1
19:55 ICT Thứ sáu, 21/07/2017
1Chính anh em  là  Muối cho đời,  là Ánh sáng cho trần gian. (Mt 5, 13-14)

MENU

Giáo lý cho người trẻ

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 105

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 103


Hôm nayHôm nay : 3355

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 78027

Tổng cộngTổng cộng : 10259626

Nhạc Giáng sinh

Thông tin Online

Hãy kết bạn với


Trang nhất » Tin tức » NĂM MỤC VỤ GIA ĐÌNH

Nghi thức Bế mạc Năm Thánh ngoại thường Lòng Chúa Thương Xót tại các Giáo hội địa phương

Thứ tư - 24/08/2016 15:56-Đã xem: 1256
Các chỉ dẫn sau đây về Nghi thức bế mạc Năm Thánh ngoại thường tại các Giáo Hội địa phương, được áp dụng cho các Giáo Hội theo nghi lễ Rôma và các Giáo Hội Tây phương ngoài nghi lễ Rôma. Thẩm quyền của các Giáo Hội ngoài nghi lễ Rôma có thể sửa đổi một số nghi thức cho hợp với văn hóa địa phương.
Nghi thức Bế mạc Năm Thánh ngoại thường Lòng Chúa Thương Xót tại các Giáo hội địa phương

Nghi thức Bế mạc Năm Thánh ngoại thường Lòng Chúa Thương Xót tại các Giáo hội địa phương

 

NGHI THỨC BẾ MẠC
NĂM THÁNH NGOẠI THƯỜNG LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

TẠI CÁC GIÁO HỘI ĐỊA PHƯƠNG

Ngày 13 tháng 11 năm 2016

Chúa nhật XXXIII Thường niên

 

DẪN NHẬP

Các chỉ dẫn sau đây về Nghi thức bế mạc Năm Thánh ngoại thường tại các Giáo Hội địa phương, được áp dụng cho các Giáo Hội theo nghi lễ Rôma và các Giáo Hội Tây phương ngoài nghi lễ Rôma. Thẩm quyền của các Giáo Hội ngoài nghi lễ Rôma có thể sửa đổi một số nghi thức cho hợp với văn hóa địa phương.

Nếu muốn, các Giám mục Giáo Hội Đông phương cũng có thể thích ứng nghi thức này với truyền thống phụng vụ riêng của mình.

Ngày cử hành

1. Trong Trọng sắc “Dung mạo Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ấn định Năm Thánh sẽ bế mạc vào ngày 20 tháng 11 năm 2016, Lễ Trọng kính Chúa Kitô Vua Vũ trụ, với nghi thức đóng Cửa Thánh tại Đền thờ thánh Phêrô ở Vatican. Vào Chúa nhật trước đó, ngày 13 tháng 11, Chúa nhật XXXIII Thường niên, Năm Thánh sẽ bế mạc tại các Giáo Hội địa phương.

Địa điểm cử hành

2. Tại các Giáo Hội địa phương, chỉ cử hành nghi thức bế mạc Năm Thánh tại Nhà thờ Chánh Tòa.

Tại các nhà thờ hay đền thánh khác được Giám mục giáo phận chỉ định có mở Cửa Lòng Thương Xót, có thể cử hành Thánh lễ tạ ơn, do một vị đại diện Giám mục chủ sự.

Vị Chủ sự

3. Do tính cách của ngày bế mạc và theo truyền thống Giáo Hội, Giám mục là người thích hợp nhất để chủ sự việc cử hành toàn bộ nghi thức. Các linh mục, nhất là những cộng tác viên thân cận của Giám mục, sẽ đồng tế với Giám mục. Các phó tế, các thừa tác viên Giúp lễ, Đọc sách, sẽ thi hành tác vụ theo chức năng, cộng đoàn tín hữu được đặc biệt khuyến khích tham dự càng đông càng tốt. Nếu nghi thức bế mạc được cử hành cùng lúc tại nhà thờ đồng chánh tòa, thì sẽ do vị đại diện Giám mục chủ sự.

Cử hành Thánh Thể

4. Thánh lễ bế mạc Năm Thánh ngoại thường chủ yếu là lễ Chúa nhật. Nếu Giám mục xét thấy thích hợp, có thể dâng Thánh lễ Tạ ơn, ghi trong Sách lễ Rôma, phần Thánh lễ tùy nhu cầu (số 49). Các bài đọc lấy theo Chúa nhật XXXIII Thường niên.

Biểu lộ tâm tình tạ ơn

5. Sau lời nguyện hiệp lễ, Đức Giám mục, theo cách thức phù hợp với phụng vụ, dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì những ân phúc đã lãnh nhận trong Năm Thánh và mời gọi cộng đoàn cùng hợp ý tạ ơn. Đây là lúc đặc biệt thích hợp để hát lên bài ca Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria như lời tạ ơn chung của toàn thể Hội Thánh.

NGHI THỨC NHẬP LỄ

6.  Vào Chúa nhật XXXIII Thường niên, cộng đoàn tín hữu quy tụ về nhà Thờ Chánh tòa vào giờ đã định trước.

7.  Khi cộng đoàn đã tập họp, đoàn rước gồm Đức Giám mục, các linh mục đồng tế, phó tế, mặc lễ phục xanh, bắt đầu tiến vào Nhà thờ. Ca đoàn và dân chúng cùng hát bài ca Năm Thánh.

8.  Đức Giám mục cúi chào bàn thờ, đến ghế chủ sự, và xướng:

Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.

CĐ: Amen

Đức Giám mục chào cộng đoàn:

Nguyện xin lòng thương xót của Chúa Cha, bình an của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em.

CĐ: Và ở cùng cha.

9.  Đức Giám mục mời gọi cộng đoàn theo mẫu sau hoặc những lời tương tự:

Anh chị em rất thân mến,

Năm Thánh đã đến lúc kết thúc.

Năm Thánh là thời gian đặc biệt của ân sủng và lòng thương xót.

Trong thánh lễ này, chúng ta cùng dâng lên Chúa Cha

lời ca chúc tụng và tạ ơn

vì muôn hồng ân Chúa đã tuôn tràn trên chúng ta.

Một lần nữa, trước khi cử hành mầu nhiệm thánh,

chúng ta xin Chúa rưới đổ dầu thơm dịu mát của lòng thương xót

trên chúng ta đang thú nhận tội lỗi mình,

và từ đấy lòng đang sẵn sàng tha thứ cho nhau.

10.  Sau giây lát thinh lặng, phó tế hay một thừa tác viên đọc hoặc hát những lời cầu sau đây (xem sách lễ Rôma, mùa Chay)

Xướng: Chúa dạy chúng con phải tha thứ cho nhau

trước khi đến bàn thờ Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con.

Đáp:  Xin Chúa thương xót chúng con              hoặc:  Kyrie, eleison

Xướng: Chúa kêu cầu lòng thương xót cho các tội nhân

khi Chúa đang chịu treo trên thập giá.

Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.

Đáp:  Xin Chúa Kitô thương xót chúng con      hoặc: Christe, eleison

Xướng: Chúa trao thừa tác vụ giao hòa cho Hội Thánh.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Đáp:  Xin Chúa thương xót chúng con               hoặc:  Kyrie, eleison

11. Đức Giám mục đọc lời nguyện kết:

Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời.

Đáp:  Amen

12. Hát kinh Vinh danh. Thánh lễ tiếp tục như thường lệ.

NGHI THỨC KẾT LỄ

13.  Sau lời nguyện Hiệp lễ, Đức Giám mục mời gọi mọi người hiện diện cùng cảm tạ Chúa vì tất cả những ơn phúc thiêng liêng Chúa đã ban cho mọi người trong suốt Năm Thánh. Có thể theo mẫu sau đây hoặc dùng những lời tương tự:

Anh chị em thân mến,

Chúng ta vui mừng cảm tạ Thiên Chúa

là Cha của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Ròng rã một năm đầy ân sủng, trong Chúa Kitô,

Thiên Chúa đã ban cho mỗi người chúng ta bao ơn phúc bởi trời.

Ngài đã ban cho chúng ta

thời gian quí báu của lòng thương xót và ơn thống hối.

Chúng ta hãy bày tỏ tâm tình tạ ơn và niềm hân hoan

qua lời ca của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ chúng ta.

Khi ngợi khen lòng thương xót của Chúa từ đời nọ đến đời kia,

chúng ta hãy nài xin Chúa không ngừng tuôn đổ lòng thương xót

như sương mai trên toàn thể thế giới.

14. Đức Giám mục và cộng đoàn hát kinh Magnificat.

15. Sau bài thánh ca, phó tế mời gọi cộng đoàn:

Xin anh chị em cúi đầu để lãnh nhận phép lành.

16. Đức Giám mục giơ tay trên dân chúng và đọc lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ ái  và đến trợ giúp đoàn dân

đang kêu cầu Chúa là Mục Tử và Thủ lãnh của họ.

Xin canh tân công trình Chúa đã tạo dựng,

và bảo toàn những gì Chúa đã canh tân

Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa là chúng con.

Đáp: Amen



Ủy Ban Phụng Tự
trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam
chuyển ngữ theo bản tiếng Anh

-----------------------------------



Nghi thức Bế mạc Năm Thánh ngoại thường Lòng Chúa Thương Xót tại các Giáo hội địa phương
Thiên sứ của Lòng Chúa thương xót ( Mẹ Tê-rê-xa Calcutta ).

Chúa Nhật 4-9-2016, Giáo hội Công giáo hân hoan kính chà ơo một vị thánh mới: Mẹ Têrêsa Calcutta (TP Kolkata, Ấn Độ, 1910-1997).

Mẹ Teresa được mệnh danh là “Thiên Sứ của Thiên Chúa”. Cả cuộc đời Mẹ đấu tranh cho giá trị nhân phẩm của những con người nghèo khổ nhất, đã nêu gương luân lý làm cầu nối các khoảng cách về văn hóa, giai cấp và tôn giáo. Một con người có vóc dáng nhỏ bé nhưng lại có trái tim “cực đại” và đầy lòng nhân ái. Bà nói:“Ngay cả những người giàu cũng khao khát tình yêu, muốn được quan tâm, muốn có ai đó thuộc về mình”.

Cha mẹ của bà là người Albani. Bà sinh ngày 26-8-1910 tại Shkup (nay là Skopje), thuộc Cộng hòa Nam Tư (Macedonia), trước đó là Yugoslavia, với tên “cúng cơm” là Agnes Gonxha Bojaxhiu. Bà là con út trong 3 người con.

Lúc bà 7 tuổi, cha của bà bị giết, nên bà quan tâm chính trị. Tuổi thiếu niên, bà là thành viên của nhóm bạn trẻ trong giáo xứ, gọi là nhóm Tương tế Tôn giáo (Sodality), dưới sự hướng dẫn của một linh mục Dòng Tên, bà cảm thấy quan tâm việc truyền giáo. Lúc 17 tuổi, bà gia nhập Dòng Nữ tử Loreto ở Ai-len, một dòng chuyên về giáo dục, rồi bà được gởi tới Bengal năm 1929 để vào nhà tập. Bà chỉ lõm bõm tiếng Anh nhưng vẫn khấn lần đầu, với tên dòng là Têrêsa (chọn theo tên của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).

Đến năm 1950, nữ tu Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái (Dòng Thừa sai Bác ái, Missionaries of Charity). Bà nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1979 và nhận Giải Bharat Ratna (भारत रत्न, nghĩa là “Viên Ngọc Ấn Độ”, giải thưởng cao nhất của Ấn Độ dành cho người dân) năm 1980. Trước đó, năm 1962, bà đã được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru về Hiểu biết Quốc tế năm 1972.

Trong thời kỳ Ấn Độ bị người Anh đô hộ (British Raj), trường Loreto nhận rất ít người Ấn, đa số là người Hindu Bengal, con gái các gia đình có thế lực ở Calcutta, nhưng đa số giáo viên vẫn là các nữ tu gốc Ai-len. Nữ tu Têrêsa không thuộc Dòng Nữ tử Loreto nữa nhưng thi thoảng bà vẫn về thăm. Bà dạy ở các trường nữ khác trong 3 năm trước khi (như bà nói) “theo Chúa đến với người nghèo khổ”. Theo các nữ sinh nói, sự gián đoạn đó không hoàn toàn thân thiện, ít là phần các nữ tu Dòng Loreto.

Hình ảnh nữ tu Têrêsa nhỏ bé, với tấm khăn choàng sari (trang phục của phụ nữ Ấn) xõa xuống vai và lưng, bước đi trên đường đá đỏ, trông thật giản dị và khiêm nhường. Bà luôn có một hoặc hai nữ tu choàng sari đi theo. Bà là con người kỳ lạ của thế kỷ XX. Có thể bà “khác người” vì chúng ta không thấy nữ tu nào choàng sari như vậy. Nhưng đó là thói quen của nữ tu Têrêsa vùng Calcutta, bà “quên” mình là người Albani để hòa nhập và hoàn toàn nên giống các phụ nữ Ấn.

Chính phủ đã “ầm ĩ” chống truyền giáo nhưng chưa bao giờ làm khó các nữ tu truyền giáo.

 

2

Đầu thập niên 1950, các học sinh không có đạo ở Nhà Loreto đã nghi ngờ ý định của Mẹ Têrêsa trong việc giúp đỡ các trẻ em đường phố hoặc trẻ mồ côi. Bà đang cứu vớt chúng để “dụ” đưa chúng vào đạo Công giáo? Cứ hai tuần một lần, Mẹ Têrêsa nói chuyện để vận động phụ nữ không phá thai và bảo vệ sự sống.

Dự định của Mẹ Têrêsa là chăm sóc những người bệnh ở thời kỳ cuối, những người đến Đền Kalighat để được chết gần “thánh địa”. Mẹ Têrêsa không mong kéo dài sự sống cho họ, nhưng buồn về tình trạng nhơ uế và cô độc của họ trong thời gian cuối đời. Mẹ Têrêsa quan ngại về tỷ lệ tử vong và ám ảnh về cách chết của họ, ngược với quan niệm của người Hindu về sự tái sinh và sự chết là được giải thoát khỏi maya.

Mẹ Têrêsa lập một trại phong (Leprosarium) ở ngoại ô Calcutta, trên khu đất do chính phủ cấp. Bà là người lý tưởng hóa hơn là người lập dị. Người phong cùi bị coi thường không chỉ ở Calcutta mà ở khắp Ấn Độ, đến vài xu lẻ cũng không ai muốn bố thí cho họ. Ai cũng sợ bị lây nhiễm. Từ đó, người ta cũng có ánh mắt không thiện cảm với Mẹ Têrêsa.

Từ năm 1970, Mẹ Têrêsa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần cũng nhờ cuốn sách và bộ phim tư liệu tựa đề “Something Beautiful for God” (Điều Tốt Đẹp Dành Cho Chúa) của Malcome Muggeridge.

Bà không chỉ là nhà truyền giáo, mà còn là một “lương y” tận tình chăm sóc người phong cùi. Cách dấn thân của bà đã thay đổi người dân Calcutta, chính các nữ tu Dòng Loreto cũng trở lại tìm bà.

Dân Calcutta rất quý mến Mẹ Têrêsa. Các chị em ở trường nữ Loreto hồi thập niên 1970 đều trở nên các bà vợ tốt, có địa vị trong xã hội và tình nguyện hoạt động xã hội theo ý định của Mẹ Têrêsa, nhất là vì trại phong. Những năm sau, Mẹ Têrêsa rất tin tưởng những phụ nữ tốt nghiệp trường Loreto.

Số phận những người vận động luân lý dễ bị tổn thương vì các thay đổi của thói đạo đức giả hoặc tùy tiện của các chiến dịch. Những kẻ gièm pha đã kết tội Mẹ Têrêsa là phóng đại cảnh nghèo khổ của dân Calcutta. Mẹ Têrêsa luôn phải phải đấu tranh, dù vẫn bị người ta chỉ trích nhưng hoạt động của bà không suy giảm. Thậm chí bà còn thành công và cảm hóa chính những người đã nghi ngờ hoặc những người ghen ghét bà. Chính Mẹ Têrêsa đã thay đổi nhiều trái tim, đó là phép lạ thực sự vĩ đại.

Mẹ Têrêsa nói: “Ở Tây phương có sự cô đơn, điều mà tôi gọi là bệnh-phong-của-Tây-phương. Bằng nhiều cách, nó còn tệ hơn người nghèo của chúng tôi tại Calcutta. Tôi không bao giờ từ chối một đứa trẻ nào, không bao giờ, dù chỉ một”.

Năm 1950, cũng là năm Mẹ Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái, ĐGH Piô XII đã phê chuẩn dòng này. Mẹ Têrêsa cũng đã từng có những lần sang thăm Việt Nam, chính Gx Thanh Đa (giáo hạt Gia Định, Saigon) đã được vinh dự đón tiếp Mẹ.

Vì tuổi cao sức yếu, Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5-9-1997, sau hơn nửa thế kỷ phục vụ những người cùng đinh trong xã hội trong đức ái của Chúa Giêsu. Mẹ Têrêsa được ĐGH Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 19-10-2003.

Mẹ Teresa là nhân chứng sống động của Lòng Chúa Thương Xót. Thật tuyệt vời và phấn khởi, nhưng cũng thực sự mắc cở, khi nhớ lại lời nhận xét của Mẹ: “Người nghèo KHÔNG CẦN chúng ta THƯƠNG HẠI, họ cần TÌNH YÊU và CẢM THÔNG. Họ cho chúng ta nhiều hơn chúng ta cho họ. Trong thời gian khó khăn của Ấn Độ, chúng tôi xin một số người tình nguyện từ khắp nơi đến giúp. Nhiều ngàn người đã đến, và khi họ ra về, họ có chung nhận xét là họ đã đem về nhiều hơn là đem cho. Có một lần ờ Calcutta, chúng tôi nhặt được năm người đang hấp hối, trong đó có một người phụ nữ bệnh quá nặng. Tôi muốn ngồi với chị trong giờ phút cuối cùng. Tôi đặt tay tôi lên tay chị. Chợt chị tỉnh ra, nhìn tôi, không than đói, không than khát, nhưng cười và nói lời cảm ơn trước khi nhắm mắt từ giã cuộc đời”.

Lạy Mẹ Têrêsa, xin ban cho chúng con trái tim nhân hậu như Mẹ để chúng con yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khổ, những người bị ruồng bỏ, những người bị ngược đãi,… Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ giàu lòng thương xót của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn