống đạo lại tụt dốc. Ngày hôm nay có nhiều phương tiện hơn, có nhiều cơ hội đến nhà thờ hơn nhưng người ta lại ít đến với nhà thờ hơn.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói rằng ngày nay người ta không cần thầy dạy nữa mà người ta cần chứng nhân! Chứng nhân của Chúa là gì? nhận Chúa là Chúa, là chủ tể đời mình là gì? Phải chăng đó chính là ăn tiếng nói, cư xử, hành vi của kitô hữu mới chính là cách tuyên xưng Chúa trước mặt người đời.
Và Chúa Giêsu đã hơn một lần nhắc nhở các môn đệ, nhắc nhở mọi người chúng ta: “Cứ dấu này người ta nhận ra anh em là môn đệ của Thầy đó là anh em hãy yêu thương nhau”.
Chúa cũng sẽ chất vấn chúng ta về hành vi, về thái độ làm chứng hay chối Chúa trước mặt người đời trong ngày sau hết. Chắc có lẽ, tự vấn lòng mình, tự soi vào tận sâu thẳm lòng mình chúng ta chúng ta mới biết được là mối tình giữa chúng ta và Chúa nó được bao nhiêu hay là nó phai tàn theo năm tháng và sợ nó không còn nữa. Nếu nó mờ đi thì chúng ta phải tìm cách để cho nó sáng hơn để cho mọi người nhìn vào ta họ thấy có sự hiện diện của Chúa trong đời ta.
Làm chứng cho Chúa, làm chứng có Chúa chính là sống đời sống bác ái yêu thương.
Nguyện xin Chúa là chủ, là Chúa của Tình Yêu tuôn đổ xuống trên mỗi người chúng ta tình yêu dạt dạo của Chúa và xin cho mỗi người chúng ta biết rộng mở tấm lòng để chia sẻ tình yêu mà chúng ta nhận được từ Chúa.
Nguyện xin Chúa cho chúng ta biết làm chứng về Chúa trước mặt người đời bằng cách ăn nết ở của chúng ta để ngày kia trên Thiên quốc Chúa cũng làm chứng cho chúng ta trước mặt Thiên Chúa như Chúa đã hứa.

 

3. Đừng sợ

Có một cậu bé được cha mẹ gửi học trong một trường nội trú. Ngay buổi tối đầu tiên, trước khi lên giường đi ngủ, cậu bé đã quì gối xuống và cầu nguyện. Thế là một chiếc giày bay vèo qua đầu cậu bé và tiếp theo là những tiếng cười giễu cợt.
Tối hôm sau, cậu bé cũng lại quì gối và cầu nguyện. Những em khác trong phòng thì chờ đợi để chế nhạo. Thế nhưng khi nhìn thấy dáng bộ trang nghiêm và sốt sắng của cậu bé., các em khác tỏ vẻ dè dặt, rồi im lặng và thán phục. Sau cùng, những em khác cũng đã bắt chước, quì gối và cầu nguyện trước khi đi ngủ.
Câu chuyện trên làm cho chúng ta nhớ tới lời nói của Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay:
- Các con đừng sợ. (Mt 10,26).
Chúa Giêsu không nói tới một sự sợ hãi chung chung, nhưng Người nói rõ về một sự sợ hãi đặc biệt mà người Kitô hữu cảm thấy trong việc sống đức tin của mình. Chúng ta thường e dè, thường do dự mỗi khi nói những lời giống lời của Chúa, làm những việc giống việc của Chúa, bởi vì chúng ta sợ người khác chê cười, châm chọc. Chúng ta sợ bị chê là quê một cục, bị gọi là kẻ lên mặt đạo đức, hay là bị ngược đãi, như chiếc giày bay vèo qua đầu cậu bé.
Chúa Giêsu không phải là không biết đến những lý do của sự sợ hãi. Bởi vì có những người đã phải mất bạn bè, mất việc làm, mất địa vị và rất có thể mất cả mạng sống vì niềm tin nơi Ngài. Thế nhưng, bên trên những thiệt hại tạm bợ này là niềm hạnh phúc vĩnh cửu Chúa đã hứa ban cho những ai trung thành với Ngài.
Trong cuộc sống, có những lúc hình như chúng ta cũng cảm thấy sợ hãi. Sợ đọc kinh cầu nguyện trước mặt người khác. Sợ gặp phải những khó khăn khi trung thành sống đức tin của mình. Sợ làm dấu thánh giá trước bữa ăn. Sợ ngả mũ nón khi đi ngang qua nhà thờ. Sợ đổi đề tài khi có người kể những câu chuyện tầm phào và tục tĩu. Sợ không dám từ chối khi bè bạn rủ rê ăn nhậu và cờ bạc. Chúng ta cũng cảm thấy sợ hãi khi Giáo hội bị nhạo cười, bị tấn công.
Trong tất cả những trường hợp ấy, chúng ta hãy nhớ tới lời khuyên của Chúa:
- Các con đừng sợ.
Đồng thời, chúng ta cũng hãy khắc ghi lời Chúa đã nói: “Ai xưng tụng Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ xưng tụng nó trước mặt Cha Ta ở trên trời. Còn ai chối bỏ Ta trước mặt người đời, thì Ta cũng sẽ chối bỏ nó trước mặt Cha ta ở trên trời” (Mt 10, 32-33).
Như thế có nghĩa là, nếu chúng ta chối bỏ Đức Kitô thì Ngài cũng sẽ chối bỏ chúng ta.
Ước mong rằng trong suốt cả cuộc đời, chúng ta sẽ trung thành với Chúa mãi mãi, bởi vì, “ai bền đỗ đến cùng, thì người đó sẽ được cứu thoát”.

 

4. Biết sợ – ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA: Mt. 10, 26-33
II. TẤM BÁNH CHIA SẺ
Có những người quá nhát sợ. Gặp con dán hay con chuột cũng co rúm người, mặt cắt không còn giọt máu. Có những người, trái lại, chẳng biết sợ là gì. Coi mạng sống nhẹ như tơ. Lên xe là phóng như bay. Liều lĩnh thường thiệt mạng. Nhút nhát quá đâm hỏng việc. Một đàng bất cập, một đàng thái quá. Vì thế vấn đề không phải là sợ hay không sợ. Vấn đề là phải biết phân định. Biết những gì nên sợ và những gì không nên sợ. Hôm nay Chúa Giêsu giúp ta phân định để biết sợ và không biết sợ.
Trước hết, Người dạy ta biết phân định giá trị. Sự sống là quí giá ta phải trân trọng. Mất sự sống là mất tất cả. Tuy nhiên sự sống có nhiều cấp độ. Có sự sống thân xác nhưng cũng có sự sống linh hồn. Có sự sống đời này nhưng không có sự sống đời sau. Sự sống đời này là chóng qua. Sự sống đời sau vĩnh cửu. Sự sống thân xác mau tàn. Sự sống linh hồn bất diệt. Ta phải yêu quí cả hai sự sống. Nhưng khi không thể giữ gìn vẹn toàn cả hai thì phải biết chọn sự sống cao quí, vĩnh cửu, đó là linh hồn, là sự sống đời sau.
Người cũng dạy ta phân định thời cơ. Thời cơ chỉ đến một lần. Lỡ thời sẽ không bao giờ tìm lại được nữa. Lỡ thời có thể hỏng cả cuộc đời. Có thời cơ để rao giảng Lời Chúa. Hiện nay, Lời Chúabị che giấu, chỉ thì thầm bên tai, còn nhiều người chưa biết. Ta được cơ hội đóng góp phần mình vào việc rao truyền Lời Chúa. Nhưng sẽ đến ngày mọi sự kín đáo sẽ tỏ lộ. Lời Chúa sẽ được mọi người nhận biết. Bấy giờ cơ hội sẽ hết. Có thời cơ tuyên xưng danh Chúa. Khi còn ở trần gian, giữa những người chưa biết Chúa, giữa những thế lực thù địch, trong cơn gian nan, chính là cơ hội cho ta tuyên xưng danh Chúa. Khi cuộc đời trần gian chấm dứt, cơ hội đó sẽ không còn.
Và sau cùng là phân định nguyên lý. Thiên Chúa là chủ mọi loài. Thiên Chúa nắm quyền sinh tử. Thiên Chúa an bài mọi sự. Con người chỉ là quản lý của Chúa trong một thời gian, trong một vài lĩnh vực. Khi thời gian chấm dứt, chính Thiên Chúa xét xử và thưởng công, trừng phạt.
Khi đã có những phân định rõ ràng ta sẽ biết sợ và biết không sợ.
Biết sợ Chúa là Chủ tể mọi loài, mọi sự. Không những làm chủ thân xác mà còn làm chủ cả linh hồn. Không những làm chủ đời này mà còn làm chủ cả cuộc đời sau.
Biết sợ mất linh hồn. Linh hồn là món quà cao quí nhất Thiên Chúa tặng cho con người. Sự sống của linh hồn là sự sống Thiên Chúa ban, hạnh phúc vĩnh cửu bên Chúa. Mất linh hồn là mất tất cả. Như Chúa Giêsu vẫn nhắc nhở: “Được lời lãi cả thế gian mà phải mất linh hồn thì nào được ích gì?”.
Biết sợ lỡ thời cơ. Hãy biết làm việc khi còn ban ngày, khi trời còn sáng, khi ta còn sống. Thời cơ chỉ đến một lần, nếu ta không tận dụng sẽ lỡ cả một đời. Như những cô trinh nữ khờ dại chỉ còn đứng ngoài cửa Thiên đàng mà than khóc. Như người đầy tớ lười biếng chôn giấu nén bạc phải khóc lóc nghiến răng.
Khi đã biết sợ như thế, ta sẽ không sợ người đời, vì người đời chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Ta sẽ không sợ mất mạng sống, vì sự sống thân xác nay còn mai mất, chẳng tồn tại lâu dài. Ta sẽ không sợ hình khổ hạ thân xác, vì khổ hình rồi cũng sẽ qua.
Nói không sợ cũng không đúng hẳn. Đau đớn khổ cực ai mà không sợ. Nhưng như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu, dù sợ vẫn cứ bước vào cuộc khổ nạn, Người môn đệ vẫn can đảm tuyên xưng danh Chúa, vẫn kiên trì rao giảng Lời Chúa, chấp nhận tất cả những khó khăn hiểm nguy đe doạ, rình rập, chấp nhận những đau đớn thua thiệt chóng qua đời này, với niềm tin vững chắc rằng chính Thiên Chúa là Cha nhân lành an bài mọi sự, Người sẽ ban thưởng cho ta phần thưởng không gì so sánh được, đó là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Amen.
III. TẤM BÁNH HOÁ NHIỀU
1) Bạn đã từng bị những nỗi sợ nào đè nặng. Những nỗi sợ đó có chính đáng không?
2) Sống đạo là chấp nhận thiệt thòi. Bạn có dám chấp nhận thiệt thòi vì Chúa không?
3) Muốn trung thành với Chúa, bạn làm cách nào để tránh được những nỗi sợ do người đời đem đến?

 

5. Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà

Hãy tin vào sự quan phòng của Chúa và không còn sợ hãi
"Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào, phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ." (Mt. 10, 29-31)
* * *
Một người mù dò dẫm bước qua chiếc cầu khỉ dài bắc ngang một con sông rộng. Khi qua được nửa cầu, bất thần anh bị trượt chân và rơi xuống. May thay, anh quơ tay vớ được sàn cầu và cố sức bám chặt vào đó. Thế là người anh đong đưa, lắc lư giữa chừng. Anh cố rướn mình đu người lên nhưng không đủ sức.
Hai cánh tay gầy guộc không kham nổi sức nặng của toàn thân. Anh kinh hoàng tột độ! Sợ rằng lát nữa đây, khi đôi tay không còn sức níu, toàn thân anh sẽ rơi bịch xuống và dòng nước ác nghiệt sẽ kết liễu đời anh.
Đang khi còn treo mình lơ lửng như thế, anh hình dung ra biết bao nhiêu điều khủng khiếp sẽ xảy đến với mình trong chừng mươi phút nữa. Có thể anh sẽ rơi xuống ngay những mõm đá lởm chởm giữa dòng sông và tan xương nát thịt. Rồi sau đó, thân xác anh sẽ bị cuốn theo dòng nước hung tợn và sẽ làm mồi cho tôm cá; người thân sẽ mất công tìm kiếm mà chẳng thấy xác anh đâu... Anh toát mồ hôi lạnh. Anh gào anh khóc thảm thiết, gào thật to để may ra có người nghe thấy và đến cứu mình.
Một số người đi qua thấy vậy bảo rằng: "Đừng sợ! Vì đây là mùa khô và nước sông chỉ cao chừng nửa mét. Buông tay ra đi! Không hề hấn gì đâu! Chân anh chỉ cách mặt nước có một thước thôi mà."
Nhưng anh không tin. Làm sao tin được người lạ! Biết đâu người ta lừa dối anh. Anh vẫn tiếp tục kêu gào, tiếp tục van xin người qua kẻ lại kéo anh lên.
Cuối cùng kiệt sức, anh buông mình xuống trong tuyệt vọng.
Quá bất ngờ, anh rơi xuống dòng nước hiền hoà chỉ cao ngang đầu gối, cách chỗ anh đu đưa chừng hơn một mét. Anh cười lên khanh khách như một gã điên khùng! Cười sung sướng vì tưởng đã chết mà vẫn còn được sống và nhất là cười cho sự khờ khạo, ngu xuẩn của mình.
Như người mù trên đây, cuộc đời chúng ta bị bao trùm bởi vô vàn nỗi sợ do chính mình tạo nên.
Có người đang khoẻ thì sợ những chứng bệnh nan y có thể xảy đến trong tương lai; người đang có việc làm hẳn hoi thì sợ có ngày mất việc và đói khát; người đang còn trẻ thì sợ khi già yếu không ai phụng dưỡng chăm sóc; người đang yên ổn sống trong tiện nghi thì sợ mai đây khi thất cơ lỡ vận, không còn được thoải mái như hiện giờ...
Thế là con người tự tạo ra vô vàn nỗi sợ rồi để cho chúng đe doạ và khủng bố đời mình.
* * *
Nỗi sợ bom còn giết nhiều người hơn cả chính trái bom.
Ngày 30 tháng 8 năm 2005, ngay tại thủ đô Baghdad, giữa lúc có cả triệu người Hồi giáo I-rắc thuộc hệ phái Shiite trên đường hành hương, đang chen chúc nhau băng qua cây cầu Al A'ema bắc qua sông Tigris để tiến về ngôi đền Al-Kadhimiya, bỗng có ai đó la hoảng lên rằng: "có người sắp đánh bom tự sát!".
Thế là cả triệu người hành hương hoảng loạn xô lấn chà đạp nhau nhằm thoát ra khỏi cây cầu, khiến thành cầu gảy đổ làm cho rất nhiều người rơi xuống sông hàng loạt và chết đuối chồng chất trong dòng nước lạnh ngắt; một số khác bị chết ngạt do đám đông đè lên. Con số tử vong lên đến cả 1,000 người. Một tổn thất nhân mạng lớn lao khủng khiếp chỉ vì nỗi sợ bom! Nỗi sợ bom đã sát hại nhiều nhân mạng hơn cả những trái bom có sức công phá lớn nhất!
* * *
Chính vì nỗi sợ gây nên nhiều bất hạnh cho con người như thế, nên qua đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su ba lần nhắn nhủ chúng ta đừng sợ vì có sự quan phòng che chở của Thiên Chúa; nếu chúng ta có ngã, có rơi thì cũng chỉ ngã, chỉ rơi trong bàn tay êm ái của Người.
"Anh em đừng sợ người đời..." (Matthêu 10, 26)
"Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. (Matthêu 10, 28)
"Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ." (Mt 10, 29-31)
Thế nhưng, như người mù ngu xuẩn kia, chúng ta không dám tin vào lời Chúa dạy, chúng ta vẫn cứ sợ, cứ lo và cứ để cho những nỗi sợ hãi đó đe doạ, khủng bố chúng ta suốt đời.
* * *
Lạy Chúa, xin cho con tin rằng Chúa là Đấng quyền năng hằng che chở gìn giữ chúng con và giúp chúng con vượt qua tất cả phong ba bão táp trên đường đời.
Xin cho con tin rằng dù chúng con có vấp ngã và rơi xuống, thì có bàn tay Chúa đỡ lấy chúng con. Và mai đây, khi phải từ giã đời nầy, chúng con sẽ không phải rơi vào cõi hư vô tăm tối nhưng là rơi vào lòng bàn tay nhân ái của Chúa mà thôi.

 

6. Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu Duyên

Lời Chúa trong Thánh Lễ hôm nay thực sự là điểm quy chiếu cần thiết cho đời sống mỗi ngày trong một thời đại mà con người hầu như đã bị lạc lõng giữa muôn vàn giá trị. Chúng ta thử mường tượng khi lần đầu tiên bước vào một siêu thị, một hình ảnh của thế giới hiện đại, chúng ta thực sự bị hoa mắt, và bối rối biết bao?
Cuộc sống hôm nay với nền kinh tế thị trường, người ta quen dần với những khái niệm hàng hiệu, hàng nhái, hàng chất lượng cao... nhưng tất cả còn tùy thuộc khả năng tiếp thị : từ những thông tin, từ mẫu mã bao bì, từ cách tiếp cận. Nhưng vấn đề lớn hơn vẫn là sức mạnh của đồng tiền đã mở thông mọi cánh cửa cho cuộc sống, để rồi nó chế ngự mọi cách suy nghĩ, thậm chí còn là thước đo khả năng một con người, một tập thể. Nếu như còn một nhân tố đối trọng nào khác, có khả năng chi phối đồng tiền và sức mạnh của nó, thì có lẽ trong thực tế chỉ còn là bộ máy cơ cấu tổ chức xã hội. Đó là tất cả lối sống và làm việc của con người hôm nay. Trong cuộc sống này, ai ai cũng có thể thấy rằng thị trường và bộ máy cơ cấu thực ra mãi mãi là một biến động không ngừng, và nhiều khi đi từ thái cực này qua thái cực khác. Chính vì vậy, con người luôn bị giao động bất an. Càng làm lớn, càng phải lo sợ nhiều.
"Anh em đừng sợ" Chúa Giêsu nói với các Kitô hữu như thế. Lời mời gọi kèm theo một cách nhìn khác về cuộc sống: "những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn". Theo đó "kinh tế thị trường" có thể "giết được thân xác" với những quy luật phi nhân của nó. Và "kinh tế thị trường" tuy "không giết được linh hồn", nhưng trong thực tế của con người sau tội nguyên tổ, thì nó có thể giam hãm con người trong vòng tội lụy. Thánh Phaolô đã đặc biệt có những suy nghĩ về vấn đề này trong đoạn thư Roma hôm nay "Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết..." Chúng ta có thể thấy muôn vàn hệ lụy trong xã hội hôm nay : với thời mở cửa, thì cũng là lúc những tệ nạn xã hội : tham nhũng, hối lộ, đầu cơ trục lợi, lũng đoạn thị trường với những sản phẩm nhằm khích động bạo lực, dâm ô, xì ke, ma túy...làm tan nát nền móng đạo đức xã hội là gia đình. Người ta thừa nhận là hợp pháp việc "ly dị", "hôn nhân thử", "phá thai", "ngừa thai"... Hậu quả là xã hội bất ổn, con người càng ngày càng sống trong lo sợ hãi hùng, và nhất là giới thiếu nhi, bị khuôn đúc thành "sản phẩm phục vụ lợi ích kinh tế", không còn cơ hội đạt tới mức tự do tâm linh vốn là giá trị cao cả tối thượng của một con người. Đứng trước tình trạng ấy, sự khủng hoảng như một định kỳ không thể tránh, đã xảy ra trong mọi xã hội, cách riêng ở những xã hội phát triển cao, gây nên những đổ vỡ không lường.
Đức Giêsu không dừng lại ở mức độ một lời mời gọi, Ngài thúc bách môn đệ "Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng". Đó là phương thuốc duy nhất có thể tái lập lại trật tự cho xã hội, cho nhân loại. Thánh Phaolô đã đón nhận lệnh truyền này một cách đặc biệt, mà theo Ngài thì tất cả những gì môn đệ đã nghe biết tựu trung chính là Con Người Đức Giêsu Kitô vì "nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người." Chính vì thế "tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ" chính là nhiệm vụ và vinh dự của người môn đệ.
Có nhiều cách để tham gia vào sứ vụ loan báo Đức Kitô, nhưng cách thế căn bản nhất cho hết mọi người vẫn là một cuộc sống thể hiện niềm tin vào sự quan phòng yêu thương của Chúa Cha như chính Đức Giêsu. Nếp sống ấy đã được các tiên tri đặc biệt rao giảng, nhiều khi bằng chính đời sống của các Ngài, như trường hợp của tiên tri Giêrêmia làm chứng. Và cũng vì thế truyền thống vẫn nhìn nhận Giêrêmia như là hình ảnh loan báo Đức Kitô.

 

7. Các con đừng sợ

Đâu là những nỗi sợ của chúng ta? Đứng trước những lời “Các con đừng sợ, hãy sợ, chớ sợ” của bài học ngày hôm nay, làm sao không nghĩ đến những người anh em của chúng ta đang sống tại các nước độc tài hoặc tại Châu Mỹ La tinh đang bị đe dọa và bách hại? Hiện nay có nhiều vị tử đạo hơn là vào thời kỳ đầu của Giáo hội. Đây là một điều người ta cố quên tại những nước mà việc tỏ ra mình là người Kitô hữu không nguy hiểm bao nhiêu. Trước hết bài suy niệm của chúng ta phải hướng về những người có lý do để hết sức sợ hãi, và về những người có thể chế ngự nỗi sợ của mình, đó là những người rao giảng Tin Mừng một cách anh hùng.
Nhưng trong khi cầu nguyện cho những người anh em bị bách hại của chúng ta và trong khi ngưỡng mộ họ, chúng ta đừng từ chối một câu hỏi có thể là khó chịu: ‘tôi có sợ hãi không?’
Đây không phải là những nỗi sợ của “cá nhân” của chúng ta: sợ đau khổ, sợ già hoặc sợ bom hạt nhân. Tin Mừng nói về những nỗi sợ trước điều mà đức tin đòi hỏi: sợ di luỵ đến bản thân, sợ dấn thân trong việc dạy giáo lý hoặc trong việc tông đồ khó khăn, sợ mất thời giờ, tiền bạc hay có lẽ linh hồn của mình vào đó. Khi Matthêu viết những câu vừa đen tối vừa làm hứng khởi này, Giáo hội của ngài đã nếm trải đủ loại khó khăn ở bên trong và những bách hại ở bên ngoài. Ba ngọn cờ ngài giương lên rất cao, nếu cần, sẽ làm cho chúng ta can đảm.
Sự khuyến khích đầu tiên: các con đừng sợ rao giảng Tin Mừng. Trong cuộc sống công khai của mình, Chúa Giêsu không thể mạc khải tất cả. Người ta không hiểu đó là cái gì và sứ điệp của Ngài tiến triển trong bóng tối. Nhưng đã có lễ Phục sinh và lễ Hiện xuống. Những người sợ hãi của ngày thứ sáu tuần thánh đã trở thành những người linh hoạt các đám đông. Không có lời mời gọi can đảm nào mạnh mẽ cho bằng bài đọc trong sách Công vụ Tông đồ. Chúng ta phải thường xuyên đi vào trong bầu không khí xác tín và can đảm của các Kitô hữu đầu tiên. Một sự sợ hãi kỳ lạ đã xâm chiếm chúng ta kể từ công đồng Vatican II, đó là sợ trở thành những kẻ “háo thắng”. Chắc chắn phải tìm lại sự đơn sơ và sự kín đáo, nhưng không phải để đắm chìm trong một Kitô giáo toàn những người câm. Giữa các tiếng la của thế giới, chúng ta phải nghe tiếng la của Tin Mừng: “Các con hãy đi loan báo Tin Mừng giữa ban ngày, trên mái nhà!”. Đó là một cuộc chiến tôn trọng con người. Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ đứng trước những kẻ tra tấn cương quyết bắt chúng ta chà đạp Thánh giá, nhưng khi chúng ta bị cám dỗ xấu hổ vì Chúa Kitô tại nơi làm việc chẳng hạn, thì ước gì lời cảnh báo của Ngài làm cho chúng ta trấn tỉnh đúng lúc: “Nếu các con nói về Thầy, Thầy cũng sẽ nói về các con; nếu các con chối Thầy, Thầy cũng sẽ chối các con”.
Sự khuyến khích thứ hai đối với những người anh em chúng ta bị đe doạ tra tấn và chết chóc: “Các con đừng sợ những kẻ giết hại thân xác các con, các con hãy sợ Đấng có thể giết chết linh hồn các con”. Đây là một nguyên tắc quan trọng và sáng chói để phân biệt giữa những nỗi sợ tốt và những nỗi sợ xấu. Cuối cùng chỉ có một điều cần phải sợ mà thôi, đó là người ta giật chúng ta ra khỏi Chúa Kitô, giật chúng ta ra khỏi sự sống vĩnh cửu với Thiên Chúa. Nhưng các bạn đã biết tiếng la chiến thắng chống lại mọi nỗi sợ hãi này rồi: “Nếu Thiên Chúa thân với ta, ai dám nghịch với ta?” (Rm 8,31). Không bị đe doạ lắm, có lẽ chúng ta cần phải xác minh những nỗi sợ hãi của chúng ta: chúng ta có sợ nhất những gì và những người có thể làm suy yếu đức tin của chúng ta hay không?
Sự khuyến khích thứ ba: chúng ta có một người Cha trên trời, Chúa Giêsu nói điều đó với những ẩn dụ dí dỏm Ngài dùng để truyền đạt một chân lý quan trọng: “Không có con chim sẻ đáng giá một xu nào rơi xuống đất mà không ngoài ý Cha các con trên trời, tóc trên đầu các con Ngài cũng đã đếm hết”.
Tốt hơn là người ta có thể nói đến sự quan phòng hay không? Đây không phải là sự siêu tổ chức của một Thiên Chúa có bộ óc điện toán. Đây là sự quan tâm chú ý của một người Cha nói với chúng ta qua Con của Ngài: “Con biết, đối với Ta Con đáng giá hơn tất cả các con chim sẻ trên thế giới này”.

 

8. Để giúp nhau đừng sợ

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
Một trong những lời khuyên bảo của Chúa Kitô dành cho các môn đệ, trong thời gian ba năm rao giảng Tin Mừng lẫn sau khi từ cõi chết phục sinh, đó là “anh em đừng sợ!”. Bài Tin Mừng Chúa Nhật 12 Thường Niên A một lần nữa cho ta nghe sứ điệp này. Hẳn không là vô cớ khi Chúa Kitô thường lặp đi lặp lại sứ điệp ấy: Đừng sợ! Là con người, chúng ta khó tránh nhiều nổi sợ hãi, có nguyên nhân cũng nhiều mà vô cớ cũng không thiếu: sợ đói, sợ khát, sợ khổ, sợ thất bại, sợ thiên tai, sợ dịch bệnh, sợ gặp phải những điều xúi quẩy, không may… Phúc bất trùng lai mà họa vô đơn chí. Chính vì thế người ta thường hành xử kiểu khôn ngoan, tìm sự an toàn bằng cách không kiêng thì cũng dè. Những hình thức kiêng cử, úy kỵ trong dân gian là một minh chứng về nổi sợ hãi ít nhiều đã và đang hiển hiện. Là Kitô hữu, chúng ta có thoát ra ngoài cái vòng lẩn quẩn của sự bất an ấy không? Là Kitô hữu, hy vọng rằng ít có ai để cho nhiều nổi sợ hãi “vu vơ” khiến mình dây vào những chuyện mê tín. Tuy nhiên thử hỏi có ai dám vổ ngực xưng mình không hề sợ hãi bất cứ điều gì. Có nhiều nổi sợ như sợ đói, sợ khổ, sợ chết… mang tính tự nhiên dễ chấp nhận với kiếp nhân sinh. Tuy nhiên có những nổi sợ thiếu chính đáng cần loại bỏ. Được gợi ý từ ba bài đọc Lời Chúa ngày Chúa Nhật XII TN A, xin được chia sẽ một vài nổi sợ mà ta phải biết nói “không”hay là“ đừng sợ!”.
1. Đừng sợ sống trong sự thật: Xét về bình diện hữu thể, thì chỉ có một “sự thật” duy nhất đúng nghĩa đó là Đấng “có sao, có vậy” (Xh 3,14). Tất cả mọi sự hiện hữu khác khi chúng hiện hữu như chúng là, thì chúng chỉ tham gia hay thông phần vào “sự thật viên mãn” là chính Đấng sáng tạo. Xét về phưong diện luận lý hay tư duy thì sự thật là sự phù hợp giữa nhận thức với thực tại khách quan. Trên bình diện này thì nhận thức của “chiếc bình gốm” quả là có nhiều hạn chế về cả chính nó, đừng nói gì đến các chiếc bình khác hay đến người thợ gốm. Duy chỉ người thợ gốm mới hiểu rõ sản phẩm do mình làm nên.
Không sợ sai lầm khi khẳng định rằng duy chỉ có Thiên Chúa mới là sự thật viên mãn. Vì thế khi ở trong sự thật là ta đang ở trong Thiên Chúa, Đấng chăm sóc chúng ta từ đường đi nước bước đến cả số phận của từng sợi tóc trên đầu chúng ta (x.Mt 10,30). Xác tín được điều này thì lẽ nào ta lại sợ sống trong sự thật.
2. Đừng sợ đón nhận sự thật: Sự thật thì dễ mất lòng nhưng sự thật lại giải phóng chúng ta. Có nhiều khi ta biết sự thật nhưng không muốn đón nhận. Vì sự thật thường đòi hỏi ta phải thay đổi, thay đổi cái nhìn, thay đổi lối sống, đặc biệt khi sự thật lại đến từ những con người vai vế nhỏ hơn ta, chức vụ kém hơn ta. Hơn nữa, khi sự thật đòi hỏi ta phải từ bỏ một kiểu sống, một mối quan hệ hay một mối lợi nào đó. Có thể chần chừ, có thể lần lữa một thời gian, nhưng rồi sẽ có lúc ta phải trực diện với sự thật đó là lúc ta phải giả từ trần thế này.
Một trong những sự thật ta cần đón nhận đó là sự hiện hữu của tội và đầu mối của nó là thần dữ. Tội lỗi ở trong ta, ở giữa chúng ta. Thần dữ luôn rảo quanh ta như “sư tử rình mồi chờ cắn xé” (1P 5,8). Tuy nhiên Thánh Phaolô khẳng định: ở đâu tội lỗi càng lan tràn thì ở đó ân sủng càng chan chứa. Vì sự sa ngã của Ađam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa qua công trình cứu độ của Đức Kitô (x. Rm 5,15). Đón nhận sự thật này thì thái độ của Kitô hữu chúng ta là sẽ không bi quan yếm thế và cũng không chểnh mảng coi thường nhưng sẽ luôn cẩn trong trong niềm hy vọng.
3. Đừng sợ công bố sự thật: “ Anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không só gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng” (Mt 10, 26-27). Khi nói lên một sự thật là ta đã mặc nhiên nhìn nhận đồng thời đón nhận sự thật ấy. Và khi đã can đảm nói lên sự thật thì ta cũng đã chấp nhận nhữung hệ quả kéo theo. Ngôn sứ Giêrêmia là một trong những ngôn sứ cảm nhận điều này. Dù được đặt cho biệt danh “ Lão tứ phía kinh hoàng”, Giêrêmia vẫn trung kiên nói lời Chúa dạy. Giêrêmia đã phải gánh bao truân chuyên khốn khó vì đã công bố sự thật. Số phận của Vị Ngôn sứ trên các ngôn sứ là Đức Kitô còn bi thảm gấp bội. “Để làm chứng cho sự thật” (x.Ga 18,37), Đức Kitô đã phải gánh lấy án hình thập giá đau thương.
Cớ sao, đôi khi, đôi lần chúng ta ngại ngần nói lên sự thật? Dĩ nhiên là phải loại bỏ việc “không được nói” những gì theo luật dạy như những sự việc mang tính bí mật an ninh quốc gia, như bí mật tòa cáo giải, bí mật chuyện lương tâm cá nhân… hay “được nói không” tức là từ chối nói sự thật khi gây phương hại đến đức ái… Tuy nhiên, cần thú nhận rằng vẫn có không ít trường hợp “nói không được”, tức là không dám nói sự thật vì những nguyên cớ thiếu trong sáng và thậm chí là mờ ám, đen tối. Chúa Kitô đã tự xưng Người chính là Sự Thật (x.Ga 14,6). Và chúng ta đừng quên Người đã minh nhiên khẳng định: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thẩy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
Ngoại trừ Mẹ Maria, chúng ta, ai ai cũng dẫy đầy lầm lỗi với kiếp người “đa thọ đa nhục”, càng sống lâu càng nhiều tội lỗi. Một trong những chiêu bài của thần dữ và những người xấu, những thế lực đen tối, để kìm giữ con người trong sự nô lệ, đó là gieo rắc nổi sợ hãi bằng nhiều hình thức. Một vài hình thức thông dụng chúng thường dùng đó là trấn áp, lên án, kết án, loại trừ… Nếu như chúng ta tích cực cộng tác với ơn Chúa dệt xây một môi sinh ắp đầy tình khoan dung, sự tha thứ, ắp đầy tình yêu thương đón nhận nhau, thì chắc chắn ta đã giúp cho tha nhân và cả chính bản thân mình, thêm can đảm ở trong sự thật, đón nhận sự thật và loan báo sự thật. Chính lúc này vương quốc Nước Trời đang trị đến, một vương quốc không hề có bóng dáng của sự sợ hãi.

 

9. ''Đừng Sợ'' – Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Trên đời này có rất nhiều cái sợ: sợ đau khổ, sợ thử thách, sợ bệnh hoạn, sợ thiếu thốn và nhất là sợ chết.Xem ra, nỗi sợ hãi luôn ám ảnh con người và con người dù muốn dù không vẫn bị bủa vây bởi trăm ngàn mối hiểm nguy. Thấy rõ điều đó, nên khi dạy dỗ cho các môn đệ, Chúa Giêsu cho thấy con đường theo Chúa là gian khổ,là vất vả, nhưng vượt thắng khó khăn thử thách thì mới đạt được vinh quang. "Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mà theo". Con đường theo Chúa là con đường chông gai, thử thách, khó khăn. Lướt thắng những nghịch cảnh, những khó khăn thử thách, con người mới tới được vinh quang nhờ niềm tin và hy vọng “Thầy sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế (Ga 14, 18). Trong đoạn Tin mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu nhấn mạnh với các môn đệ ba điểm.
- Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy.
- Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.
- Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh .hồn. Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.
Lời căn dặn “Đừng sợ” của Chúa Giêsu đã trở thành sức mạnh cho Giáo hội. Hai mươi thế kỷ sau, Thánh Gioan Phaolô II, trong ngày đầu tiên lãnh đạo Giáo Hội đã lập lại lời Thầy Chí Thánh: “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa đón Chúa Kitô”. Trong suốt triều đại giáo hoàng của mình, Đức Gioan Phaolô II không ngừng lặp lại với cả Giáo Hội và cả thế giới rằng “Đừng sợ!”.
Sống trong thời nhiễu nhương, có nhiều biến động tại Ba Lan và Đông Âu; cuộc đời nếm trải bao nhiêu thăng trầm dâu bể để có thể sống, học hành, rồi làm chủng sinh, linh mục, giám mục, hồng y và giáo hoàng; Đức Gioan Phaolô II trải nghiệm qua những thách thức của nghịch cảnh, của khổ đau. Lập lại lời Chúa Giêsu, Ngài muốn nói lên tinh thần bất khuất, hiên ngang để trung thành với giáo lý Chúa Kitô, bảo vệ kỷ cương của Giáo Hội.
Đức Bênêđictô XVI tiếp nối đường hướng Đức Gioan Phaolô II, trong ngày lên ngôi giáo hoàng, ngài đã thắp lên lời hy vọng: “Hãy tiến lên phía trước”. Lý do để “tiến lên” là bởi có Chúa ở cùng. Nếu một phần tư thế kỷ trước là “Đừng sợ”, thì một phần tư thế kỷ sau lại là: “Hãy tiến lên phía trước, Thiên Chúa sẽ giúp đỡ chúng ta. Mẹ Chí Thánh của Người ở ngay bên cạnh chúng ta…”.
Đức Thánh Cha Phanxicô sau khi được bầu làm Giáo Hoàng vào ngày 13-3-2013, Ngài đã là cho nhiều người phải ngạc nhiên vì những hành động và các lời phát biểu của Ngài như là vị cha chung hiền lành và khiêm nhường. Nhiều lần ngài cũng dùng kiểu nói “đừng sợ”. “Rao giảng Tin Mừng là đích thân làm chứng về tình yêu Thiên Chúa, là vượt thắng sự ích kỷ của chúng ta, là phục vụ bằng cách cúi mình xuống rửa chân cho anh em chúng ta như Chúa Giêsu đã làm…Các con hãy ra đi, không sợ hãi, để phục vụ. Khi sống theo 3 điều này, các con sẽ cảm nghiệm được rằng người rao giảng Tin Mừng thì cũng được trở nên Tin Mừng. Ai thông truyền niềm vui đức tin, thì cũng nhận được niềm vui…Mang Tin Mừng là mang sức mạnh của Thiên Chúa để nhổ bỏ và phá hủy sự ác và bạo lực; để phá tan và đạp đổ những hàng rào ích kỷ, không bao dung và oán thù. Để kiến tạo một thế giới mới, Chúa Giêsu Kitô hy vọng nơi các bạn!..Đức tin hay đức cậy hoặc đức mến dĩ nhiên phải lấy Chúa Kitô làm trung tâm. Điều này đồng nghĩa với giáo huấn “Hãy mặc lấy Đức Kitô”, đặt niềm tin nơi Người, chứ không ở nơi ta, hay nơi của cải, tiền bạc, quyền lực.”
Nội dung lời phát biểu của các nhà lãnh đạo lớn của Giáo Hội chính là lời của đức tin và là lời của hy vọng.
Tin yêu và hy vọng sẽ lướt thắng mọi sợ hãi. Chúa Giêsu đưa ra một số lý do để khuyên “đừng sợ”.
1. Phải sợ Thiên Chúa hơn sợ người ta
"Đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục"; "Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy".
Người hèn nhát là người sợ khổ, sợ chết đến nỗi không dám làm theo đòi hỏi của lương tâm, luôn tránh những tệ hại nhỏ cho cá nhân mình để bắt cả xã hội hay tập thể phải gánh chịu những tệ hại lớn lao vì mình. Người nhát gan vẫn có thể không hèn, mà người bạo dạn đôi khi lại rất hèn.
Đức tin giúp con người nhận ra rằng: tệ hại lớn nhất trên đời là những gì làm thiệt hại cho linh hồn mình, cho sự sống vĩnh cửu của mình đời sau. Vì thế, người có đức tin có thể chấp nhận dễ dàng những tệ hại chóng qua ở đời này hầu đạt được những lợi ích lâu dài cho đời sống vĩnh cửu mai hậu. Trong chiều hướng này, Chúa Giêsu khuyên: “Anh em đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28). Bị giết chết thân xác là một trong những điều đáng sợ nhất ở đời này, nhưng với cái nhìn sâu xa của đức tin thì bị “tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục” còn đáng sợ hơn bội phần. Vì thế, thà bị giết thân xác mà cứu được linh hồn mình thì vẫn có lợi hơn. Nhưng than ôi, biết bao người lại sẵn sàng chấp nhận bị “tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” để tránh khỏi cái khổ cực hay cái chết thể xác, hoặc để thân xác được hưởng những vui sướng chóng qua ở đời này. Trước mặt thế gian, họ được coi là khôn ngoan, nhưng trước mặt Thiên Chúa, họ là những kẻ dại ngờ nhất.
2. Phải tin vào phẩm giá cao quý của mình và tình thương quan phòng của Thiên Chúa.
Con người - nhất là người Kitô hữu - là "con cái Thiên Chúa" (Mt 5,15; Rm 8,14.16; Gl 3,26; 4,6), được dựng nên "giống như Ngài" (St 1,26), "theo hình ảnh của Ngài" (1,26.27), được "thông phần bản tính Thiên Chúa" (1Pr 1,4), được Thiên Chúa yêu thương (Ga 3,16; 1Ga 3,1). Như vậy, con người có một phẩm giá hết sức cao quí. Cao quí đến nỗi Thiên Chúa đã phải sai Con Một mình xuống thế chịu chết cho con người (Rm 5,6-8; 1Cr 15,3). "Hai con chim sẻ chỉ bán được một đồng", thế mà "không một con nào rơi xuống đất ngoài thánh ý Thiên Chúa". Là con cái Thiên Chúa, được thông phần bản tính Ngài, con người quí giá hơn chim sẻ hàng tỷ lần: "anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ", đến nỗi "tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi"!
Tình yêu giải phóng con người khỏi sợ hãi. Thánh Gioan viết: “Tình yêu không biết đến sợ hãi, trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1Ga 4,18). Tình yêu giúp chúng ta vượt thắng sợ hãi, để không còn sợ hãi nữa. Tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân có thắng vượt được sợ hãi mới chứng tỏ là tình yêu chân thực. Thắng vượt được nỗi sợ càng lớn bao nhiêu thì tình yêu của chúng ta càng chứng tỏ được là lớn lao bấy nhiêu. Tình yêu càng tăng thì sợ hãi càng giảm.
Chính nhờ tình yêu và lòng nhiệt thành với Thiên Chúa và tha nhân mà biết bao người dám chấp nhận tất cả cho sứ vụ loan báo Tin Mừng. Thiên Chúa luôn quan phòng và chở che. Chúa Giêsu nói: loài chim sẻ chẳng đáng giá bao nhiêu thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Thiên Chúa, huống chi chúng ta là những con người quý giá hơn chim sẻ vô cùng. Con người quý giá trước mặt Thiên Chúa đến nỗi Ngài đã hy sinh Con của Ngài để chúng ta “ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16); và “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những kẻ tội lỗi” (Rm 5,8; x. 1Cr 15,3). Vì thế, không có gì xảy ra cho chúng ta mà không do ý muốn yêu thương của Ngài. Do đó, ta đừng sợ khi tình yêu đòi hỏi ta phải dấn thân, khi lòng nhiệt thành tông đồ thúc đẩy ta phải mạnh dạn rao giảng, khi tình yêu đối với người nghèo khổ thúc giục ta phải tranh đấu, lên tiếng cho công lý, chống lại áp bức bất công.
3. Tin yêu và hy vọng
Trước nguy hiểm và thử thách, ai mà không sợ hãi. Chỉ có tin yêu và hy vọng mới giúp chúng ta thắng vượt sợ hãi và chấp nhận nguy hiểm: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5,11-12). Gian truân vẫn có thể xảy ra nhưng niềm hy vọng sẽ giúp chúng ta trung thành với Thiên Chúa: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 10,22); “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài; nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài” (2Tm 2,11-12; x Rm 6,8; 8,17); “những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). (NCK).
Nhờ tin yêu và hy vọng nên không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Kitô, dù cho đó là “gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?… là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác” (Rm 8, 35-39).Chính tình yêu Thiên Chúa cuốn hút con tim và làm cho người môn đệ “tuyên bố Thầy trước mặt thiên hạ”, sống tương quan thiết thân với Người trong mọi nơi mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh.

 

10. Sự hăm dọa gây ra sợ hãi

Sợ hãi có thể làm tê liệt chúng ta. Nó có thể làm cho chúng ta cứng đờ và trở nên bất động. Nó có thể ngăn cản cả việc suy nghĩ lẫn hành động theo niềm tin Công giáo của chúng ta.
Một hình thức thiệt hại nghiêm trọng của sợ hãi đến từ sự hăm doạ. Đó là một loại sợ hãi mà nó có liên quan đến Chúa Giêsu trong bài Phúc âm hôm nay. Khi Chúa Giêsu nói: “Đừng để cho người ta hăm dọa ngươi”, có lẽ người đang nghĩ đến vị tiên tri cao cả là Giêrêmia. Con người của Thiên Chúa này bất chấp sự đe doạ bằng cách tấn công những âm mưu làm hại mạng sống của ông, vì thế ông không sợ phát ngôn nhân danh Thiên Chúa.
Giêrêmia đã tố cáo tội lỗi của dân tộc ông, cho biết họ đã chống lại Chúa đang ở trên họ. Ông nhấn mạnh rằng tội chống đối nhau giữa họ cũng là chống đối lại Thiên Chúa. Ông kết án việc trông cậy vào sức mạnh quân đội hơn là vào sức mạnh Thiên Chúa và ông tiên báo thành Giêrusalem sẽ bị phá huỷ (điều này đã xảy ta vào năm 587 BC).
Giêrêmia đã bị kẻ thù cưỡng bách đi lưu đày ở Ai Cập. Theo truyền thống, ông đã bị giết chết bởi chình những người đồng hương của mình. Những kẻ xấu thì không còn nhớ giao ước với Thiên Chúa nữa, nhưng Giêrêmia vẫn nhớ. Ông sống không phải chỉ trong những trang Thánh Kinh nhưng với Chúa Giêsu trên thiên đàng, Đấng Mêsia mà ông chưa hề biết khi ở trần gian này nhưng ông đã trung thành với Đấng ấy mặc dù không biết điều ấy.
Những người khác đến sau Giêtêmia đang hiểu biết và yêu mến Chúa Giêsu cũng đã đạt đến chiều cao lớn lao của hành động anh hùng là sinh lại trong niềm tin sâu xa. Chỉ trong một thế kỷ XX này mà thôi cũng có rất nhiều mẫu gương như thế. Tổng giám mục Oscar Romero ở El Salvador là một vị tử đạo vì sự công bình xã hội. Ngài đã bị những kẻ vô lương giết chết khi thấy sự bảo vệ người nghèo của vị Tổng giám mục là một đe dọa cho những tham vọng của họ. Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, thánh Maximilian Kolbe, một linh mục Balan bất chấp sự đe dọa của những người lính phát xít đã hiến mạng sống mình để đổi mạng cho một người bạn tù, là người chồng và là cha của nhiều đứa con, và người sĩ quan chỉ huy của trại tập trung đã cho thi hành án.
Một cô gái trẻ ở Ý đã bất chấp sự đe dọa của một người đàn ông, khi ông đe dọa sẽ giết cô ta nếu cô từ chối quan hệ tình dục với ông ta. Và ông đã giết cô vì cô đã chống cự mãnh liệt, hôm đó là ngày 6 tháng 6 năm 1902. Maria Goretti đã được Đức Thánh Cha Piô XII phong thánh vào năm 1950. Mẹ của cô và Alexander Sereneli, người đàn ông đã giết thánh nhân, cùng hiện diện trong cuộc lễ tuyên phong hiển thánh này.
Những người đã dâng hiến và vô số những người nam và người nữ giống như họ đã có mặt suốt chiều dài của lịch sử, đã tin vào lời của Chúa Giêsu: “Bất cứ ai tuyên xưng Ta trước mặt người đời thì Ta cũng sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Ta ở trên trời cũng như vậy”.
Ngày hôm nay chúng ta đang bị đe dọa bởi những phong trào trong xã hội của chúng ta. Chọn trước những người ủng hộ sẽ làm cho chúng ta cảm thấy rằng chúng ta xâm phạm quyền bình đẳng của người phụ nữ khi chúng ta nhấn mạnh phá thai là một tội ác không thể nào chịu nổi. Chủ nghĩa cá nhân đang ăn mòn và là sức mạnh chống lại sự quan tâm đến những người nghèo khổ, những người không nhà và những người đói khát. Chủ nghĩa bài ngoại và tham lam sẽ trút cơn giận dữ của họ lên những người nhập cư, chính vì những điều đó mà Giáo hội luôn bênh vực cho những quyền lợi của con người.
Chúa Giêsu nói với chúng ta khi chúng ta họp nhau lại để thờ lạy Người: “Thầy thấy các con đang hiện diện nơi đây trong nhà thờ này như là dân Thiên Chúa. Thầy sẽ tiếp tục tuyên xưng các con trước mặt Cha Thầy trên trời bao lâu các con còn tiếp tục theo sát giáo huấn của Thầy, chứ không theo những người chống đối Phúc âm. Cũng đừng để họ đe dọa các con”.
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn