1
09:23 ICT Thứ ba, 28/03/2017
1Chính anh em  là  Muối cho đời,  là Ánh sáng cho trần gian. (Mt 5, 13-14)

MENU

Giáo lý cho người trẻ

Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 44


Hôm nayHôm nay : 1303

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 190585

Tổng cộngTổng cộng : 9699490

Nhạc Giáng sinh

Thông tin Online

Hãy kết bạn với


Trang nhất » Tin tức » TƯ VẤN & GIẢI ĐÁP

Ăn chay và kiêng thịt theo Giáo luật

Thứ tư - 11/01/2017 17:11-Đã xem: 302
Ngôn ngữ thông thường gọi là ăn chay, có nghĩa là kiêng ăn, bớt ăn hoặc nhịn ăn theo như chủ trương của tín ngưỡng, giáo thuyết, tôn giáo hay cá nhân đề ra theo một mẫu mực nào đó. Tuy cách thức khác nhau, nhưng ăn chay là điều tất yếu của bất cứ một tôn giáo nào, và ngay cả những lý thuyết về tu thân cũng rất đề cao việc ăn chay, không kể những trào lưu ngày nay người ta ăn chay là vì sắc đẹp, vì sức khỏe.
Ăn chay và kiêng thịt theo Giáo luật

Ăn chay và kiêng thịt theo Giáo luật

Ăn chay và kiêng thịt theo giáo luật
 
WGPCT: Nhân ngày Lễ tro, chúng tôi xin gởi đến qúy vị một số sưu tầm về luật ăn chay và kiêng thịt để chúng ta thêm kiến thức về giáo luật. Tuy nhiên điều quan trọng hơn vẫn là tinh thần chay tịnh. Tìm kẽ hở của luật để hưởng thụ là không đúng với tinh thần Phúc âm.
 

KIẾN THỨC GIÁO LUẬT
 
(Lm. LG. Huỳnh Phước Lâm)

 

KIÊNG THỊT VÀ ĂN CHAY
 
1. Người Kitô hữu phải kiêng thịt vào những ngày nào?
 
Theo nguyên tắc chung, người Kitô hữu phải kiêng thịt, hay kiêng một thức ăn nào khác theo quy định của Hội Đồng Giám Mục, vào các ngày thứ sáu trong năm (Điều 1251).
Tuy nhiên luật này không còn buộc, khi ngày thứ sáu cũng trùng với ngày lễ trọng [1].
Ngoài ra Giáo Hội còn buộc kiêng thịt (và ăn chay) trong ngày thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh.
 
 2. Trong ngày kiêng thịt, phải kiêng những gì?
 
Chúng ta không được ăn thịt, nhưng được ăn trứng, được dùng các thức ăn làm với sữa hay các loại nước chấm làm bằng mỡ động vật.
Thịt bị cấm là thịt các loài hữu nhũ và thảo cầm.
Không được xem là thịt bị cấm sử dụng: như các loại cá và các thức ăn biển, những loài có máu lạnh (ếch, trai, sò, rùa), những loài vừa sống trên bờ vừa ở dưới nước (lưỡng cư) và những loài bò sát…
 
 3. Ai phải giữ luật kiêng thịt?
 
Luật kiêng thịt buộc các tín hữu từ 14 tuổi trọn [2] cho đến mãn đời (Điều 1252).
Tuy nhiên, những ai vì lý do sức khoẻ (bệnh tật), hay vì khả năng lao động  (thí dụ làm trong hầm mỏ) cần phải ăn thịt, hoặc những ai không được chủ cho ăn một thức ăn nào khác (đầy tớ, con cái, vợ) thì không buộc giữ luật này.
 
4. Có thể thay thế việc kiêng thịt bằng một hình thức khác không?
 
Hội Đồng Giám mục có thể ấn định rõ ràng hơn luật kiêng thịt [3] và ăn chay, cũng như có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay bằng những hình thức sám hối khác, nhất là bằng những việc bác ái và việc đạo đức (Điều 1253).
Hội Đồng Giám mục Việt Nam, khoá họp tháng 4-1991 đã ấn định: các ngày thứ Sáu, có thể thay việc kiêng thịt bằng một việc đạo đức hay một việc từ thiện bác ái, như: đọc hay nghe một đoạn Lời Chúa, làm một việc hãm mình đền tội, bố thí cho người nghèo, làm việc công ích, v.v…
Như thế, để giữ luật hãm mình ngày thứ sáu, tín hữu Việt nam có thể kiêng thịt như luật chung Hội Thánh quy định, hay làm một việc đạo đức, từ thiện bác ái, như Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã cho phép [4].
 
 5. Ăn chay là gì? 
 
Chúng ta cần phân biệt 4 cách ăn chay:
- Chay tự nhiên (ieiunium naturale): là kiêng hẳn mọi của ăn, của uống.
- Chay luân lý (ieiunium morale): là hãm bớt của ăn uống, vui thú…
- Chay Thánh Thể (ieiunium eucharisticum): giữ lòng trống không để rước lễ [5].
- Chay Giáo Hội (ieiunium ecclesiasticum): đây là điều mà chúng ta muốn đề cập đến. 
Việc giữ chay Giáo Hội hệ tại ở chỗ ăn một bữa [6], còn hai bữa còn lại được phép ăn một chút, miễn là lưu ý đến lượng và phẩm của thức ăn mà tập tục địa phương mỗi nơi cho phép.
 

Giữa hai bữa ăn, cấm dùng thức ăn đặc, nhưng thức ăn lỏng (trà, nước trái cây, sữa…) có thể được dùng bất cứ lúc nào [7].
 
 
 6. Những ai phải ăn chay?
 
Theo Điều 1252 của Bộ Giáo Luật hiện hành, luật ăn chay buộc tất cả mọi người Kitô hữu, từ tuổi thành niên (nghĩa là trọn 18 tuổi [8]) cho đến khi bắt đầu được 60 tuổi (nghĩa là cho đến hết 59 tuổi).
Những người bắt đầu 60 tuổi được miễn khỏi ăn chay, nhưng vẫn phải giữ luật kiêng thịt.
 
 
7. Phải ăn chay và kiêng thịt vào những ngày nào?
 
Phải kiêng thịt và ăn chay trong ngày thứ Tư Lễ Tro và ngày thứ Sáu kính cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta (Điều 1251).
 
 
8. Ai có quyền miễn chuẩn việc ăn chay kiêng thịt ?
 
1/ Đức Giám Mục giáo phận
Đức Giám Mục giáo phận có thể miễn chuẩn khỏi nghĩa vụ phải ăn chay kiêng thịt trong toàn giáo phận của mình cho những người có cư sở, bán cư sở cũng như người vãng lai.
Ngoài ra, Đức Giám mục cũng có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình kể cả khi họ đang vắng mặt khỏi lãnh thổ giáo phận.
2/ Linh mục chính xứ
Theo Điều 1245, linh mục chính xứ cũng có năng quyền chuẩn chước như trên với những điều kiện sau đây:
- Khi có lý do chính đáng (x. Điều 90 [9]);
- Dựa theo những quy định của Giám Mục giáo phận,
- Trong từng trường hợp, nghĩa là linh mục chính xứ chỉ có thể chuẩn miễn cho từng lần chứ không thể miễn chuẩn dài hạn.
Linh mục chính xứ có thể miễn chuẩn hoặc thay thế việc ăn chay kiêng thịt bằng một việc đạo đức khác, đối với từng cá nhân hoặc gia đình những người thuộc quyền mình, cho dù họ không ở trong địa hạt, đối với những lữ khách hiện đang ở trong địa hạt giáo xứ (nếu không có gì minh nhiên ấn định ngược lại), cho cả chính mình nếu có lý do chính đáng (x. Điều 91 [10]), cho cả cộng đoàn giáo xứ nếu nhu cầu đòi hỏi [11].
Vì đây là quyền thông thường do luật ban cho, cho nên linh mục chính xứ có thể uỷ quyền [12].
3/ Bề Trên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ thuộc luật giáo hoàng
 Bề Trên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ thuộc luật giáo hoàng cũng có quyền miễn chuẩn đối với những người thuộc quyền mình [13] và những người khác đêm ngày cư ngự trong nhà mình (Điều 1245).
Để xin miễn chuẩn, có thể đích thân đến xin, hoặc sử dụng thư từ, điện thoại, điện tín, hoặc qua trung gian người thứ ba.
 
 ----------
 
1. Lễ trọng cũng được, chứ không cần phải là lễ buộc.
2. Bộ Giáo Luật cũ (1917) buộc mọi người ngay từ 7 tuổi trọn.
3. Thí dụ: kiêng thịt hay kiêng thức ăn nào khác.
4. Những ngày lễ Công Giáo 2007-2008, tr. 21-22.
5. Điều 919 §1. Ai muốn rước Thánh Thể thì ít là trong khoảng một giờ trước khi rước lễ phải kiêng mọi thức ăn, thức uống, chỉ trừ nước lã và thuốc chữa bệnh.
6. Bữa nào tuỳ ý, không cấm đưa bữa trưa lên bữa tối, và bữa tối xuống bữa trưa.
7. x. PHAOLÔ VI, Tông hiến Paenitemini, III, 1-2.
8. Điều 97 §1: Người trọn 18 tuổi là thành niên, dưới tuổi đó là vị thành niên.
9. Điều 90 :
§1. Không được chuẩn chước luật Giáo Hội khi không có lý do chính đáng và hợp lý, sau khi đã cân nhắc các hoàn cảnh và sự hệ trọng của chính luật được chuẩn chước, nếu không, việc chuẩn chước là bất hợp pháp và – trừ khi do chính nhà làm luật hay người trên ngài đã chuẩn chước – việc chuẩn chước còn bất thành sự nữa.
§2. Khi hồ nghi có đủ lý do hay không thì việc chuẩn chước thành sự và hợp pháp.
10. Điều 91: “Ai có quyền chuẩn chước thì kể cả khi ở ngoài địa hạt của mình, vẫn có thể thi hành quyền ấy đối với các người thuộc quyền, mặc dù họ không ở trong địa hạt, và nếu không minh nhiên quy định nghịch lại, thì còn có thể thi hành quyền ấy đối với cả những kiều cư hiện đang ở trong địa hạt, cũng như đối với chính mình nữa”.
11. x. Communicationes, 1980, tr. 358, Điều 43.
12. x. Điều 136-144.
13. Kẻ thuộc quyền là tu sĩ, tập sinh được chuẩn miễn bất cứ họ đang ở đâu vì là năng quyền đối nhân.
 
 ****
 
 

 
VIỆC KIÊNG THỊT NGÀY XƯA
(Bổ túc giáo lý 6 Điều Răn Hội Thánh)
 
 

(trước CĐ Vatican II)
 
 

Nguồn: caimon.co.cc
 
Đặt làm một bổn ra đây,
Những ngày kiêng thịt chim này “ nên ” ăn,
Ai ơi chớ khá siêng năng,
Học cho thuộc lão kẻo ăn mà lầm.
Đức Cha truyền chỉ mấy năm,
Song người bổn đạo còn lầm chưa thông. 
Giò đảy, lảo nhược, chó đồng, 
Khoan ốc, khoan cổ, bồng bồng giang sen.

Bạc má, thằng cọc, cù đèn,
Diệt mốc, diệt lữa, quắm đen, cò ngà.
Cò trâu, cò rán, cò ma,
Cò xanh, điên điển, cùng là te te.

Chàng nông, quắm trắng, chàng bè,
Vịt nước, ba kiến, le le, thằng chày.
Gà nước, cúm núm một loài,
So đủa cùng quốc giò dài cả hai.
Vạc cứ ăn đêm hoài hoài,
Mỏ nhác chàng nghịch có tài đuổi nhau.
Học trò, bánh ít, ốc cao,
Chim nhạn, con cót nói sao cho liền.
Choi choi, tu hít theo liên, 
Những con thể ấy, ngày kiêng nên dùng. 


NB. Theo cách ăn chay ngày nay :  chay lòng, kiêng thịt. Hội Thánh đặt nặng vấn đề tâm hồn từ bỏ và hy sinh, cầu nguyện nhiều hơn.
 
                                                   (Tâm linh sưu tầm)
                                               (Trích từ giaophanvl@.net)
 
 
Ăn Chay, Kiêng Thịt Trong Giáo Hội Công Giáo 

1. Xin cho biết Mục đích và Ý nghĩa việc ăn chay kiêng thịt trong Giáo Hội Công Giáo:
 
- Trong Giáo hội Công giáo, ăn chay kiêng thịt là một hình thức hãm mình theo chiều hướng:
1. "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo"(Mt 16,24).
2. "Từ bỏ bản thân" (Giáo luật (Gl) khoản 1249)
3. "dẹp tính mê ăn uống" đó là một trong 7 mối: "Thứ 5: Kiêng bớt chớ mê ăn uống".
 

2. GHCG dạy ăn chay kiêng thịt bao nhiêu lần trong một năm?
 
- Giáo hội dạy các giáo dân thuộc về Giáo hội, trên thế giới: ăn chay và kiêng thịt một năm  2 lần: Thứ Tư lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh (Gl 1251).
 
Cũng khoản 1251 này, Giáo hội dạy: "Vào các ngày thứ sáu, nếu không trùng với ngày lễ trọng, thì phải kiêng thịt hay kiêng một thức ăn khác theo Hội đồng Giám mục đã qui định".

3. Tại sao Giáo hội buộc kiêng thịt mà lại cho ăn những món khác như tôm, cá, cua…đôi khi còn ngon và  đắt tiền hơn thịt nữa?
 
- Thông thường người ta từ nhỏ tới lớn thích ăn thịt hơn ăn cá (trừ người Do thái, cậu bé khi đi chơi cũng đem 5 chiếc bánh mì đen và 2 con cá (Gioan 6,9 "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá ), đàng khác theo y học, đạo đức học: thịt bò, thịt heo có nhiều chất kích thích tình dục hơn cá, tôm, cua (cá có máu lạnh). Có thể là một lý do Giáo hội dạy kiêng thịt như một hình thức hãm mình.
 
Nhưng nếu vì kiêng thịt mà có người tránh miền này để qua miền khác mà ăn, hoặc đi tìm cách ăn cho sang, cho ngon thì "hết ý kiến" như truyện vui như sau:
Ngày thứ sáu mùa Chay kiêng thịt, một thanh niên khỏe mạnh vào quán ăn. Người tiếp viên tới hỏi: "Thưa ông dùng chi?" Ông khách nói: "Cho tôi đĩa cá sấu?" - "Xin lỗi, chúng tôi không có." - "Cho tôi đĩa cá voi?" - "Xin lỗi, chúng tôi không có." - "Cho tôi đĩa cá mập". - "Xin lỗi, chúng tôi cũng không có." - "Tiệm gì lạ vậy, Chúa ơi, xin Chúa chứng giám, hôm nay con đành phải ăn thịt". Thế rồi anh gọi tiếp: "Thôi, cho tôi một đĩa thịt beef steak và một chai whisky". Làm dấu Thánh giá nghệch ngoạc xong, ông ta  ăn uống tỉnh bơ, và cảm thấy lương tâm yên ổn hơn khi nào hết! :)
  

4. Mấy tuổi thì ăn chay, kiêng thịt?
 
- 18 tuổi trọn tới hết 59 là tuổi ăn chay (Gl 1252).
- 14 tuổi trọn (không nói kết thúc) là tuổi kiêng thịt (Gl khoản trên).
 
5. Ăn chay sao cho đúng, người nói ăn no, người nói ăn đói?
 
- Ngày ăn chay: Nếu bữa trưa là bữa chính, thì được ăn no. Bữa sáng và bữa chiều, ăn ít hơn bữa trưa. Nếu bữa tối là chính thì 2 bữa kia cũng được ăn ít hơn.
 
Phẩm và lượng đồ ăn tùy phong tục địa phương (Đức Phaolô VI, Tự Sắc về Đền tội Paenitemini ngày 17.2.1966).
Trong ngày chay cũng không được ăn vặt như kẹo, bánh v.v.. Cần để ý đến tinh thần hy sinh, hãm mình, khắc khổ, tự chế. 

6. Kiêng thịt sao cho đúng?
 
- Ngày kiêng thịt:  Kiêng các thứ thịt loài vật máu nóng: như trâu, bò, heo, gà, vịt… (loài có vú và chim) kể cả bộ lòng... nhưng được ăn trứng và các thứ biến chế từ sữa, được ăn những đồ gia vị, những thứ biến chế từ mỡ loài vật (theo Tông hiến Paenitemini 3,1 của ĐGH Pholô 6, về việc ăn chay và kiêng thịt.
  

7. Khi không thể ăn chay, kiêng thịt thì sao?
 
- Giáo hội không buộc người không thể giữ những luật buộc như ăn chay, kiêng thịt. Giáo hội tha chung cho những người sau: 

- Được tha giữ chay:
 
a) Những người vì sức khỏe, (mẹ nuôi con thơ cần bú…)
b) Những người phải làm việc nặng nhọc,
c) Những người nghèo khó vẫn khổ sở vì đói,
d) Những người được cha xứ, Bề trên Dòng, Giám mục tha.

- Được tha kiêng thịt:
 
a) Mọi người trong Ngày Thứ Sáu gặp lễ buộc, ví dụ: Lễ Truyền tin trong mùa Chay.
b) Người vì sức khỏe, hay công việc nặng nhọc cần phải ăn thịt,
c) Người mà chủ nhân không cho đồ ăn khác, ví dụ: Tôi tớ, trẻ con, người vợ.
Ngoài ra, ai cần tha thì xin phép linh mục xứ, cộng đoàn nơi mình đang ở.
 
8. Luật ăn chay kiêng thịt bên Mỹ thế nào?
 
- Nói chung, Giáo hội (Gl 1250) lấy các thứ Sáu trong năm và mùa Chay làm ngày và mùa Thống hối cho mọi con cái thuộc Giáo hội trong mọi dân mọi nước. 
 
-Khoản 1251, Giáo hội dạy: "Vào các ngày thứ sáu, nếu không trùng với ngày lễ trọng, thì phải kiêng thịt hay kiêng một thức ăn khác theo Hội đồng Giám mục đã quy định".
 
* Riêng trong nước Mỹ, HĐGM chỉ định: giáo dân chỉ kiêng thịt các Thứ Sáu Mùa Chay (5 thứ 6, cộng thêm thứ Tư lễ Tro và Thứ 6 Tuần thánh), chứ không kiêng thịt các thứ Sáu quanh năm..
Thứ Sáu mùa Chay, dù kiêng thịt, nhưng "được ăn cháo lỏng có mùi thịt, meat gravy and sauces". (Catholic Almanac 1989, coi Abstinence).
 
Dễ hơn nữa, theo quyết định của Hội đồng Giám mục, "Không cần xin phép miễn ăn chay, kiêng thịt. Để tùy lương tâm cá nhân xác định, khi có lý do đủ (sufficient reason), người ta có thể tự miễn ăn chay, kiêng thịt vào ngày buộc. Nhưng Các Giám mục (Gl 1253) mạnh mẽ khuyến khích dự lễ misa hàng ngày và giữ chay kiêng thịt vào ngày khác trong tuần để bù lại". (Theo Tuần báo North Texas Catholic Feb. 24, 1995. P. 13).
 
9. Kết: Ăn chay là hình thức đền tội của Cựu Ước và Tân Ước.
Chúa Giêsu giữ chay 40 đêm ngày trước khi đi truyền đạo công khai trong nước Do thái.
Đối với chúng ta, chẳng ai là không phải đền tội, tội đầy đầu trong tư tưởng, lời nói, việc làm sai trái, thiếu sót bỏ không làm việc tốt phải làm..."lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng". Do đó, nếu Giáo hội không buộc, thì tự mình cũng nên tìm cách hãm mình đền tội cách nhẹ ở đời này, hơn là để đền tội "cách nặng" trong luyện ngục đời sau!

Gl khoản 1249 viết thêm:  Luật Chúa buộc mọi tín hữu làm việc thống hối theo cách thức riêng của mỗi người. Nhưng để các tín hữu liên kết với nhau trong một vài nghĩa vụ thống hối chung, luật quy định những ngày thống hối, để trong những ngày ấy, các tín hữu chú trọng đặc biệt đến sự cầu nguyện, thi hành việc đạo đức và việc bác ái, từ bỏ bản thân,bằng cách trung thành chu toàn các bổn phận riêng và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt".

Gl khoản 1251 cũng khuyên các chủ chăn và các phụ huynh dạy cho các em dù chưa đến tuổi buộc ăn chay và kiêng thịt để chúng hiểu biết ý nghĩa đích thực của việc thống hối.
 
Ăn chay, kiêng thịt trong đạo Công giáo, dù không nhiều như luật giữ chay của mấy đạo khác...(Phật giáo: tín đồ ăn chay nhiều ngày…đạo Cao đài: tín hữu  ăn chay từ 2-10 ngày trong một tháng, hoặc ăn chay trường, nếu là bậc chức sắc.  Đạo Hồi có cả tháng chay Ramadan (không ăn, không uống, không hút thuốc và kiêng việc chăn gối).
 
Hy vọng những người "con Chúa" không ai thấy ăn chay kiêng thịt đạo mình là khó quá rồi kêu ca hay khinh thường  phạm đến luật Hội thánh mà mang tội.
 
(Theo http://xuanha.net)
--------------------------------------------------------------------------


 
 CHAY TỊNH

 

Để gặp được chính mình, gặp được chân lý, gặp được chính Đức Kitô thì chỉ có con đường duy nhất là sự từ bỏ, là chiến thắng dục vọng, mà chay tịnh là phương cách cần thiết và hiệu qủa nhất mà ngày nay người ta lại muốn quên nó...

 

 

THẾ NÀO LÀ CHAY TỊNH?

 

Ngôn ngữ thông thường gọi là ăn chay, có nghĩa là kiêng ăn, bớt ăn hoặc nhịn ăn theo như chủ trương của tín ngưỡng, giáo thuyết, tôn giáo hay cá nhân đề ra theo một mẫu mực nào đó. Tuy cách thức khác nhau, nhưng ăn chay là điều tất yếu của bất cứ một tôn giáo nào, và ngay cả những lý thuyết về tu thân cũng rất đề cao việc ăn chay, không kể những trào lưu ngày nay người ta ăn chay là vì sắc đẹp, vì sức khỏe.

 

Đạo Phật ăn chay là để tránh sát sinh, cũng là để tỏ lòng từ bi đại lượng với mọi sinh vật. Đạo Công Giáo ăn chay bằng cách tiết thực để nhắc nhở sự sám hối, sự hy sinh bác ái và hãm dẹp những dục vọng nơi con người. Cũng có nhiều tín ngưỡng và tôn giáo xưa nay có những mục đích tốt lành như vậy. Ăn chay đã có từ ngàn xưa, nhưng nó có nguy cơ trở thành một ý niệm cố hữu và xơ cứng nơi con người ngày nay. Dường như người ta  giữ chay hoàn toàn theo một hình thức nào đó thật máy móc, nó không còn ý nghĩa, mang đến một giá trị tốt lành, không giúp ích thực sự cho việc thực hành tâm linh nữa. Vì vậy việc ăn chay đã trở nên một hình thức nô lệ, như một chuyện “làm dáng” trong việc giữ đạo, đôi khi nó như một chuyện “xa sỉ” của thời đại..

 

Ngày nay dùng từ chay tịnh là có ý nghĩa hơn cả, vì nó diễn tả được hết cái đặc tính của việc giữ chay. Trong khi ăn chay điều cốt yếu không thể thiếu là phải có cái Tâm Tịnh, nếu tâm không tịnh thì mới chỉ có xác chứ chưa có hồn, có hình thức mà không có nội dung, nghĩa là việc ăn chay trở thành khấp khểnh, vô hiệu. Đây là một vấn nạn tạo nên sự vấp ngã cho nhiều người, do con người ngày nay hầu như bất lực trước cái Tâm luôn bị động, khó có thể tìm cho mình được những giây phút tĩnh lặng trong tâm hồn. Từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ, con người hầu như hoàn toàn bị cuốn hút vào mọi công việc, mọi lo toan,  mọi áp lực, và mọi cám dỗ trong cuộc sống (Tâm viên ý mã). Vì vậy việc chay tịnh là cực kỳ khó khăn cho con người ngày nay. Bản tính con người dễ thiên về hai khuynh hướng, qúa câu nệ vào hình thức hoặc chỉ chú trọng đến nội dung, như trong việc ăn chay cũng vậy, hình thức và nội dung thường không tương đồng với nhau, cho nên thường chẳng gặt hái được kết quả gì sau những lần ăn chay.

 

Thực tâm mà nhìn nhận thì bản thân việc chay tịnh là rất khó, vì nó trái với bản tính tự nhiên của con người, nó đòi hỏi một sự từ bỏ khá triệt để. Chay tịnh chống lại sự đòi hỏi theo như bản năng của con người, nhất là bản năng hướng hạ. Một mặt nó không cho phép con người hưởng thụ theo như nhu cầu tự nhiên đòi hỏi, mà việc ăn uống là cơ bản, mạnh mẽ và điển hình nhất ; mặt khác nó bắt người chay tịnh phải biết hãm dẹp mọi dục vọng nơi bản thân, là nguồn của mọi xáo trộn, để tạo trong tâm hồn một sự tĩnh lặng cần thiết. Chính vì vậy, ai biết ăn chay và quen chay tịnh, người đó sẽ có một tinh thần mạnh mẽ, họ dễ dàng chiến thắng bản thân, có một nội lực mạnh mẽ, tạo nơi con người một thế quân bình cả về tâm lẫn thể lý.

 

Chay tịnh không thể thiếu trên con đường tu đức, nhất là muốn tiến tới sự trọn lành. Nó cũng là phương cách tích cực và hữu hiệu nhất để triệt hạ thói hư tật xấu, triệt tiêu những xu hướng và bản năng hướng hạ nơi con người. Nhờ vậy nó tạo trong tâm hồn con người một sự bằng an, một sự quân bình, một cái Tâm sáng mà chân lý có thể soi rọi vào dễ dàng. Nhưng ngày nay người ta rất coi thuờng việc chay tịnh, họ coi nó như một thứ “xa sỉ phẩm”, nếu có chỉ để trang trí mà thôi, thậm chí có những người đạo đức cũng coi thường nó, họ biện minh rằng: tinh thần là quan trọng, ý hướng là quan trọng, sức khoẻ là quan trọng, ngày nay dùng phương pháp tu đức khác v.v… Vì vậy thân xác và linh hồn họ luôn bị chao động, mỗi ngày lại yếu đuối và nặng nề thêm, ngay cả những điều nhỏ mọn họ cũng không thể tự chế hay tự chủ được, nói gì đến những việc bác ái hy sinh đòi sự can đảm kiên cường.

 

TẠI SAO PHẢI CHAY TỊNH ?

 

Các vị “đạo cao đức trọng”, nhất là các thánh nhân, việc chay tịnh là điều tất nhiên chẳng cần phải bàn luận. Cuộc đời của các vị được gắn liền với việc ăn chay như là thuốc uống chữa bệnh tinh thần, như là nước uống tạo chất sống cho cơ thể, như thánh Gioan Viannây xứ Ars là tiêu biểu nhất, mỗi ngày ngài chỉ ăn một củ khoai để giữ chay tịnh.

 

Theo như Đức Tin Kitô giáo, từ khi con người sa ngã, tâm trí con người trở nên hèn yếu, mê muội, lầm lạc. Sự sa ngã đó khiến tâm hồn con người bị đắm chìm trong những dục vọng thấp hèn, cho nên bất cứ tư tưởng, ý hướng và hành động nào của con người cũng bị dục vọng chi phối, thậm chí cả những ý hướng tốt, nhiều khi bề ngoài có vẻ rất cao đẹp, nhưng lại do động cơ tham vọng, ích kỷ hay do mặc cảm nào đó dẫn dắt. Trong những tổ chức xã hội, trong văn hoá, giáo dục, đều vướng mắc đầy dẫy sự khiếm khuyết và sai lạc, cũng như  trong ý niệm, trong sự nhận thức của mỗi người, đều chất chứa nhiều u mê nhầm lẫn. Cứ thế, lầm lẫn và sai lạc tích lũy và chồng chất lên nhau từ người này đến người kia, từ tổ chức này tới tổ chức khác, từ thế hệ này sang thế hệ nọ. Điều này triết lý nhà Phật gọi là sự “vô minh bẩm sinh” và “vô minh văn hoá” . Như Đức Kitô, Người từ Trời xuống thế để mạc khải chân lý Nước Trời cho nhân loại, nhưng để hiểu và nhất là để sống với chân lý đó thì không phải là khơi khơi mà có được. Điều kiện trong một trật tự của quy luật là phải nhận ra chính mình, đồng thời cũng phải nhận ra Thiên Chúa. Muốn được như thế là phải biết từ bỏ, biết rũ bỏ những dục vọng mà con người đang đắm chìm trong đó. Từ bỏ hay rũ bỏ là gì, đó chính là chay tịnh, là hãm dẹp, là cắt đứt với mọi khuynh hướng, đam mê vật dục, đam mê với cái tôi kiêu ngạo, tham lam, ích kỷ, chia rẽ, hận thù, ghét ghen…

 

TẠI SAO CHAY TỊNH TÌM ĐƯỢC BÌNH AN VÀ TRỞ NÊN SÁNG SUỐT ?

 

Mục đích của chay tịnh là hãm dẹp, cắt đứt cái nguồn u mê mà gốc của nó là những dục vọng đê hèn nơi con người. Trước hết là nhịn ăn để “tuyên chiến” với nó, hạ gục hay ít ra làm cho nó yếu đi ngay từ “cơ sở nền tảng” của nó. Cần phải quyết tâm, nhưng nhẹ nhàng, uyển chuyển, đừng thổi phồng nó lên cũng như đừng coi thường thì mới có thể chiến thắng được nó. Như ai cũng biết, nhu cầu ăn uống là nhu cầu manh mẽ, thiết yếu và đầu tiên mà dục vọng con người đòi hỏi, được đáp ứng và thoả mãn nhu cầu này rồi, dục vọng mới tìm tới các nhu cầu khác. Nhưng khi ăn chay, nhu cầu ăn uống bị hạn chế, hoặc bị cắt đứt, thì tất nhiên mọi nhu cầu khác, tức là các dục vọng khác không thể có cơ hội phát triển được, nếu có thì nó rất yếu ớt. Lúc này với ý chí và ý hướng rũ bỏ, người ăn chay sẽ tìm gặp được sự tĩnh lặng trong tâm hồn, khí lực được tích lũy (tự thắng giả cường-thắng mình là mạnh), nên họ rất mạnh mẽ. Và quy trình tất yếu diễn ra là: Dục vọng không còn làm chủ được thân xác và linh hồn nữa, nên người chay tịnh sẽ tìm được sự bằng an bất tận, tâm và trí không bị dục vọng che mờ nên sẽ nhìn được chính mình (tự tri giả minh-biết mình là sáng), thấy mình hèn kém, yếu đuối, nhưng lại có một nội lực chiến thắng được những cơn cám dỗ mà bình thường con người không thắng vượt được. Đồng thời người chay tịnh cũng nhận ra chân lý rất sáng tỏ, nhìn thấy những lẽ huyền vi của Thiên Chúa và mọi quy luật trong đời sống . Mặt khác cũng hiểu đời, hiểu người nhiều hơn, nên tâm hồn phẳng lồng lộng và rất quảng bác.

 

Dục vọng như chiếc rọ, là sợi dây trói buộc con người làm nô lệ cho những cảm xúc thú tính của phần hạ, được mệnh danh là sự khoái lạc nhưng dẫn đến sự dữ, sự xáo trộn và hủy diệt. Để gặp được chính mình, gặp được chân lý, gặp được chính Đức Kitô thì chỉ có con đường duy nhất là sự từ bỏ, là chiến thắng dục vọng, mà chay tịnh là phương cách cần thiết và hiệu qủa nhất mà ngày nay người ta lại muốn quên nó, đến nỗi Đức Mẹ Mễ Du phải kêu gọi con cái Mẹ cứu thế giới bằng cách ăn chay vào thứ tư và thứ sáu hàng tuần bằng bánh mì với nước lã, để thánh hoá bản thân và cầu cho hoà bình thế giới.

 

CHÚA GIÊSU ĂN CHAY NHƯ THẾ NÀO ?

 

Ngài vào hang núi để cầu nguyện, nhịn ăn hoàn toàn bốn mươi ngày đêm, nghĩa là Ngài tuyệt thực cho tới khi cảm thấy đói – “Thánh Thần dẫn Ngài vào sa mạc bốn mươi ngày, chịu ma quỉ cám dỗ… Ngài không ăn gì cả.” (Luca 4,1-2). Đây là phương pháp nhịn ăn triệt để và tích cực nhất mà nhiều người trên thế giới đã áp dụng xưa nay, như Phật Thích Ca, Ohsawa, Gandhi… Chúa Giêsu không phải chỉ làm gương cho con người, mà đối với bản thân vị Chúa-Người, Ngài cũng cần được cảm nghiệm sự cám dỗ và chay tịnh đúng mức thì mới được tiếp nạp sức mạnh Cứu Chuộc theo như trật tự trong quy luật tự nhiên và siêu nhiên của Thiên Chúa.

 

Trước đây trong xã hội truyền thống, con người sống gần thiên nhiên, tự cung tự cấp, nhu cầu chưa nhiều, đời sống thanh bạch, giản dị được ưa chuộng và đề cao, nên con người gần với đạo lý hơn, việc ăn chay (tiết dục) cũng là việc bình thường và nhẹ nhàng. Nhưng trong xã hội công nghiệp ngày nay, con người hướng đến sự hưởng thụ tối đa, ham chuộng thực phẩm công nghiệp, ưa ăn thịt động vật, tìm những mùi vị kích thích trong ăn uống, từ đó tính khí trở nên hung hăng, nên bị nô lệ và yếu đuối, dục vọng được phát triển tối đa, cho nên việc chay tịnh là cực kỳ khó khăn, hậu qủa là bệnh tật và tha hoá về tinh thần rất trầm trọng. Nhưng dường như con người lại hãnh diện về điều đó.

 

Tiếc rằng ngày nay không có ai bắt chước ăn chay (tuyệt thực) như Chúa Giêsu, nếu có người nhịn ăn chẳng qua là để chữa bệnh, hoặc tuyệt thực là để lấy tiếng – háo danh. Chay tịnh như Chúa Giêsu cũng không được ai biết đến, mà ngay cả ý nghĩa và mục đích của ăn chay người ta cũng hiểu sai đi. Chay tịnh đã lỗi thời rồi sao?! Hay ngày nay con người qúa yếu đuối ?!

 

                                                                                                                               Hàn Cư Sĩ

(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)

---------------------------------------------------------------------
 

XỨC TRO NHƯ THẾ NÀO ?

Hỏi 1:
 Trong các Thánh Lễ Thứ Tư Lễ Tro, tro được xức trên đầu của tất cả những ai đến nhận tro. Nhưng trong một thánh lễ như thế, tôi nhận thấy cái được xức trên đầu mỗi người là một hỗn hợp lỏng sệt của tro và nước. Điều này được phép không? Hơn nữa, ngoài các linh mục và nữ tu, một giáo dân của cộng đoàn cũng tiến lên và giúp xức tro lòng sệt ấy. Việc này có là thích thích đáng không, thưa cha? - D. O, Mombasa, Kenya.

Hỏi 2: Có cách thức đúng về việc xức tro không? Tôi nhận thấy tại Rôma tro được xức lên trên đỉnh đầu của mỗi người, nhưng ở các nơi khác trên thế giới, tro được xức lên trán. - M. F., Oxford, Anh.


Đáp: Các câu hỏi này và câu hỏi tương tự thường được hỏi vào thời điểm trước mùa Chay. Tôi nghĩ rằng việc nhắc lại một số điều là đáng giá, mặc dù chúng tôi đã trả lời vấn đề này vào nhiều dịp khác.

Trong lịch sử, việc sử dụng tro như một dấu hiệu của sự sám hối đã được tìm thấy trong Cựu Ước, và thậm chí Chúa Giêsu nói về sự cần thiết cho một số người tội lỗi để làm việc đền tội, là mang áo nhặm và xức tro (Mt 11, 21). Tertulianô, thánh Xyprianô, thánh Ambrôxiô, thánh Giêrônimô, thánh Âutinh, và nhiều Giáo Phụ khác thường nhắc đến việc thực hành này, đặc biệt là trong tương quan với việc thực hành để khởi đầu một giai đoạn của sự sám hối công khai cho các tội trọng.

Ngoài một số ít người đền tội công khai, nhiều Kitô hữu đạo đức khác xưng tội vào đầu Mùa Chay, để có thể rước lễ hàng ngày trong suốt mùa này, và họ yêu cầu được xức tro như một dấu hiệu của đức khiêm nhường, sau khi đã được giải tội. Năm 1091, Đức Giáo Hoàng Urban II đề nghị việc thực hành xức tro cho cả giáo sĩ và giáo dân.

Do đó, nghi thức làm phép tro và xức tro trở nên được phổ biến khắp nơi, và nhanh chóng được thừa nhận là quan trọng trong đời sống phụng vụ của các tín hữu. Lúc đầu, nghi thức được thực hiện ngoài Thánh lễ, nhưng rồi được đưa vào Thánh lể khoảng thế kỷ XII.

Lúc đầu, đàn ông được xức tro trên đỉnh đầu, trong khi tro được xức thành hình Thánh giá trên trán người phụ nữ. Sự khác biệt này có lẽ xuất phát từ thực tế đơn giản rằng phụ nữ buộc phải che đầu bằng khăn trong nhà thờ.

Về tính thiêng liêng của việc được xức tro, Giáo Hội nêu ra một số điểm hữu ích. Số 125 của Hướng dẫn về Lòng Đạo Bình dân nói:

"Việc xức tro tượng trưng cho sự mong manh yếu đuối và tính phải chết của con người, và cần được cứu độ bởi lòng thương xót của Chúa. Ngoài việc chỉ là thuần túy một cử chỉ bề ngoài, Giáo Hội duy trì việc xức tro để tượng trưng thái độ sám hối nội tâm, mà mọi người đã được rửa tội được mời gọi trong Mùa Chay. Các tín hữu đến nhận tro sẽ được hỗ trợ trong việc nhận thức tầm quan trọng nội tâm tiềm ẩn của cử chỉ này, vốn làm cho họ sẵn sàng hướng đến sự hoán cải và sự cam kết đổi mới cho mùa Phục Sinh”.

Thánh Bộ Phượng Tự đã công bố một thư luân lưu về các việc cử hành mùa Phục Sinh năm 1988. Về thứ Tư Lễ Tro, thư nói:

"21. Vào thứ Tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay, các tín hữu được xức tro, do đó đi vào thời gian được qui định cho việc thanh luyện linh hồn họ. Dấu hiệu sám hối này, một truyền thống Kinh Thánh, đã được duy trì trong số các tập tục của Giáo Hội cho đến ngày nay. Nó diễn tả thân phận nhân linh của người tội lỗi, là người đang tìm bày tỏ cảm thức tội lỗi của mình trước mặt Chúa một cách bề ngoài, và khi làm như vậy, là diễn tả sự hoán cải nội tâm của mình, được hướng dẫn bởi niềm cậy trông rằng Chúa sẽ xót thương mình. Cử chỉ này đánh dấu sự khởi đầu của con đường hoán cải, vốn được triển khai qua việc cử hành bí tích sám hối trong thời gian trước lễ Phục Sinh.

"Việc làm phép tro và xức tro có thể diễn ra trong Thánh Lễ hoặc ngoài Thánh Lễ. Trong trường hợp ngoài Thánh lễ, nó là một phần của phụng vụ lời Chúa và kết thúc với lời nguyện các tín hữu”.

Với các lời trên đây, chúng tôi có thể trả lời rằng về cách thức xức tro, có nhiều tập tục hợp pháp khác nhau.

Trong hầu hết các nước nói tiếng Anh, tập tục chính yếu là linh mục rảy ít nước vào tro làm cho tro trở nên bột sền sệt. Tro được xức thành hình Thánh giá trên trán tín hữu. Chỉ cần một chút nước thôi, để cho tro không trở thành quá lỏng. 

Nhiều người Công Giáo thấy việc xức tro như là một cách công khai bày rỏ đức tin của mình, và cứ để tro trên trán mình suốt cả ngày Thứ Tư Lễ Tro, mà không rửa.

Trong nhiều miền nước Ý và ở một số nước nói ngôn ngữ Romance, người ta không cho thêm nước vào tro. Thay vào đó, tro khô được xức thành hình Thánh giá trên đỉnh đấu của tín hữu, như tro rơi trên tóc họ. Cách thức này có lợi điểm là hiểu được ý nghĩa của tro như là bụi đất, nhưng không để lại một dấu chỉ hữu hình suốt cả ngày hôm ấy, trừ các người hói đầu. Có thể có các tập tục hợp pháp khác nữa về xức tro.

Một đổi mới gần đây ở một số nơi là làm một con tem để tro được dính lên trán của tín hữu. Tôi cho rằng bản chất cơ học của quá trình này làm giảm đáng kể ý nghĩa của tro được xức trên đầu chúng ta.

Chữ đỏ về việc xức tro nói rằng linh mục, sau khi xức tro, sẽ rửa tay sạch, như thế hàm ý rằng ngài phải dùng tay mà xức tro chứ không dùng con tem.

Việc dùng con tem dường như bị tác động bởi ước muốn kéo dài dấu chỉ xức tro suốt cả ngày, mặc dù đây chỉ là một khía cạnh ngẫu nhiên, mặc dù tích cực, của một cách thức xức tro. Sự nguy hiểm là rằng quá trình này có thể làm giảm đi điều gì là cần thiết cho cử chỉ nghi thức, bởi vì việc được xức tro phải là một dấu chỉ của sự sám hối cá nhân và sự hoán cải.


Về việc ai có thể xức tro, Sách Các Phép có một nghi thức làm phép và xức tro ngoài Thánh lễ. Số 1062 của Sách này nói như sau:

"Nghi thức này có thể được cử hành bởi một linh mục hay phó tế, và có thể được trợ giúp bởi các thừa tác viên giáo dân trong việc xức tro. Tuy nhiên, việc làm phép tro được dành cho linh mục hay phó tế".

Một thừa tác viên giáo dân cũng có thể cử hành một phiên bản hơi khác của việc xức tro, vốn đã được linh mục hay phó tế làm phép trước, chẳng hạn khi xức tro cho người bệnh.

Sách Lễ Rôma không đề cập rõ ràng đến việc sử dụng các thừa tác viên giáo dân để giúp xức tro đã làm phép trong thánh lễ. Tuy nhiên, tôi tin rằng hướng dẫn của Sách Các Phép cũng áp dụng cho tình huống này, khi mà một sự giúp đỡ như vậy cho thấy là cần thiết do thiếu linh mục và phó tế.
 
Nguyễn Trọng Đa
---------------------------------------------------------------





Giật chuông nhà thờ để làm gì?
 
Trong bộ giáo luật hiện hành, không còn thấy nói tới chuông nhà thờ nữa. Như vậy có nghĩa là từ nay có thể dùng chiêng trống phèn la, chứ không cần phải giật chuông trong các nghi lễ phụng vụ nữa, phải không?

Trước hết, chúng ta nên ghi nhận là so với bộ luật cũ, thì quả là có khoảng trống lớn trong giáo luật hiện hành về vấn đề chuông. Bộ luật cũ đã dành ra ba điều luật để nói tới chuông nhà thờ (612, 1169, 1185). Cách riêng điều 1169 quy định khá chi tiết về chuông nhà thờ, trong 5 khoản:

$1. Mỗi nhà thờ nên có chuông, để mời gọi các tín hữu đến tham dự phụng vụ và các việc đạo đức.

$2. Các chuông nhà thờ cần được cung hiến hay chúc lành dựa theo các nghi thức ấn định trong các sách phụng vụ.

$3 Việc sử dụng chuông tùy thuộc hoàn toàn vào thẩm quyền của nhà chức trách Hội thánh.

$4. Ngoại trừ những điều kiện do người đã dâng cúng chuông đã đặt ra và đã được Bản quyền châu phê, một khi chuông đã được chúc lành thì không được dùng vào những mục tiêu phàm tục, đừng kể khi có lý do chính đáng và có phép của Bản quyền, hoặc do tục lệ hợp pháp.

Sau cùng khoản 5 nói tới ai có thẩm quyền cung hiến hoặc chúc lành chuông.

Vậy nếu bộ luật hiện hành không còn nói tới chuông nhà thờ nữa, thì hiểu là từ nay Giáo hội để tùy tiện, ai muốn treo chuông hay treo trống cũng được, và cũng chẳng cần phải cung hiến hay chúc lành gì nữa, phải không?

Nói rằng không còn có luật lệ gì về chuông nhà thờ thì không đúng. Chúng ta sẽ để cho các sử gia tìm hiểu lý do tại sao bộ luật mới không còn nói đến chuông nhà thờ nữa. Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng trong sách nghi lễ phụng vụ dành cho các Giám mục (Caerimoniale episcoporum) do bộ Phụng tự xuất bản năm 1984 (nghĩa là một năm sau bộ giáo luật), có một chương dành cho việc chúc lành chuông nhà thờ, với nghi thức lấy từ quyển ₡De Benedictionibus‛ được ban hành cùng năm. Điểm đầu tiên cần được ghi nhận là sách phụng vụ không còn nói tới cung hiến hoặc chúc lành (consecratio vel benedictio) chuông như trước, mà chỉ nói tới ‛chúc lành‛ mà thôi. Trong bộ luật cũ, việc cung hiến bao gồm việc xức dầu thánh; còn từ nay thì không còn xức dầu thánh trên chuông nữa, mà chỉ còn rảy nước thánh. Các nghi thức rửa chuông phỏng theo nghi thức rửa tội cũng bị bỏ luôn. Điều thứ hai đáng ghi nhận là việc chúc lành chuông không còn dành cho đức Giám mục như trước (nhất là vì hồi đó còn có chuyện cung hiến), nhưng mà có thể được cử hành bởi cha sở hay linh mục quản đốc thánh đường. Điều thứ ba cần ghi nhận là chuông chỉ cần chúc lành khi được sử dụng sau khi đã có nhà thờ. Còn khi chuông được khánh thánh cùng lúc với nhà thờ mới, thì không cần phải làm lễ chúc lành riêng cho các chuông, bởi vì việc cung hiến và chúc lành nhà thờ bao gồm luôn việc chúc lành các vật dụng phụng tự (như là: chuông, đàn, tượng ảnh, vv). Đó là ba chi tiết quan trọng dưới khía cạnh pháp lý (nghĩa là xét về thẩm quyền và chất liệu). Còn dưới khía cạnh huấn giáo mục vụ, còn có những chi tiết khác mà sách phụng vụ muốn nêu bật trong các bài giảng và lời nguyện, tiên vàn là vai trò của chuông đối với đời sống cộng đoàn. Thường thì chúng ta coi cái chuông như dấu báo hiệu sắp sửa tới giờ lễ rồi. Chuông ra như có vẻ mời mọc thúc giục các tín hữu chuẩn bị đi nhà thờ. Thế nhưng, ngoài cái vai trò giục giã như vậy, ta cũng có thể gán cho nó vai trò quy tụ, triệu tập các tín hữu lại để cùng nhau thờ phượng Chúa.

Nhưng mà có nơi còn giật chuông tử nữa, chứ đâu phải chỉ có giật chuông để báo hiệu sắp tới giờ lễ?

Đúng như vậy, chính vì thế mà vừa rồi tôi có nói tới vai trò của tiếng chuông trong đời sống cộng đoàn.  Nó không những chỉ giục giã các tín hữu tới nhà thờ đọc kinh cầu nguyện, nhưng nó còn thông báo những biến cố quan trọng của cộng đoàn. Nhiều nơi có thói tục giật chuông để loan báo có một người vừa tạ thế, mà ta gọi là chuông tử. Có nơi giật chuông khi có tin vui, tựa như khi cử hành đám cưới, hay là tiếp đón một thượng khách (thí dụ đức Giám mục giáo phận đến thăm). Và mới đây vài cha sở bên Italia cho giật chuông khi một em bé mới chào đời. Dù sao, thì từ lâu, tục lệ dân gian đã tóm lại 6 vai trò của chuông qua hai câu thơ bằng tiếng La-tinh như sau: Laudo Deum, plebem voco, congrego clerum, defunctos ploro, pestem fugo, festa decoro: tôi ca ngợi Chúa, kêu gọi nhân dân, triệu tập giáo sĩ, thương khóc người chết, đuổi xa dịch tễ, thông báo lễ lạc.

Chắc ai cũng hiểu rõ những chức phận vừa kể. Nhưng sao lại có chuyện xua đuổi dịch tễ?

Tôi không rõ cho lắm. Tuy nhiên, có điều chắc là tại nhiều miền thôn quê, mỗi khi trời bị phủ mây đen nghịt báo sắp có mưa to, thì người ta giật chuông nhà thờ. Để làm gì vậy? Thưa là để tránh cho khỏi sét đánh. Đây không phải là chuyện mê tín dị đoan, nhưng có căn bản khoa học: việc giật chuông sẽ gây ra những làn sóng trên không trung, đánh tan bầu khí nặng nề, tức là môi trường tích tụ tiếng sét. Nói thế không có nghĩa là các tháp nhà thờ không cần cột thu lôi nữa.

Đó là các vai trò cổ truyền của chuông nhà thờ. Nhưng nó đã thuộc vào quá khứ xa xưa rồi, và gắn liền với văn minh Âu Tây. Ngày nay đã đến lúc, chúng ta phải trở về với văn hóa dân tộc. Vì thế, thay vì giật chuông, tại sao mình không dùng trống chiêng?

Chuyện thay thế chuông nhà thờ bằng trống chiêng thì không thuộc thẩm quyền của tôi. Thực ra thì kể cả trong bộ giáo luật cũ cũng không có việc bắt buộc mỗi nhà thờ phải có chuông: nhà lập pháp chỉ nói là ₡nên có‛ (convenit). Nên biết là các sử gia đều đồng ý rằng việc sử dụng chuông vào việc phụng tự không hề gắn liền với Kitô giáo. Thực vậy, các tài liệu lịch sử cho thấy là các chùa bên Trung quốc đã sử dụng chuông từ xa xưa, hàng chục thế kỷ trước công nguyên. Còn về phía Kitô giáo, thì mãi tới thế kỷ V-VI mới thấy nói tới, và trở thành thông dụng từ thế kỷ VII. Dù sao, dù không sành điệu về âm nhạc, người ta có thể nhận thấy có sự khác biệt giữa tiếng chuông chùa với tiếng chuông nhà thờ. Chuông chùa có vẻ trầm hơn, và đánh từ từ từng tiếng một; còn chuông nhà thờ thì thanh hơn, và thường đánh liên hồi. Và nói chung thì các nhà thờ càng sang thì không những người ta gắn chuông to mà lại còn liệu cho thật nhiều chuông nữa. Xét về chuông to, thì giải quán quân được dành cho các ngôi nhà thờ tại Mơscơva, với những quả chuông nặng 65 tấn. Còn xét về bộ, thì có nơi làm thành giàn 14-15 chiếc, với những cung độ của nó, có thể đánh thành bài hát. Thực ra, thì một số chức năng của chuông nhà thờ nay đã bị lấn át rồi, trong số đó, phải nói tới chức năng báo giờ. Lúc đầu, trong các đan viện, người ta giật chuông để báo cho các tu sĩ giờ giấc khi thức dậy, đọc kinh, làm việc, vv. Sau đó, các giáo xứ cũng giật chuông không những để báo hiệu cho các tín hữu đi nhà thờ mà để cho biết giờ nữa; một cách cụ thể là ba lần một ngày khi xướng kinh Truyền tin. Ngày nay, hầu hết các tu sĩ và tín hữu đã có đồng hồ đeo tay, nên họ không còn ngóng chuông nhà thờ nữa. Dù vậy, chúng ta cũng thấy có những hãng đồng hồ đã tạo ra cung điệu chuông nhà thờ để báo các giờ hay khắc.

Mặt khác, cũng có những nhà thờ cho quay đĩa chuông thay vì giật chuông thật; vì vậy mà chuông nhà thờ lại càng mất giá trị phải không?

Ta không nên buộc tội cho những giáo xứ đã đánh chuông giả bằng máy ampli là đã phá giá chuông thật. Có lẽ bởi vì họ quá nghèo, không đủ tiền sắm chuông đấy thôi. Thực ra thì trong lịch sử, các quả chuông lớn đã bị cạnh tranh bởi các đồng nghiệp khác, đó là các chuông nhỏ.

Các chuông nhỏ mà các chú giúp lễ vẫn lắc phải không?

Đúng như vậy. Tuy nhiên, nên lưu ý là không phải phụng vụ đã tạo ra các chuông đó đâu. Lúc đầu, nó chỉ là dụng cụ để lôi kéo sự chú ý, đã được dân Rôma sử dụng từ lâu. Tôi còn nhớ trước đây ở Việt Nam, mấy em bé đi bán kem cũng lắc cái chuông như vậy, đó là chưa nói tới các cái chuông buộc vào cổ bò hay cổ trâu. Người ta du nhập vào phụng vụ để kêu gọi nhắc nhở các tín hữu hãy chú ý vì sắp có chuyện quan trọng.

Nhưng mà càng ngày người ta càng ít xài tới chuông bé ấy trong Thánh lễ, tại sao vậy?

Lý do dễ hiểu. Trước đây, Thánh lễ được cử hành bằng tiếng La-tinh. Các tín hữu theo dõi mà không hiểu gì và cũng không thấy gì, bởi vì họ thường đứng xa bàn thờ. Bởi đó, cần có chú giúp lễ quỳ gần bàn thờ lắc chuông báo hiệu, nhất là vào hồi linh mục sắp đọc lời chúc tụng trên bánh và rượu. Nên biết là vào thời Trung cổ, tại các đan viện và giáo xứ, người ta giật chuông lớn khi linh mục dâng Mình và Máu Thánh Chúa, ngõ hầu không những các người hiện diện tại chỗ mà thậm chí các người làm việc ngoài đồng cũng có thể kết hiệp thờ lạy Chúa. Một cách tương tự như vậy, người ta cũng giật chuông khi ban phép lành Mình Thánh Chúa. Dần dần, người ta thay chuông lớn bằng chuông nhỏ. Thế nhưng sau công đồng Vaticanô II, nhiều nơi thấy chuông nhỏ không còn cần thiết nữa từ khi phụng vụ được cử hành bằng tiếng bản quốc, và mọi người có thể theo dõi dễ dàng các nghi lễ diễn ra trên bàn thờ. Như chị đã biết, trước đây, bàn thờ được cất ở cuối nhà thờ và chủ tế thì quay lưng ra bổn đạo, nên chỉ có chú bé giúp lễ đứng gần đó mới biết có chuyện gì xảy ra và lắc chuông cho cộng đoàn biết. Bây giờ thì cộng đoàn không cần tới tiếng báo hiệu của chú giúp lễ nữa bởi vì họ thấy hết các hành vi của linh mục rồi.

Giuse Phan Tấn Thành, op.




CHỨC TƯ TẾ CỦA GIÁO DÂN LÀ CHỨC GÌ ?
 
Hỏi: xin Cha giải thích rõ chức vụ tư tế của người đã chịu Phép Rửa Tội.

Trả lời: Theo giáo lý của Giáo Hội Công Giáo thì khi chịu phép rửa tội (baptism) người được rửa tội cũng được xức dầu thánh (Chrism) để  lãnh nhận ơn riêng của Chúa Thánh Thần, nhờ đó  “ trở thành một Kitôhữu”, nghĩa là được xức dầu, gia nhập vào Thân Thể Chúa Kitô là Đấng đã được xức dầu để làm tư tế, ngôn sứ và vương đế.” (x. SGLGHCG, số 1241).
Nói khác đi, qua bí tích Rửa Tội, người tín hữu được tái sinh trong sự sống mới và được “ mặc lấy Chúa Kitô” như Thánh Phaolô dạy. ( x.Gl 3,27). Cũng qua Phép Rửa, người tín hữu được tham dự vào chức tư tế, ngôn sứ và địa vị vương đế của Chúa Kitô như Giáo Hội dạy trên đây. Chính vì vinh phúc lớn lao này mà xưa kia các Thánh Giáo Phụ ( Church Fathers) đã gọi các tín hữu Chúa Kitô, tức những người đã được tái sinh nhờ Phép Rửa  là những “Đức Kitô thứ hai = Alter Christus”. Từ ngữ này về sau cũng được dùng để chỉ các tư tế có chức thánh như Giám Mục và Linh Mục.
Khi nói đến người tín hữu giáo dân ( Laity) là nói đến một thành phần Dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội không thuộc về hàng giáo sĩ (Clergy) hay tu sĩ (Religious) như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã định nghĩa trong Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium. (  LG. no.31). Sự phân  chia ra ba thành phần này không nhằm nói lên phẩm giá của ai cao hơn ai, hay vai trò nào quan trọng hơn vai trò nào mà chỉ muốn nói lên đặc tính hay chức năng của mỗi ơn gọi ( vocation)  mà thôi.Thánh Phaolô đã cắt nghĩa sự khác biệt trong ơn gọi và vai trò  của các thành phần Dân Chúa như sau : “ cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy : tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Chúa Kitô, mỗi người liên đới với người khác như những bộ phận của một thân thể.” ( Rm 12: 4-5).
Nghĩa là giáo sĩ, tu sĩ  hay giáo dân chỉ là những bộ phận khác nhau của cùng một Nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo Hội mà thôi. Khác nhau về chức năngï nhưng đều quan trọng và cần thiết cho sự hoạt động và sống còn của Nhiệm thể.
Khi nói đến chức tư tế là nói đến Chức Linh Mục duy nhất của Chúa Kitô, Vị Thượng Tế theo  phẩm  trật Men-ki-xê-đê ( Dt 5: 10 ) .Nghĩa là chỉ có Chúa Kitô là Thầy Cả hay Linh Mục Thượng Phẩm duy nhất đã dâng Hy Tế ( Sacrifice ) đền tội thay cho nhân loại một lần xưa trên thập giá. Khi đó, Người vừa là Bàn Thờ, vừa là Của Lễ và là Linh Mục.
Chúa Kitô vẫn tiếp tục dâng Hy Tế này cách bí nhiệm (sacramentally) qua tác vụ của Giáo Hội, cụ thể qua thừa tác vụ (Ministerium) của các giáo sĩ có chức thánh như  Giám mục và Linh Mục, là những người nhờ Bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) mà  được phép nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi)  để “làm vịệc này mà nhớ đến Thầy” tức cử hành  Thánh lễ Tạ Ơn (The Eucharist) hàng ngày ở  khắp mọi nơi trong Giáo Hội.
Đây là chức tư tế của hàng giáo sĩ phẩm trật hay thừa tác ( ministerial or hierachial priesthood) xuất phát từ bí tích truyền chức thánh. Ngược lại, chức tư tế chung ( common priesthood) của mọi  Kitôhữu hay giáo dân là chức phát sinh từ bí tích Rửa tội và Thêm sức, chứ không từ bí tích truyền chức thánh. Vì thế, giáo dân không được phép cử hành các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể. Chỉ trừ trường hợp nguy tử, khi không tìm được các thừa tác viên có chức thánh (Giám mục, Linh mục, Phó tế = Ordained Ministers) giáo dân mới được phép cử hành bí tích Rửa tội mà thôi.
Sự khác biệt  giữa hai chức tư tế  của giáo sĩ và giáo dân  được Giáo Hội nói  rõ như sau :
   “Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật , tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn cả về yếu tính ( degree and essence), song cả hai bổ túc cho nhau. Thực vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình. Tư tế thừa tác, nhờ có quyền do chức thánh đào tạo và cai quản dân tộc tư tế, đóng vai trò Chúa Kitô cử hành Hy tế tạ ơn (the Eucharist) và dâng của lễ ấy lên Thiên Chúaq nhân danh toàn thể dân chúng. Phần tín hữu, nhờ chức tư tế vương giả, cộng tác dâng thánh lễ và thi hành chức vụ đó trong việc lãnh nhận các bí tích, khi cầu nguyện và tạ ơn, bằng đời sống chứng tá thánh thiện, bằng sự từ bỏ và bác ái tích cực.” ( x. LG, số 10).
Nói rõ hơn, các tư tế thừa tác hay phẩm trật, cụ thể là các Giám Mục và Linh mục, thay mặt Chúa Kitô là Đầu ( in persona Chirsti Capitis) để giảng dạy và cử hành các bí tích nhất là bí tích Thánh Thể để diễn lại Hy Tế thập giá trên bàn thờ ngày nay, nhờ đó “ Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế ( x. 1 Cor 10,17) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện.” ( Sđd, số 3). Nghĩa là, công cuộc cứu chuộc nhân loại của Chúa Kitô đã hoàn tất một lần xưa qua Hy Tế của Người trên thập giá, được lập lại ngày nay mỗi khi Thánh lễ Tạ Ơn  được cử hành. Và chỉ có Giám Muc hay Linh mục được làm việc này nhờ quyền thánh (sacra potestas) đã lãnh nhận qua bí tích truyền chức mà thôi.
Chức tư tế chung của người tín hữu chỉ cho phép mọi giáo hữu được hiệp thông với các tư tế thừa tác trong việc dâng đời sống của mình với mọi vui buồn, sướng khổ để kết hợp với Hy tế của Chúa Kitô dâng lên Thiên Chúa để xin ơn cứu chuộc cho mình và cho người khác trong Thánh lễ.
Ngoài ra, chức tư tế và ngôn sứ của người tín hữu cũng đòi hỏi mọi giáo hữu sống nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người đời để góp phần mở mang Nước của Chúa Kitô là “ Nước của của chân lý và sự sống, của ân sủng và thánh thiện, của công lý, tình yêu và hòa bình.” (Sđd, số 36). Đây chính là địa vị vương giả mà người tín hữu được chia sẻ với Chúa Kitô nhờ Phép Rửa.
Tóm lại, chức tư tế của người tín hữu hay giáo dân hoàn toàn khác với chức tư tế của hàng giáo sĩ thừa tác ( Giám mục, Linh mục) như đã nói ở trên.Tuy nhiên sự khác biệt này không có nghĩa là ai cao trọng hơn ai, mà chỉ nói lên sự khác nhau về chức năng (competence) để chu toàn các nhiệm vụ theo ơn gọi riêng của mỗi bậc sống mà thôi.
Điều quan trọng là mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội, -giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân -  tất cả đều được mời gọi để nên thánh và có trách nhiệm loan báo Tin Mừng Cứu  Độ của Chúa Kitô cho mọi người, mọi dân tộc trên toàn thế giới . Vai trò khác nhau chỉ nói lên bổn phận khác nhau phải chu toàn mà thôi. “ Vậy đừng ai dựa vào phàm nhân  mà tự hào, vì tất cả đều thuộc về anh em mà anh  em thuộc về Chúa Kitô và Chúa Kitô thuộc về Thiên Chúa.” ( 1 Cor 3: 21,23).

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn